TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
HÓA VÔ CƠ
TÊN ĐỀ TÀI: NHÔM LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ỨNG DỤNG CỦA NHÔM
Người thực hiện: Võ Văn Hường
MSSV:09161341
Lớp: 21046003
GVHD : TS Đặng Kim Triết
TP.Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 1 năm 2010
1
Mục lục
Lời nói đầu…………………………………………………… … 2
A . Phần mở đầu…………………………………………… 4
B . Phần nội dung………………………………………………… 4
Chương 0……………………………………………………… … 4
Chương 1……………………………………………………… … 6
Chương 2………………………………………………………….…7
Trọng lượng nhẹ…………………………………… 7
Bền………………………………………………… 8
Tỉ lệ giữa trọng lượng và độ bền cao……………… 8
Chống mài mòn…………………………………… 8
Tính dẫn nhiệt cao………………………………… 8
Không có tính từ…………………………………… 9
Độ đàn hồi………………………………………… 9
Độ phản chiếu……………………………………… 9
Độ chống cháy……………………………………… 9
Thích hợp nơi có khí hậu lạnh…………………… 9
Tái sinh…………………………………………… 9
Bề ngoài đẹp……………………………………… 10
Dể định hình……………………………………… 10
LỜI NÓI ĐẦU
''Hoá vô cơ là một nghành khoa học nghiên cứu các thuộc tính và các
phản ứng hóa học của các nguyên tố và hợp chất. Môn học hóa vô cơ thuộc
khối kiến thức cơ sở nền tảng cho các chuyên nghành thuộc nghành công
nghệ hóa học,công nghệ dầu khí,môi trường thực phẩm,vật liệu,xây dựng''…
Tiểu luận môn hóa vô cơ là điều kiện bắt buộc đối với tất cả sinh viên khoa
hóa trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh khi tham gia học phần
hóa vô cơ theo chương trình chuẩn của trường.
3
Kết cấu của tiểu luận gồm 3 phần: phần mở đầu,phần nội dung,phần kết
luận và điểm khác biệt mới của tiểu luận là phần cuối có 5 câu hỏi trắc
nghiệm do mỗi sinh viên tự nghĩ ra viết về nguyên tố hóa học hoặc đề tài mình
chọn.
Mỗi tiểu luận thể hiện sự năng động,sáng tạo của mỗi sinh viên vì thể tiểu
luận là cả một quá trình tìm tòi nguyên cứu của sinh viên nên tiểu luận của tôi
cũng vậy vì thế đây cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các bạn đọc
khác.Nhưng trong thời gian ngắn biên soạn nên chắc chắn không tránh phần
sai sót mong bạn đọc đặc biệt giáo viên hướng dẫn tôi thực hiện tiểu luận này
là thầy Đặng Kim Triết đóng góp ý kiến giúp đở tôi để tiểu luận sau hoàn
thành tốt hơn.
Mọi ý kiến đóng góp gữi về [email protected].
Xin chân thành cảm ơn!
TP.Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 1 năm 2010
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Tất cả các nước trên thế giới đều vận động đưa đất nước mình phát triển
lên một tầm cao mới,trong sự vận động đó không thể tách rời sự phát triển
của hóa học nói chung và môn hóa vô cơ nói riêng. Để ngày càng nâng cao
chất lượng cuộc sống,con người ta không ngừng việc nghiên cứu khoa học kĩ
thuật nhằm tạo ra các sản phẩm khoa học mới phục vụ có ích cho xã hội như:
làm thế nào để sử dụng nguồn năng lượng sạch,chế tạo chất bán dẩn,vật liệu
Chương 8: Trạng thái tự nhiên và phương pháp điều chế
Chương 9: Bài tập trắc nghiêm về nhôm
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍNH CHẤT NHÓM IIIA
Nhôm thuộc nhóm IIIA trong bảng hệ thống tuần hoàn hóa học
Mendeleev. Phân nhóm IIIA gồm các nguyên tố:Bo (B), nhôm (Al), gali (Ga),
indi (In) và Tali (Tl).
