1
z Đề Tài
Giới Thiệu Tổ chức thương mại thế giới WTO
2.3.2 Các giải pháp
Chương 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách thức.
3.1 Sự cần thiêt của việc gia nhập WTO
3
3.2 Những thuận lợi và thách thức đến tiến trình gia nhập WTO
của Việt Nam
3.3 Các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO của
Việt Nam
Kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT:
AoA : Agreement on Agricultural - Hiệp định Nông nghiệp
ATC : Agreement on Texitiles and Clothing of the WTO - Hiệp định hàng
dệt may.
GATS : General Agreement on Trade in Services - Hiệp định chung về
thương mại và dịch vụ .
GATT : General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại .
GDP : gross domestic product - Tổng thu nhập quốc dân .
IMF :International Monetery Fund - Quỹ tiền tệ Quốc tế.
ITO : International Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới.
MFA :Multifibre Arrangement - Hiệp định đa sợi .
MFN : most-favored nation - Đối xử tối huệ quốc .
NT : Nation Treatment -Đãi ngộ quốc gia .
Chương 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách
thức.
Với những kiến thức đã được trang bị trong 4 năm qua tại Khoa Kinh tế Đại
học Quốc Gia-Hà Nội, cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Khu
Thị Tuyết Mai, em đã hoàn thành được bài khoá luận này. Tuy nhiên, do tính
phức tạp của vấn đề nghiên cứu và do trình độ có hạn của người viết khoá luận
này không tránh được nhiều thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của
6
các thầy cô giáo để bài khoá luận này được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành
cảm ơn.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
WTO
1.1 Sự ra đời của WTO.
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT - Tổ chức tiền thân
của WTO.
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (General agreements on
Tariff & Trade) là tổ chức tiền thân của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, GATT được ra đời trong trào lưu hình
thành hàng loạt các cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động kinh tế quốc tế nhằm
khôi phục lại sự phát triển kinh tế thương mại thế giới.
Ý tưởng ban đầu của các nước là thành lập một tổ chức thứ ba cùng với hai tổ
chức được biết đến là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quĩ tiền tệ Quốc tế
(IMF) nhằm giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế quốc tế trong hệ thống "Bretton
Woods", hình thành các nguyên tắc thế lệ cho thương mại quốc tế, điều tiết các
lĩnh vực về thương mại hàng hoá, công ăn việc làm, hạn chế và khắc phục tình
trạng hạn chế, ràng buộc thương mại phát triển. Vì vậy kế hoạch đầy đủ được trên
50 nước lúc đó dự định là thiết lập tổ chức thương mại thế giới (ITO) như là một
tổ chức chuyên ngành của Liên hợp quốc (UN). Dự thảo hiến chương ITO rất
tham vọng, dự thảo này đã tiến xa hơn các nguyên tắc về thương mại gồm các lĩnh
8
Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT
Năm Địa điểm Chủ đề đàm phán Số
nước
1947 Geneva Thuế quan 23
1949 Annecy Thuế quan 13
1951 Torquay Thuế quan 38
1956 Geneva Thuế quan 26
1960 - 1961 Geneva (vòng Dillon) Thuế quan 26
1964 - 1967 Geneva (vòng Kenedy) Thuế quan và các biện pháp
chống bán phá giá
62
1973 - 1979 Geneva ( Vòng Tokyo) Thuế quan và các biện pháp
phi thuế, các hiệp định khung.
102
1986 - 1994 Geneva (vòng Uruguay) Thuế quan và các biện pháp
Phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí
Tuệ, giải quyết tranh chấp,
Nông nghiệp,WTO
123
Trong các vòng đàm phán thương mại đầu tiên của GATT chủ yếu tập trung
vào việc cắt giảm thuế quan hơn nữa. Đến vòng Kenedy, nội dung của các vòng
đàm phán đã được mở rộng: đưa ra đàm phàn về hiệp định chống bán phá giá, số
nước tham gia là 62 nước. Tiếp theo là vòng đàm phán Tokyo, kéo dài từ năm
1973 đến năm 1979 với sự tham gia của 102 nước. Kết quả vòng đàm phán này
bao gồm 9 thị trường công nghiệp hàng đầu trên thế giới cắt giảm trung bình 1/3
thực hiện. Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện
nay vẫn mang tính nhiều bên. Vào năm 1997, hai hiệp định về thịt bò và sữa đã
được huỷ bỏ.
Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT hoạt động mang tính tạm thời và
có phạm vi hoạt động hạn chế. Tuy nhiên, GATT đã đem lại những thành công rất
lớn trong việc đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại quốc tế. Chỉ tính đến việc
cắt giảm thuế quan đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trung bình của thương mại thế
giới lên mức trung bình trong suốt thập niên 50-60.
