TIỂU LUẬN
Hoạt động địa chất của biển
và hiện tượng sạt lở bờ biển ở Việt Nam.
Tiểu luận: Hoạt động địa chất của biển
và hiện tượng sạt lở bờ biển ở Việt Nam.
I. Mở đầu:
Với đường bờ biển dài 3260 km từ bắc vào nam, Việt Nam đang đứng trước
nguy cơ phải đối diện với hiện tượng bờ biển đang bị xói lở với cường độ
mạnh, mực nước biển ngày một dâng cao hơn khiến cho hiện tượng nước
biển xâm thực diễn ra rất mạnh gây ảnh hương đến diện tích nông nghiệp và
đời sống của người dân.
- Sạt lở đất thường xảy ra tại các thung lũng và triền sông, dọc các bờ
biển bị xói lở. Trong quá trình sạt lở, có sự đan xen giữa hiện tượng dịch
chuyển trượt, hiện tượng sụp đổ. Hiện tượng sạt lở thường được báo trước
bằng các vết nứt sụt ăn sâu vào đất liền và kéo dài theo bờ sông, bờ biển
(Hình 33). Diễn biến phá hoại của sạt lở nhanh và đột ngột. Sạt lở bờ thường
có xu hướng tái diễn nhiều năm, phạm vi ảnh hưởng rộng, đe doạ phá hỏng
cả cụm dân cư, đặc biệt là các cụm dân cư kinh tế lâu năm ở các vùng đồng
bằng, ven biển. II. Các hoạt động địa chất của biển.
- Địa chất của sóng
Là hình thức dao động của sóng theo chiều thẳng đứng nhưng người ta
cảm giác là nước chuyển động theo chiều ngang từ ngoài xô vào bờ. Nguyên
nhân chủ yếu là do độngđất, gió, núi lửa nhưng chủ yếu vẫn là gió.
Thủy triều:
Là hiện tượng nước biển lên xuống theo chu kì và biên độ nhất
định.Hiện tượng này có những đặc điểm của một dao động sóng.
Nguyên nhân: chủ yếu là do lực hút của Mặt trăng,Mặt trời lên trái
đất theo lực vạn vật hấp dẫn của Newton.
vùng sạ lở nghiêm trọng, đó là:
Thừa Thiên-Huế: từ cửa Thuận An đến Hòa Duân, xói sạt tăng quy
mô về phía tây bắc và đông nam của khu vực này.
Quảng Ngãi: xói sạt lở trọng điểm Sa Huỳnh tiếp tục tăng quy mô về
phía tây nam.
Phú Yên: xói sạt bờ biển tiếp tục tăng quy mô tai Phú Hạnh, Phú Sơn,
Phú Quý, Phú Hiệp, An Nhơn, thị xã Tuy Hòa. Riêng khu vực trọng
điểm Xuân Hải, sạt lở sẽ dịch chuyển mở rộng về phía đông nam với
cường độ tăng dần thêm 11,5%, 18% và 29% vào năm
2020,2050,2100.
3. Bờ biển miền Nam
Cà mau là vùng xảy ra thường xuyên và chụi ảnh hưởng nhiều nhất
cả nước.
Theo thống kê mỗi năm, sạt lở đã làm Cà Mau mất đi khoảng 900 ha,
trong đó hơn 120 ha là đất ven biển, còn lại là đất ven sông.
Trước đây, rừng phòng hộ ven biển và ngoài đê biển Tây nơi có chiều rộng
nhỏ nhất trên 500 m, nay bị sạt lở còn khoảng 30-80 m. Đặc biệt, tình trạng
sạt lở đê biển Tây đoạn từ cống Lung Ranh đến Hương Mai dài trên 2.200 m
không còn rừng phòng hộ. Sóng biển xoáy sâu vào thân đê, có nơi thân đê
chỉ còn 2-3 m, chiều cao của đê từ 2,5 m sụp lún còn 1,8 m và đang có nguy
cơ vỡ đê, đe dọa đến đời sống và sản xuất của hàng chục ngàn hộ dân.