Các nguyên tố nhóm IIIA trong bảng tuần hoàn hóa học mndeleev nằm sát
bên phải các kim loại chuyển tiếp.Nhóm IIIA có nhiều đặc điểm hóa học khác
với nhóm IIA và IA.Các nguyên tố này có nhiều đặc điểm khác nhau:B thể hiện
tính phi kim ở điều kiện thường,câc nguyên tố còn lại thể hiện tính kim loại
ngoài ra Al còn thể hiện tính lưỡng tính khi ở điều kiện thích hợp.
Đặc điểm của các nguyên tố nhóm IIIA
Nguyên
tử
Số thứ tự
nguyên tử Cấu hình electron
Năng lượng ion hóa Thế
điện
cực E
0
,V
I
1
I
2
I
3
I
4
B
81
[Ar]3d
10
4s
2
4p
1
[Kr]4d
10
5s
2
5p
1
[Xe]4f
14
5d
10
6s
2
6p
1
6,00
5,80
6,10
2
20,4
3
18,7
9
20,3
rằng mọi tài sản vàng,bạc của ông sẻ mất giá trị nếu người dân sản xuất kim
loại màu sáng này từ đất sét.Vì thế, thay vì cảm ơn người thợ vàng,ông ra
lệnh chặt đầu ông ta.''
Những người Hi Lạp và La Mã Cổ đại đã sử dụng các loại muối của kim
loại này như thuốc cẩn màu (nhuộm) và như chất là se vết thương,và phèn
7
chua vẫn dùng như chất làm se. Năm 1761 Guyton de Morveau đề xuất gọi
gốc của phèn chua là alumina. Năm 1808, Humphry Davy xác định được gốc
kim loại phèn chua (alum),vì vậy mà dựa theo đó ông đặt tên cho nhôm là
aluminium.
Tên tuổi của Friedrich Wohler nói chung được gắn liền với việc phân lập
nhôm vào năm 1827. Tuy nhiên, kim loại này đã được sản xuất lần đầu tiên
trong dạng không nguyên chất hai năm trước bởi nhà vật lý và hóa học Đan
Mạch Hans Christian Orsted .
Nhôm được chọn làm chóp cho đài kỷ niệm Washington vào thời gian khi
một aoxơ (28,35g) có giá trị bằng hai lần ngày lương của người lao động.
Charles Martin Hall nhận được bằng sáng chế (số 400655) năm 1886, về quy
trình điện phân để sản xuất nhôm. Henri Saint-Claire Deville (Pháp) đã hoàn
thiện phương pháp của Wohler (năm 1846) và thể hiện nó trong cuốn sách
năm 1859 với hai cải tiến trong quy trình là thay thế kali thành natri và hai
thay vì một (chlorure)?. Phát minh của quy trình Hall-Heroult năm 1886 đã
làm cho việc sản xuất nhôm từ khoáng chất trở thành không đắt tiền và ngày
nay nó được Sử dụng rộng rải trên thế giới.
Nước Đức trở thành nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới sau khi Adolf
Hitler lên nắm quyền. Tuy nhiên, năm 1942, những nhà máy thủy điện mới
như Grand Coulee Dam đã cho phép Mỹ những thứ mà nước Đức quốc xã
không thể hy vọng cạnh tranh: khả năng sản xuất đủ nhôm để có thể sản xuất
60.000 máy bay chiến đấu trong bốn năm.
Chống mài mòn
Tính chống mài mòn của nhôm tuỳ vào lớp màng nhôm oxide mỏng, cứng
bên ngoài. Lớp màng này có thể dày đến 0.2mili, có thể sơn hay xi để tăng độ
bền. Nhôm không co lại như thép.
9
Tính dẫn nhiệt cao
Nhôm có tính dẫn nhiệt cao thích hợp cho những nơi cần trao đổi nhiệt
như bộ phận làm mát của tủ lạnh và các thành phần của động cơ. Nhôm được
định hình theo hình dạng mong muốn thích hợp cho những bộ phận cần dẫn
nhiệt.