10
Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của thương
mại luôn luôn vượt qua tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn
tại. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều nước đệ đơn tham gia xin gia nhập đã cho thấy
hệ thống thương mại đa biên đã được công nhận như một công cụ để phục vụ công
cuộc phát triển kinh tế, thương mại của cả thế giới nói chung và của từng quốc gia
nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đã xuất hiện những vấn đề mới
nảy sinh. Vòng Tokyo đã cố gắng giải quyết một số vấn đề đó nhưng kết quả
mang lại còn khá hạn chế.
GATT đã phải đối mặt với những khó khăn rất lớn.
Thứ nhất, thành công của GATT trong việc cắt giảm thuế quan xuống mức thấp
cộng với tác động của suy thoái kinh tế trong suốt thập niên 70 và 80 đã dẫn đến
việc chính phủ các nước đã tiến hành điều chỉnh các hình thức bảo hộ đối với các
lĩnh vực đang phải cạnh tranh với nước ngoài nhằm có thể giữ được ổn định cho
nền kinh tế của họ.
Tỷ lệ thất nghiệp cao cộng với việc phải đóng cửa liên tục nhiều nhà máy đã
buộc chính phủ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phải đi đến thoả thuận song phương
về chia sẻ thị trường với các nhà cạnh tranh và ngày càng tăng dần mức độ trợ cấp
nhằm duy trì được vị trí của mình, nhất là trong thương maị hàng nông sản. Những
Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có
những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Những
nỗ lực đó đã dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và
việc tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời.
1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO.
1.1.2.1 Vòng đàm phán Uruguay.
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các
lĩnh vực thương mại. Vòng này kéo dài 7 năm rưỡi, gần bằng 2 lần thời gian dự
định ban đầu. Đến cuối vòng đàm phán số nước tham dự đă lên tới 125 nước; đây
thực sự là vòng đàm phán thương mại lớn nhất từ trước tới nay và có lẽ đây cũng
là cuộc đàm phán thuộc loại lớn nhất trong lịch sử.
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu.
Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trưởng.
12
Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành.
Tháng 12/90 Brussels: bế mạc hội nghị bộ trưởng trong bế tắc.
Tháng 12/91 Genneva: Dự thảo đầu tiên của "Hiệp định cuối cùng" được hoàn
thành.
Tháng 11/92 Washington: Mỹ và EC đạt được mức bột phá mang tên "Blair
House" trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tháng 7/93 Tokyo: Nhóm Quad đạt được bước đột phá về mở cửa thị trường tại
hội nghị thượng đỉnh G7
Tháng 12/93 Geneva: Phần lớn các cuộc đàm phán kết thúc (một số cuộc thương
thảo về mở cửa thị trường được tiếp tục).
Tháng 4/94 Marrakesh: Các hiệp định được ký.
Tháng 1/95 Geneva: WTO được thành lập và các hiệp định bắt đầu có hiệu lực.
Mặc dù tại một số thời điểm, vòng đàm phán có vẻ như thất bại, nhưng cuối
thuật đáng kể đã được thực hiện và dẫn đến kết quả là có một dự thảo hiệp định
pháp lý cuối cùng, dự thảo này được gọi là “Dự thảo luật cuối cùng”. Dự thảo này
được đệ trình tại Geneva vào năm 1991. Dự thảo đã hoàn tất được tất cả các mục
tiêu đề ra tại Punta del Este, ngoại trừ danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở
cửa thị trường dịch vụ của các nước. Dự thảo này đã trở thành cơ sở để có được sự
thống nhất cuối cùng.
Trong vòng hai năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã đứng giữa hai ngả, một bên
là thất bại cận kề, một bên là thành công với tới được. Một vài thời hạn cuối cùng
được đưa ra và bị vượt quá. Tại vòng đàm phán đã nảy sinh những bất đồng quan
điểm bên cạnh vấn đề nông nghiệp ; đó là dịch vụ, mở cửa thị trường, các qui tắc
chống bán phá giá và đề xuất về việc thành lập một tổ chức thương mại mới. Tại
đây, bất đồng quan điểm của Mỹ và EU chính là nguyên nhân quan trọng nhất
khiến cho vòng đàm phán chưa thể kết thúc thành công được.
Tháng 11 năm 1992, Mỹ và EU đã thống nhất được phần lớn sự khác biệt
trong lĩnh vực nông nghiệp, cả hai đã đưa ra được một thỏa thuận mang tên “Thỏa
thuận Blair House”. Đến tháng 7 năm 1993, nhóm Quad ( Mỹ, EU, Nhật, Canada )
tuyên bố đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong đàm phán thuế quan và các
vấn đề liên quan đến mở cửa thị trường. Đến 15 tháng 12 năm 1993 thì tất cả mọi
vấn đề đều được giải quyết và đàm phán về mở cửa thị trường cho hàng hóa và
14
dịch vụ được kết thúc. Ngày 15/4/1994, thỏa thuận đã được bộ trưởng của phần
lớn 125 nước tham gia hội nghị ký kết tại Marrakesh, Marốc.