Theo số liệu nghiên cứu về sạt lở đất ven biển và nước biển dâng qua 21
năm, từ 1990 đến nay, bờ biển, rừng phòng hộ của tỉnh Cà Mau có nơi bị sạt
lở hàng chục mét/năm, biên độ lên xuống đỉnh và chân triều cường năm sau
luôn cao hơn năm trước gần 20 mm. Theo kịch bản biến đổi khí hậu nước
biển dâng cao 10 m, Cà Mau sẽ là 1 trong 10 tỉnh đứng đầu bị thiệt hại với
diện tích bị ngập khoảng 4.600 km2, chiếm khoảng 85,4% diện tích tự nhiên
của tỉnh, ảnh hưởng đến đời sống 2/3 dân số.(theo GS-TSKH Nguyễn Ngọc
Trân, chuyên gia cao cấp Hội đồng chính sách khoa học công nghệ quốc
gia, thành viên Ban chỉ đạo quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL, nguyên
IV. Nguyên nhân.
- Do tự nhiên: do biến đổi khí hậu, nền đất yếu, sóng biển, gió, thủy triều,
dòng chảy sông - biển, nhưng chủ yếu do rừng phòng hộ bảo vệ bờ biển bị
chặt phá, không còn khả năng chống chọi, bảo vệ tuyến đê.
- Do con người: Các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế.
1. Do tự nhiên:
Sự nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính đã làm mực nước đại dương
tăng lên do nước bị dãn nở, do tan băng ở hai địa cực và tan băng hà núi cao.
Sau đây là dự báo về mực nước biển dâng cao trong tương lai vào các thời
điểm khác nhau ( so với mực biển 1985).
- Viện Hàn Lâm Khao học Hoa Kỳ ( NAS), năm 2085 dâng thêm 70
cm.
- Hoffman và nhiều người khác (1986), năm 2100: 57 – 368 cm.
Sự dâng cao mực nước biển do thay đổi khí hậu trên thế giới, ở từng vùng
ven biển đặc biệt là dải đất thấp ven biển, chúng sẽ bị ngập chìm. Bên cạnh
đó, theo tính toán được chỉ cần mực nước biển dâng cao 0.6m sẽ gây ra tốc
độ xói lở biển cát 0.5m/năm và cứ dâng cao 20cm sẽ xói lở mất phần bãi
biển rộng 20-30 cm.
Sóng biển là tác nhân quan trọng trong quá trình xâm thực của biển và
đại dương, là một trong những yếu tố hình thành các dạng địa hình của biển.
Tốc độ phá hủy của sóng phụ thuộc vào: cường độ của sóng, độ dốc của bờ
biển và của đáy biển, các đặc điểm về thế nằm, độ cứng, kiến trúc và cấu tạo
của đất đá ở bờ biển.Sóng biển phá hủy bờ biển là nhờ cường độ của sóng
khi xô vào bờ.
- Cấu tạo của bờ biển.
• Bờ biển và đáy biển dốc là nguyên nhân làm cho quá trình xâm
thực diễn ra nhanh hơn. Đáy biển dốc thường gây ra sóng vỡ
kiểu quăng nước với động năng lớn, sức phá hủy của nó lớn.
Nếu gặp các bờ biển dốc, khi sóng đập vào bờ gây nên hiện
tượng hàm ếch (hang chân sóng). Hàm ếch ngày càng ăn sâu =>
sự kế tiếp nhau những nơi cao và những nơi thấp hoặc xen những lạch
trũng, đường chia nước. Trong điều kiện như vậy có sự tái phân bố
theo chiều ngang các hợp chất di động lấy từ đất, hoặc các vật chất
mịn.
Bào mòn theo chiều dọc, đất cát xốp nên độ thấm nước cao vì thế xảy
ra sự ngấm xuống theo chiều sâu phẫu diện.
- Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp triển khai
thực hiện nhiều dự án công trình thủy lợi làm tăng thêm rất lớn lưu lượng
nước trên sông, rạch và thuỷ triều lên, xuống chênh lệch khá cao; Các
phương tiện giao thông thủy chạy với công suất lớn (cao tốc) tạo nên sóng
lớn.
- Việc nạo vét và khai thác cát không hợp lý góp phần làm xói lở các
bờ biển. Quan trắc tại Thừa Thiên - Huế cho thấy mực nước biển tại đây đã
dâng cao hơn 50 cm, khiến xói lở thêm trầm trọng.
IV. Hậu quả
Hậu quả mà sạt lở bờ biển đem lại không chỉ là về kinh tế mà còn gây ra cho
con người. Tùy vào mức độ sạt lở để kéo theo hậu quả của nó.
Mất diện tích bờ biển.