Tính dẫn điện cao
Nhôm là kim loại rẻ có tính dẫn điện cao được dùng dẫn điện. Vì nhôm có
độ dày thấp, nó sẽ dẫn điện cao gấp hai lần đồng. Những hợp kim nhôm khác
nhau có tính dẫn điện khác nhau và được dùng cho các thiết bị điện đặc biệt
như dây dẫn điện .
Không có từ tính
Nhôm không có từ tính nên được dùng cho các thiết bị có điện áp cao như
tấm chắn thiết bị điện.
Độ đàn hồi
Nhôm dễ định hình và tạo thành hình dạng khác. Nhôm có độ bền và độ
dẻo có thể được uốn lại nếu như bị móp méo. Có nhiều cách tạo hình nhôm,
chủ yếu là định hình, uốn, ép, kéo .
Độ phản chiếu
Nhôm đánh bóng có độ phản chiếu cao. Do độ phản chiếu cao (trên 80%)
nên nhôm được dùng làm chụp đèn. Nó còn được dùng làm tấm che nắng,
chắn sóng radio, tia tử ngoại .
Chống cháy
Nhôm không cháy thậm chí ở nhiệt độ cao cũng không sinh ra khí độc .
Thích hợp nơi có khí hậu lạnh
Nhôm được dùng cho mục đích đông lạnh. Độ bền của nhôm tăng khi ở
giá nhôm ở Lodon Metal Exchange (LME). LME báo giá nhôm tinh khiết hàng
ngày (chính xác 99.7%); giá được công bố định kỳ trên các tạp chí (như Wall
Street Jounal) bằng dollar/tấn. Để đổi giá của LME sang pound ta chia cho
11
2,204.6. Giá được công bố hàng ngày trên American Metal Exchange và hàng
tuần trên Platt’s Metals Week. Giá cả đã từng biến động rất mạnh ở LME, và
nay họ có biện pháp để hạn chế thấp nhất biến động này .
Ở châu Á có thể cộng thêm phí môi giới và phí vận chuyển vào giá nhôm thỏi.
Nhôm tái sinh
Nhôm là một trong những nguyên liệu được tái sinh thành công nhất.
Nhôm vụn có giá trị cao, được chấp nhận rộng rãi và rất có ý nghĩa trong
ngành công nghiệp.
Nhôm có thể được tái sinh và sử dụng nhiều lần mà không làm mất đi các
đặc tính cũng như chất lượng được đảm bảo. Việc tái sinh nhôm cần ít năng
lượng và chi phí thấp. Trong quá trình sản xuất sẽ sản sinh ra các vụn nhôm.
Chúng được đưa trở lại lò nấu thành nguyên liệu thô. Cứ bốn cân quặng cho
ra một cân nhôm, mỗi cân nhôm tái sinh tiết kiệm được bốn cân quặng.
CHƯƠNG 4 : TÍNH CHẤT
I . ĐƠN CHẤT:
1. Tính chất vật lí:
Trạng thái vật chất: rắn Nóng chảy: 933,47 K(1.220,58
0
F)
Điểm sôi: 2.792 K (4.566 °F) Trạng thái trật tự từ:thuận từ
Thể tích phân tử: 10 x10
-6
m³/mol Nhiệt bay hơi: 293,4 kJ/mol
Nhiệt nóng chảy: 10,79 kJ/mol Áp suất hơi: 100.000 Pa tại 2.792 K
Vận tốc âm thanh: 5.100 m/s tại 933 K Độ âm điện: 1,61 (thang Pauling)
Nhiệt dung riêng: 897 J/(kg·K) Độ dẫn điện: 3,774x10
nhiệt,bởi vậy người ta thường dùng nhôm chứ không dùng bạc để mạ lên
gương dùng trong kính viển vọng phản chiếu.Nhôm được dùng làm trong ống
dẩn dầu thô,bể chứa và thùng xitec như là một vật liệu ách nhiệt đảm bảo cho
dầu hay chất lỏng khác đựng trong bể và thùng không bị đốt nóng bởi bức xạ
mặt trời.
