Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
304
NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN
TIẾNG ANH THƯƠNG MẠI NĂM II: NHU CẦU VÀ KHUYẾN NGHỊ
IMPROVING COMMUNICATIVE SKILLS FOR
THE SECOND-YEAR STUDENTS OF BUSINESS ENGLISH:
STUDENTS‟ COMMUNICATIVE NEEDS AND PROPOSALS
SVTH: Nguyễn Thị Hoàng Báu
Lớp: 08CNATM03, khoa Tiếng Anh Chuyên Ngành, Trường Đại học Ngoại ngữ
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Châu Hà
Khoa tiếng Anh chuyên ngành, Trường Đại học Ngoại ngữ
TÓM TẮT
Nhu cầu giao tiếp của sinh viên ngoại ngữ nói chung và sinh viên Tiếng Anh Thương Mại
(TATM) tại trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Đà Nẵng nói riêng là rất lớn.Trong khi đó các hoạt
động dạy và học ở trường lại chưa đáp ứng đủ các điều kiện giúp sinh viên TATM phát triển
những kỹ năng cần thiết chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai. Do đó, bài nghiên cứu này sẽ tập
trung vào việc phản ánh nhu cầu giao tiếp thực tế của sinh viên TATM khoa Tiếng Anh Chuyên
Ngành, đề ra phương thức để tổ chức những hoạt động nâng cao năng lực giao tiếp hiệu quả
bằng hoạt động ngoại khoá, đồng thời nêu lên những kiến nghị nhằm tạo điều kiện cho sinh viên
TATM có một môi trường học tâp ngoại ngữ tốt hơn tại trường Đại học Ngoại Ngữ, Đà Nẵng.
ABTRACT
It is widely recognized that learners’ communication needs are in great demand especially
to students of business English (SBE) at the department of ESP, College of Foreign Languages,
the University of Da Nang. However, teaching and learning activities within language classes are
not satisfactory enough to help SBE develop their necessary language skills for their future job in
the international business world. The aim of this paper is to focus on the analysis of students’
communicative needs, from that some extracurricular communicative activities are suggested to
provide more real communicative opportunities for SBE and help them have more chance to
acquire the language better with their own learning strategies outside classroom. Moreover, some
2. Nội dung
2.1. Khái niệm phân tích nhu cầu người học và vai trò của việc phân tích nhu cầu
người học trong việc học TATM - Tiếng Anh Chuyên Ngành.
2.1.1. Khái niệm:
Phân tích nhu cầu người học có được hiểu là quy trình thu thập và xử lý thông tin
về nhu cầu người học hay theo Brown (1995:35) là những hoạt động liên quan đến việc thu
thập thông tin phục vụ cho việc phát triển chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu học một
nhóm người cụ thể. Về căn bản, phân tích nhu cầu liên quan đến việc tìm hiểu xem người
học đã biết gì và cần cái gì.
2.1.2. Vai trò
Theo tác giả Trịnh Thị Nha Trang (2006) thì một chương trình Tiếng Anh chuyên
Ngành phải được thiết kế dựa trên những đặc điểm riêng biệt của từng nhóm người học,
được tìm hiểu thông qua nhu cầu người học, phân tích nhu cầu người học là khởi đầu để
thiết kế chương trình Tiếng Anh Chuyên Ngành. Theo Richard (2001:53) mục đích phân
tích nhu cầu người học là giúp quyết định xem khoá học hiện có, có thực sự thoả mãn nhu
cầu người học hay không, phát hiện những vấn đề cụ thể mà người học đang phải đối mặt
và điều chỉnh sao cho phù hợp với nhu cầu người học.
2.2. Một số quan điểm về việc dạy kỹ năng giao tiếp và hoạt động giao tiếp.
Có nhiều quan điểm trong việc dạy học theo đường hướng giao tiếp
(Commnunicative Language Teaching). Trong đó vai trò của người học được khẳng định
rõ ràng. Theo Littlewood (1981) vai trò của người học không những tiếp nhận ngôn ngữ
mà còn chủ động tích cực trong việc học ngôn ngữ. Chính vì vậy, tổ chức những hoạt
ngoại khoá thực sự cần thiết trong việc giảng dạy ngôn ngữ thành công. Thực vậy, theo
Harmer (1983) thì communication outputs ám chỉ đến những hoạt động mà người học sử
dụng ngôn ngữ làm một phương tiện giao tiếp và mục đích chính của người học là hoàn
thành những bài tập giao tiếp được đề ra. Harmer chỉ ra những hoạt động giao tiếp cụ thể:
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
306
Những tình huống giao tiếp cụ thể; Roleplay; Làm việc theo nhóm; Questionaires; Bài viết
phản hồi từ sinh viên và nhân xét của giáo viên về hoạt động được tổ chức.
còn lại được yêu cầu chuẩn bị câu hỏi cho người hướng dẫn viên.
3. Face to face conversation : Toàn thể sinh viên được chia ra thành từng nhóm 2 người
tản ra trong phố cổ để gặp gỡ nói chuyện và giao lưu với người nước ngoài. Đó là cơ hội
được giao lưu trực tiếp với du khách nước ngoài đến từ các quốc gia khác nhau đặc biệt
những du khách đến từ quốc gia sử dụng ngôn ngữ mục tiêu. Trước cuộc hành trình mỗi
sinh viên được phát cho những chủ đề nên nói và không nên nói trong cuộc hội thoại với
những du khách cũng như những bí quyết giúp thành công trong giao tiếp với họ
4. Reflective journals: Hoạt động cuối cùng sau khi đi thực nghiệm, sinh viên được yêu
cầu viết về cảm nghĩ bản thân cũng như những khó khăn thách thức mà họ gặp phải trong
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
307
quá trình giao tiếp, đồng thời đưa ra những kiến nghị cũng như mong đợi của họ cho
những hoạt động về sau.