Ví dụ như: Việc biển khoét sâu vào bờ đã ảnh hưởng đến 100 hộ dân sinh
sống tại khu vực này đồng thời có nguy cơ mở của biển mới thông vào phá
Tam Giang. Vì tại vị trí này chiều rộng của dải đất tính từ biển đến đầm phá
chỉ còn lại vỏn vẹn khoảng 70m. Trên toàn tỉnh có hơn 8km đường bờ biển
bị sạt lở. Riêng đường bờ sông đã sạt lở trên 70km chủ yếu dọc theo sông
Bồ, sông Hương, sông Truồi, sông Ô Lâu. Đặc biệt là đường bờ thuộc hệ
thống sông Hương đã sạt lở nặng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh
quan và di tích văn hóa lịch sử như các lăng vua chúa, đền thờ, miếu mạo,
chùa cổ
Hay ở Thừa Thiên Huế:
Chịu ảnh hưởng của gió bão số 4, bờ biển tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bị sạt lở
kéo dài hàng chục km, trong đó nghiêm trọng nhất là bờ bắc cửa biển Thuận
năm 2009 đến nay, Thừa Thiên - Huế đã đầu tư trên 40 tỉ đồng để tổ chức tái
định cư cho gần 900 hộ ở vùng sạt lở. Tuy nhiên, vẫn còn gần 1.000 hộ ở
vùng sạt lở chưa được di dời, tái định cư để ổn định cuộc sống.
Các thôn An Lộc, Tân Thành, Hải Thành, Thương Gián thuộc xã Quảng
Công, huyện Quảng Điền đã bị biển xâm thực mạnh. Ở đây có hơn 280 hộ
dân sinh sống và mới chỉ có 58 hộ được di dời đến nơi ở mới. Ông Dương
Tào, thôn 3, xã Quảng Công cho biết: "Hàng năm, đến mùa mưa bão, biển
xâm thực sâu vào đất liền từ 4 m đến 5 m. Gia đình cũng muốn di chuyển
đến nơi khác cho an toàn nhưng không có đủ tiền, mặc dù đã được Nhà nước
hỗ trợ một phần kinh phí." Ảnh hưởng đến con người đây là thiệt hại lớn nhất.
Ví dụ như:
Sau cơn bão số 4, tỉnh TT-Huế đã có 2 người chết vì chèo ghe mưu sinh trên
sông trong trời mưa to gió lớn. Có 3 người bị thương do giằng chống nhà
phòng chống bão và bị ngã; hiện điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế.
Vào tháng 11/1999, tại tỉnh TT-Huế xảy ra một trận lụt lịch sử thuộc dạng
lớn nhất nước với 375 người chết, mất tích, tổng thiệt hại hơn 1.800 tỷ đồng,
bằng tổng thu nhập bình quân của tỉnh trong 7 năm liền với dân số 1 triệu
người. Lượng mưa lớn liên tục trong hơn 7 ngày đêm, có ngày cao nhất lên
đến 2.300mm - cao nhất trong chuỗi số liệu mưa tại Việt Nam hơn 100 năm
qua. Nước lũ đã cuốn trôi làng Hòa Duân tại thị trấn Thuận An (huyện Phú
Vang) và mở 1 cửa biển mới ở đó.
Mất rừng phòng hộ:
Chịu ảnh hưởng của gió bão số 4, bờ biển tỉnh Thừa Thiên - Huế rừng phi
lao phòng hộ chắn gió, chắn cát đã bị nước biển nuốt chửng 1/3 diện tích.
Tại các thôn Hải Tiến, Hải Bình (thị trấn Thuận An), nước biển tràn sâu vào
đất liền có nơi từ 20 đến 25 m, chiều dài hàng trăm mét. Nhiều diện tích đất
trồng trọt bị sóng biển “nuốt” trọn chỉ trong một đêm. Nhiều cây dương hơn
đoạn cừ ly tâm này đã tạo ra một bãi đất phù sa trù phú, những cây
mắm lấn biển đầu tiên đã xuất hiện.
Khu vực điểm nóng sạt lở mũi Cà Mau đã được bảo vệ bằng kè ly tâm chắn
sóng tạo bãi. Ảnh: TRẦN VŨ
• Trồng rừng ngập mặn:
Rừng ngập mặn không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh
dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh
vật cửa sông ven biển, đồng thời là nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển.
Tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với môi trường sinh thái đã được các
nhà khoa học khẳng định từ lâu. Đặc biệt trong tương lai, rừng ngập mặn
còn là cứu cánh của con người trong việc ứng phó với sự biến đổi khí hậu,
khi mực nước biển dâng cao. So với các tỉnh miền Tây Nam bộ, diện tích
rừng ngập mặn của Quảng Ngãi không nhiều nhưng nó có một vai trò quan
trọng đối việc bảo vệ môi trường ven biển. Mặc dù vậy, nhưng lâu nay rừng
ngập mặn lại ít được quan tâm khôi phục, bảo vệ và phát triển.
Theo quy luật tự nhiên, thực vật ngập mặn phát triển ở nơi giao nhau giữa
sông và biển, nơi thường xuyên có sự biến đổi mực nước, độ mặn cũng như
môi trường theo thay đổi của thủy triều. Do đó, động thực vật ở đây đa dạng,
phong phú, vừa sống được dưới nước, vừa sống được trên cạn, lại thích nghi
với môi trường nước lợ. Nhiều loài cá đều trải qua một phần thời gian sinh
trưởng trong vòng đời của mình ở rừng ngập mặn. Những loài giáp xác như
tôm, cua sinh ra ở biển khơi, ấu trùng của chúng được dòng chảy trong đại
dương đưa chúng vào rừng ngập mặn, nơi đây chúng sinh trưởng đến lúc
sinh sản chúng lại di cư trở lại ở vùng nước sâu để đẻ. Nhiều loài chim đến
rừng ngập mặn theo mùa để kiếm ăn hoặc trú ẩn và có thể hình thành các
đàn lớn. Mất đi rừng ngập mặn cũng đồng nghĩa với việc mất đi nguồn sống
của bà con ngư dân đánh bắt hải sản ven bờ.
Bên cạnh các giá trị về đa dạng sinh học, rừng ngập mặn còn đóng vai trò
quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, hạn chế bão lũ, triều cường. Rừng
ngập mặn có khả năng hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm. Hệ rễ
Đề án “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển, giai đoạn 2008-
2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu thiết lập hệ
thống rừng ngập mặn để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường một cách
ổn định. Trong giai đoạn đầu, sẽ trồng và nâng cao chất lượng rừng với diện
tích trên 32.800 ha, trồng thêm hơn 97.500 ha, nâng tổng diện tích rừng ngập
mặn cả nước lên trên 307.200 ha vào năm 2015.
Tại Hội nghị quốc gia “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn Việt Nam
nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu” tổ chức tại TP Hồ Chí
Mịnh vào tháng 11/2008, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phát biểu:
“Với bờ biển dài và những đồng bằng dài có nhiều sông ngòi, Việt Nam là
một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu”.
Hơn 1/3 dân số và khoảng 16% diện tích đất sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước
biển dâng cao. Hàng trăm loài động thực vật sẽ bị đe doạ tuyệt chủng bởi sự
suy giảm các dải san hô ngầm hay sự thu hẹp các khu rừng ngập mặn.
Mới đây (ngày 30/11/2010), trong cuộc họp liên quan đến dự án Phục hồi và
phát triển rừng ngập mặn ven biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn
2011-2015, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trương Ngọc Nhi đã giao Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp cùng các huyện ven biển và
huyện đảo Lý Sơn khẩn trương rà soát diện tích có khả năng phục hồi và
phát triển rừng ngập mặn hiện có để lập dự án triển khai thực hiện, với diện
tích ít nhất từ 500-600 ha.
Việc khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ở Quảng Ngãi là vấn đề hết sức
cấp thiết và bảo vệ môi trường ven biển bền vững. Tuy nhiên, việc khôi phục
và trồng lại những khu rừng ngập mặn là vô cùng khó khăn, tốn kém. Nhưng
với quyết tâm cao, những khó khăn trở ngại từ nhận thức của người dân đến
công tác chỉ đạo, triển khai, tuyên truyền, vận động trồng và bảo vệ rừng sẽ
được tháo gỡ và dự án sẽ phát huy tác dụng nhiều mặt, đặc biệt là phòng
ngừa thảm họa thiên tai.
Ngoài ra, còn rất nhiều dự án được áp dung để chống sạt lở ven biển.
Dự án trồng rừng ngập mặn chống xói lở do Tổ chức Phát triển quốc