Nhôm có khả năng tạo nên hợp kim với nhiều nguyên tố khác.Những hợp
kim quan trọng nhất của nhôm là đuyara,silumin và macnhali.Những hợp
kim đó ngoài ưu điểm là nhẹ còn có tính chất cơ lí tốt hơn nhôm.đuyara chứa
94%Al, 4%Cu, 2%Mg, Mn, Fe và Si,cứng và bền như thép mềm,được dùng chủ
yếu trong công nghiệp oto và máy bay.Silumin chứa 85%Al,10-14%Si và 0,1%
Na,rất bền và rất dể đúc,được dùng để sản xuất động cơ máy bay,động cơ tàu
thủy.Gần đây người ta thiết kế oto điện bằng nhôm thay cho thép vừa tiêu tốn
ít điện vừa chở nhiều hành khách.
2. Tính chất hóa học:
13
Khác với Bo nhôm là kim loại hoạt động vì có bán kính nguyên tử lớn hơn
hẳn Bo.Tuy nhiên ở điều kiện thường , bề mặt của nhôm bao bọc bởi màng
oxit rất mỏng và bền làm cho nhôm kém hoạt động, ví dụ như ở thực tế không
bị gỉ ở không khí, bền đối với nước…
Dây nhôm hay lá nhôm dày không cháy khi đốt mạnh mà nóng chảy trong
màng oxit tạo thành những túi,bên trong là nhôm lỏng bên ngoài là oxit.Lá
nhôm rất mỏng hoặc bột nhôm khi được đốt cháy phát ra ánh sang chói và tỏi
ra nhiều nhiệt: 4Al + 3O
2
= 2Al
2
O
3
∆H
O
3
∆H
0
= -820kJ
Cho nên: 2Al + Cr
2
O
3
= Al
2
O
3
+ 2Cr ∆H
0
= -535kJ
2Al + Fe
2
O
3
= Al
2
O
3
+ 2Fe ∆H
0
= -856kJ
Trên thực tế người ta dùng bột nhôm để điều chế kim loại khó bị khử và
khó nóng chảy như Cr, Fe, Mn, Ni, Ti, Zc, V.
Phương pháp dùng cho nhôm khử oxit kim loại gọi là phương pháp nhiệt
+
+ 6H
2
O = 2 Al[(H
2
O)
6
]
3+
+ 3H
2
Trong axit nitrit đặc nguội,nhôm không những không tan mà còn bị thụ
động hóa,nghĩa là sau khi tiếp xúc với axit nitrit đặc,nhôm sẻ không tan trong
dung dịch axit clohidrit và dung dịch sun furit nữa.Trên thực tế người ra dùng
nhôm dựng axit nitrit đặc nguội.Nhôn tan trong dung dịch kiềm giải phóng
hidro.
2Al + 2OH
-
+ 6H
2
O = 2 [ Al(OH)
4
]
-
+ 3H
2
II. HỢP CHẤT:
1) Nhôm hidrua:
Nhôm hidrua là hợp chất polime (AlH
3
với trimetylamin [N(CH
3
)
3
]
,
thu được
(AlH
3
)
n
N(CH
3
)
3
.chưng cất hổn hợp này ở 100-135
0
C,người ta tách được
(AlH
3
)
n
15
Gần đây nhôm hidrua được điều chế bằng tương tác của AlCl
3
với dung dịch
Li(AlH
4
) trong ete : AlCl
3
hoặc muối nhôm hay được tạo nên trong phản ứng nhiệt nhôm.No cũng tồn
tại trong thiên nhiên dưới dạng khoáng vật corunđum chứa trên 90% oxit.Vì
thường chứa tạp chất nên corunđun có màu trắng đục hoặc bẩn.corunđun
nóng chảy ở 2072
0
C,sôi ở 3500
0
C và rất cứng,chỉ thua kim cương,bonitru
corunđun .
Nhờ có độ cứng cao corunđum dùng làm đá mài và bột mài kim loại.
Độ bền cơ học và độ bền hoạt động của nhôm oxit tất nhiên có lien quan
đến mạng lưới của mạng lưới lớp oxit.