5. Questionaire #2: Được phát sau chuyến đi để đánh giá về hiệu quả của các hoạt động
ngoại khóa đối với việc nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên TATM, trường ĐHNN,
ĐHĐN.
3. Kết quả và phân tích
Tổng số sinh viên tham gia: 20 sinh viên - lớp 08CNATM03 trường Đại Học Ngoại
Ngữ -TP Đà Nẵng.
3.1. Nhu cầu chung của sinh viên Tiếng Anh Chuyên Ngành
Từ kết quả có được từ bảng Questionaire#1 ta thấy có đến 73% sinh viên đồng ý
rằng khó khăn lớn nhất mà họ gặp phải trong quá trình học giao tiếp là thiếu kỹ năng giao
tiếp.Bên cạnh đó, 61.5% đồng ý rằng những hoạt động giảng dạy ở trường không cung cấp
nhiều những kỹ năng ngôn ngữ cần thiết và hữu ích cho nghề nghiệp tương lai của họ. Có
đến 97.5% số lượng sinh viên thừa nhận ít tham gia những hoạt động giao tiếp thực tế bên
ngoài lớp học. Trong khi đó có đến 84% số lượng sinh viên có mong muốn trở thành
những người sử dụng ngôn ngữ thành thạo trong môi trường làm việc. Qua đó ta có thể
thấy rằng nhu cầu muốn hoàn thiện năng lực giao tiếp của sinh viên là rất lớn nhưng môi
trường học tại trường là chưa đáp ứng đủ.
3.2. Hoạt động ngoại khoá và những chuyến đi thực nghiệm trong việc học giao tiếp
viên du lịch giúp họ tự tin hơn khi nói và khả năng phản xạ tăng lên khi đối mặt với những
câu hỏi bất ngờ từ du khách của mình, thông qua các hoạt động đó thì kỹ năng làm việc
nhóm và cặp (teamwork and pairwork) của họ cũng được nâng cao, các bạn đã biết cách
phối hợp với nhau như thế nào để đạt được mục tiêu chung. Trên hết, thông qua hoạt động
đối thoại trực tiếp với du khách, khả năng tương tác với người nước ngoài bằng ngoại ngữ
của các sinh viên được cải thiện đáng kể, các bạn vận dụng một cách thành công cách thức
giải quyết những vấn đề nảy sinh trong giao tiếp như việc cố gắng giải thích cho đối tác
hiểu được những ý tưởng của mình có thể bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (body
language). Mỗi hoạt động đều đem đến cho các bạn những trải nghiệm thú vị.
Tuy nhiên, thiếu chiến lược giao tiếp trong một số trường hợp chuyên biệt vẫn là
trở ngại lớn nhất đối với họ trong quá trình giao tiếp với đối tác. Ví dụ trong quá trình
tương tác, các bạn đã gặp một số trường hợp hiểu lầm về mặt ý tưởng (communication
breakdowns), đa số sinh viên thường tỏ ra lúng túng, một số bạn chỉ cười, số khác lắc đầu,
có một vài bạn cố gắng giải thích nhưng không thành công. Hay một số trường hợp mặc dù
ngôn ngữ được yêu cầu là tiếng Anh nhưng các bạn lại sử dụng tiếng Việt để làm rõ ý
mình. Những trở ngại trên đây cho thấy người học cần phải được trang bị thêm những
chiến lược để chỉnh sửa hiểu lầm trong giao tiếp (negotiations of meaning) và cần được rèn
luyện nhiều hơn trong quá trình đào tạo tại trường. Qua đó ta có thể nhận thấy rằng những
hoạt động ngoại khóa đóng vai trò quan trọng trong việc dạy giao tiếp đối với sinh viên
TATM .
4. Khuyến nghị
4.1. Về phía sinh viên
- Tích cực tham gia các hoạt động ngoại khoá để nâng cao năng lực giao tiếp, ví dụ tích
cực tham gia những chuyến đi thực nghiệm do trường lớp tổ chức, các hoạt động xã hội
nếu có cơ hội.
- Không ngừng chủ động tìm kiếm cơ hội để rèn luyện bản thân như luôn chủ động tham
gia các câu lạc bộ liên quan đến ngành học hoặc giao lưu với người nước ngoài để có cơ
hội thực hành vốn kiến thức mình đã học tại trường, hay là chủ động trong việc tìm gặp
giáo viên khi cần đến sự hướng dẫn để nâng cao năng lực bản thân, không ngừng ngại trao
đổi xin góp ý của giáo viên để hoàn thiện khả năng của mình.
[1] Brown, D.J. (1995) The element of language curriculum. Heinle & Heinle Publishers.
[2] Harmer, J.(1983), The practice of English language teaching. New York: Longman.
[3] Littlewood, W. (1983) Communicative Language Teaching: An Introduction.
Cambrige University Press.
[4] Richards, J.C. (2001) Curriculum development in language teaching. OUP.
[5] Savignon, Sandra J. (ed.) (2002) Interpreting Communicative Language Teaching:
Contexts and concerns in teacher education. New Haven: Yale University Press.
[6] Trịnh Thị Nha Trang (2006), Phân tích nhu cầu người học trong thiết kế chương trình
tiếng Anh Chuyên Ngành. Tạp chí khoa học ngoại ngữ- Trường Đại Học Ngoại Ngữ
Hà Nội, số 9.
[7] 14
thang 10/2006, 10:53 GMT+7).