Đá quý xaphia màu lam là corunđum tinh khiết chứa những vết Fe
2+
,Fe
3+
và Ti
4+
,đá quý rubi màu đỏ là corunđun tinh khiết chứa các vết Cr
3+
.Rất gần ở
đây ở nước ta đả phát hiện ,ỏ rubi ở Tân Hưng (Yên Bái) và Quỳ Hợp (Nghệ
An).
Ngày nay những đá quý này có thể điều chế nhân tạo bằng cách nấu chảy
Al
2
O
3
với một lượng nhỏ oxit của kim loại tạo màu ở trong ngọn lửa hidro –
oxi hoặc hồ quang rồi cho kết tinh thành những đơn tinh thể lớn .Những đá
+ 3K
2
SO
4
Spinen là khoáng vật chứa Mg và Al,trước kia coi là nhôm aluminat
(MgAl
2
O
4
).Ngày nay phương pháp nghiên cứu kiến trúc bằng tia Rơghen chỉ
cho thấy trong tinh thể spinen không có những nhóm AlO
4
hay AlO
3
mà gồm
những O
2-
gói ghém xít sao kiểu lập phương giống như Al
2
O
3
-γ, trong đó ion
Al
3+
chiếm những lổ trống bát diện và ion Mg
2+
chiếm những lổ trống tứ
diện.Như vậy spinen là một oxit hỗn hợp MgO.Al
2
O
.nH
2
O (n>3).Tuy nhiên do thói quen và thuận tiện người ta biểu
diễn thành phần kết tủa nhày của nhôm hidro bằng công thức Al(OH)
3
.
17
Al(OH)
3
tạo nên khi cho khí CO
2
tác dụng với dung dịch natri aluminat.Tinh
thể đó cũng tồn tại trong thiên nhiên ở dạng khoáng vật hidratgilit.Hidratgilit
gồm những tinh thể đơn tà và có cấu trúc lớp.
Hidratgilit bền ở nhiệt độ 155
0
C,nó có trong thành phần của nhiều loại
boxit.Ngoài ra trong boxit có hai khoáng vật nữa có thành phần AlOOH và có
tinh thể tà phương là:đisapo AlOOH-γ bền ở khoãng 280-400
0
C (phân hũy
thành Al
2
O
3
–α ở 420
0
C) và boxit AlOOH – γ bền ở khoãng 155-280
0
C (phân
(H
2
O)
2
]
-
Ion [Al(OH)
4
(H
2
O)
2
] thường viết gọn là [Al(OH)
4
]
-
có thể kết hợp thêm
ion OH
-
tạo
thành [Al(OH)
5
]
2-
và [Al(OH)
6
]
3-
.Tất cả những ion này được gọi
3
và AlCl
3
.Các hợp chất halogenua khác nhau nhiều về cấu tạo và tính chất
a) Nhôm florua: là chất có màu trắng,nóng chảy ở 1290
0
C.Mạng lưới tinh
thể rất bền vững ,gồm các ion F
-
và các ion Al
3+
gói ghém gần như sít sao.Rất
18
trơ về mặt hóa học,nó không tan trong nước,axit và bazơ.Nó dễ dàng kết hợp
với florua kim loại tạo thành các floroaluminat có công thức chung M[AlF
4
],
M
2
[AlF
6
] (m là kim loại kiềm).Trong các floaluminat quan trọng đối với thực
tế là criolt Na
3
[AlF
6
],được dùng vào việc điều chế nhôm.
Nhồm florua có thể điều chế bằng cách cho nhôm hay nhôm oxit tác dụng
với HF ở nhiệt độ cao: 2Al + 6HF = 2AlF
3
0
C. Phân tử AlCl
3
có dạng phẳng hình tam giác .
Nhôm clorua ở trạng thái rắn dẩn điện tốt hơn trạng thái nóng chảy,vì ở
trạng thái rắn có cấu tạo ion còn ở trạng thái nóng chảy chuyển sang trạng
thái hợp chất phân tử.
Nhôm clorua khan bốc khói mạnh trong không khí vì nó hút ẩm mạnh rồi
bị thủy phân giải phóng HCl: AlCl
3
+ 2H
2
O = Al (OH)
2
Cl + 2HCl
Bởi vậy cần để muối khan trong lọ kín.Nó dể dàng tan trong nước và
nhiều dung môi hữu cơ.Khi bỏ nhôm clorua khan vào nước ta nghe tiếng xèo
xèo giống như khi nhúng sắt đỏ vào nước ,ở đây phản ứng phát ra nhiều
nhiệt.Dung dịch nước của nó cũng như của muối nhôm khác có phản ứng
axit và bị thủy phân.Những nất thủy phân của ion Al
3+
ở trong nước được coi
như là sự phân li proton của phân tử nước ở trong ion phức aqua.
Trong thực tế người ta chuẩn độ muối nhôm bằng NaOH với chỉ thị metyl
19
da cam.
c) Nhôm clorua hidrat: có thành phần AlCl
6
.6H
2
và một số hợp chất
hữu cơ.Vì vậy nó dùng rộng rải làm chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ.Dưới
tác dụng của khí oxi khô, muối khan bị phân hủy giải phóng Cl
2
ở nhiệt độ
420
0
C. 2Al
2
Cl
6
+ 3O
2
= 2Al
2
O
3
+ 6Cl
2
Ở 1000
0
C, nó tương tác với nhôm kim loại tạo thành muối của nhôm có số
oxi hóa thấp hơn: Al
2
Cl
6
+ 4Al = 6AlCl
Nhôm clorua khan có thể điều chế bằng cách cho khí clo tương tác với bột
nhôm ở 500-550
0
.18H
2
O.Đây là những
tinh thể đơn tà, trong suốt dể tan trong nước, ít tan trong rượu.Khi sấy ở
trong chân không ở 50
0
C, nó mất nước chuyển thành hidrat Al
2
(SO
4
)
3.
16H
2
O
và khi đun nóng 340
0
C nó mất nước hoàn toàn và biến thành muối khan.
Nhôm sunfat có thể kết hợp với sunfat kim loại kiềm tạo thành muối kép
20
M
2
Al
2
(SO
4
)
4
.24H
2
thành nhôm hidroxit.
Nhôm sunfat dùng cho công nghiệp giấy cần phải tinh khiết không được
chứa sắt nên được sản xuất bằng cách cho nhôm hidroxit tinh khiết tác dụng
với axit sunfurit đặc nóng. Nhôm sunfat không tinh khiết có thể điều chế
bằng cách cho đất sắt đã nung trước hoặc boxit tác dụng trực tiếp axit
sunfurit đặc nóng.
Phèn nhôm –kali được điều chế bằng cách kết từ hỗn hợp dung dịch nhôm
sunfat và kali sunfat có cùng nồng độ.
CHƯƠNG 5 :ĐỒNG VỊ CỦA NHÔM
Nhôm có chín đồng vị, số Z của chúng từ 23 đến 30. Chỉ có Al-27 (đồng vị
ổn định) và Al-26 (đồng vị phóng xạ, t1/2 = 7,2 × 105 năm) tìm thấy trong tự
nhiên, tuy nhiên Al-27 có sự phổ biến trong tự nhiên là 100%. Al-26 được sản
xuất từ agon trong khí quyển do va chạm sinh ra bởi các tia vũ trụ proton.
Các đồng vị của nhôm có ứng dụng thực tế trong việc tính tuổi của trầm tích
21
dưới biển, các vết mangan, nước đóng băng, thạch anh trong đá lộ thiên, và
các thiên thạch. Tỷ lệ của Al-26 trên beryli-10 được sử dụng để nghiên cứu vai
trò của việc chuyển hóa, lắng đọng, lưu trữ trầm tích , thời gian cháy và sự xói
mòn trong thang độ thời gian 105 đến 106 năm (về sai số).Al-26 nguồn gốc vũ
trụ đầu tiên được sử dụng để nghiên cứu Mặt Trăng và các thiên thạch. Các
thành phần của thiên thạch, sau khi thoát khỏi nguồn gốc của chúng, trong
khi chu du trong không gian bị tấn công bởi các tia vũ trụ, sinh ra các nguyên
tử Al-26. Sau khi rơi xuống Trái Đất, tấm chắn khí quyển đã bảo vệ cho các
phần tử này không sinh ra thêm Al-26, và sự phân rã của nó có thể sử dụng để
xác định tuổi trên trái đất của các thiên thạch này. Các nghiên cứu về thiên
thạch cho thấy Al-26 là tương đối phổ biến trong thời gian hình thành hệ
hành tinh của chúng ta. Có thể là năng lượng được giải phóng bởi sự phân rã
Al-26 có liên quan đến sự nấu chảy lại và sự sai biệt của một số tiểu hành tinh
sau khi chúng hình thành cách đây 4,6 tỷ năm. Trong tạp chí Science ngày 14
tháng 1 năm 2005 đã thông báo rằng các cụm 13 nguyên tử nhôm (Al13)
dụng.)
Các hàng tiêu dùng có độ bền cao (trang thiết bị, đồ nấu bếp, v.v)
Các đường dây tải điện (mặc dù độ dẫn điện của nó chỉ bằng 60% của đồng,
nó nhẹ hơn nếu tính theo khối lượng và rẻ tiền hơn) chế tạo máy móc.
Mặc dù tự bản thân nó là không nhiễm từ, nhôm được sử dụng trong thép
MKM và các nam châm Alnico. Nhôm siêu tinh khiết (SPA) chứa 99,980%-
99,999% nhôm được sử dụng trong công nghiệp điện tử và sản xuất đĩa CD.
Nhôm dạng bột thông thường được sử dụng để tạo màu bạc trong sơn. Các
bông nhôm có thể cho thêm vào trong sơn lót, chủ yếu là trong xử lý gỗ — khi
khô đi, các bông nhôm sẽ tạo ra một lớp kháng nước rất tốt.Nhôm dương cực
23
hóa là ổn định hơn đối với sự ôxi hóa, và nó được sử dụng trong các lĩnh vực
khác nhau của xây dựng. Phần lớn các bộ tản nhiệt cho CPU của các máy tính
hiện đại được sản xuất từ nhôm vì nó dễ dàng trong sản xuất và độ dẫn nhiệt
cao.
Ôxít nhôm, alumina, được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng corunđum,
emery, ruby và saphia và được sử dụng trong sản xuất thủy tinh. Ruby và
saphia tổng hợp được sử dụng trong các ống tia laser để sản xuất ánh sáng có
khả năng giao thoa.
Sự ôxi hóa nhôm tỏa ra nhiều nhiệt, nó sử dụng để làm nguyên liệu rắn cho
tên lửa, nhiệt nhôm và các thành phần của pháo.
CHƯƠNG 7 : NHỮNG LƯU Ý KHI SỬ DỤNG NHÔM
Nhôm là một trong ít các nguyên tố phổ biến nhất mà không có chức năng
có ích nào cho các cơ thể sống, nhưng có một số người bị dị ứng với nó , họ bị
các chứng viêm da do tiếp xúc với các dạng khác nhau của nhôm: các vết
ngứa do sử dụng các chất làm se da hay hút mồ hôi (phấn rôm), các rối loạn
tiêu hóa và giảm hay mất khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn
nấu trong các nồi nhôm, nôn mửa hay các triệu chứng khác của ngộ độc
nhôm do ăn (uống) các sản phẩm như Kaopectate (thuốc chống ỉa chảy),
2
O.2H
2
O.3Al
2
O
3
.6SiO
2
) …Một sản phẩm rất phỏ biến trong phân hủy các
nham thạch tạo nên bởi alumosilicat là cao lanh gồm chủ yếu khoáng sắt
caolinit (Al
2
O
3
.SiO
2
.2H
2
O) .Hai khoáng vật quan trọng đối với công nghiệp của
nhôm là boxit (Al
2
O
3
.xH
2
O) và crolic [Na
3
(AlF
6
25