Cuối cùng, vào tháng 1/1995 hội nghị bộ trưởng tại Geneva đã thống nhất
thành lập một tổ chức thương mại mới, tổ chức thương mại thế giới - World Trade
Organization - viết tắt là WTO chính thức được thành lập ; các hiệp định được kí
kết tại vòng đàm phàn Uruguay bắt đầu có hiệu lực.
Nhìn chung tại một số thời điểm, vòng Uruguay có vẻ như đã thất bại, tuy
nhiên cuối cùng thì vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất, là bước tiến quan
+ Chống phá giá
+ Trợ cấp
+ Tài sản trí tuệ
+ Các biện pháp đầu tư
+ Giải quyết tranh chấp
+ Hệ thống GATT
+ Dịch vụ.
1.2.2. Sự khác nhau giữa WTO và GATT
WTO là một tổ chức thương mại được thành lập trên cơ sở kế thừa GATT.
GATT sau WTO đã được sửa đổi, bổ sung và là một trong những hiệp định của
WTO. Sau đây là những khác biệt chủ chốt :
+ GATT chỉ mang tính chất tạm thời. Hiệp định chung về thương mại và thuế
quan chưa bao giờ được quốc hội các nước phê chuẩn; nó không có qui định nào
về việc thành lập một tổ chức nhất định.
WTO và các hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài. WTO là một tổ
chức quốc tế được thành lập bởi sự nhất trí của các quốc gia thành viên. WTO có
nền tảng pháp lý vững chức bởi vì các nước thành viên đã thông qua các hiệp định
và chính các hiệp định đã mô tả phương thức hoạt động của tổ chức. Các quốc gia
thành viên phải thực hiện đúng theo các qui định, nguyên tắc của WTO và các
hiệp định của nó.
+ GATT chỉ có "các bên tham gia ký kết", điều này cho thấy rõ ràng là GATT
chỉ mang tính chất một hiệp định. WTO có các nước thành viên và WTO là một tổ
chức quốc tế.
+ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT chỉ giải quyết các vấn
đề liên quan đến thương mại hàng hoá. Trong khi đó WTO là tổ chức kế thừa và
16
phát triển GATT, hiệp định GATT tồn tại cùng với các hiệp định khác của WTO
như hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS); hiệp định về quyền sở
lập cho mỗi tranh chấp. Nhóm này sẽ đưa ra các qui định đầu tiên và các thành
viên WTO có thể ủng hộ hay phản đối, các kháng cáo dựa trên luật là có thể chấp
nhận được. Các thành viên WTO đều nhất trí rằng khi mà một nước thành viên
khác đang vi phạm qui tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống thương mại đa biên
để giải quyết tranh chấp thay cho việc thực hiện các hành động đơn phương.
Trước đây GATT có thủ tục để giải quyết tranh chấp nhưng nó chưa đưa ra
được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không giải
quyết được sau một thời gian dài. WTO đã đưa ra một quy trình giải quyết tranh
chấp với thời gian và thủ tục được xác định rõ ràng hơn. Khoảng thời gian để giải
quyết một vụ tranh chấp dài hơn trước kia. Thời hạn cuối cùng cho mỗi giai đoạn
giải quyết tranh chấp rất linh hoạt. Hiệp định nhấn mạnh việc giải quyết nhanh
chóng là cần thiết. Các thủ tục và thời gian biểu phải được tuân theo trong quá
trình giải quyết.
WTO cũng không cho phép các nước thất bại trong vụ tranh chấp ngăn cản
việc thi hành quyết nghị. Theo thủ tục của GATT các quyết định chỉ có thể được
thông qua theo các thoả hiệp. Điều đó có nghĩa là chỉ cần một sự phản đối nào đó
cũng có thể ngăn việc thi hành quyết nghị. Nhưng hiện nay các quyết nghị được
thông qua một cách tự động, trừ khi có một thoả hiệp để từ chối một quyết nghị.
Bất kỳ một nước nào muốn ngăn cản một quyết nghị cũng cần phải thuyết phục
các thành viên khác (kể cả đối thủ) đồng ý với quan điểm của mình.
Tóm lại, hệ thống giải quyết tranh chấp được coi là một trong những thành
tựu lớn nhất của WTO.
1.2 Mục tiêu, chức năng và nguyên tắc hoạt động của WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải quyết
các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung chính của WTO
là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại cùng nhau tham gia
đàm phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở pháp lý làm nền tảng cho
thương mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản mang tính ràng buộc các chính phủ
phải duy trì một chế độ thương mại trong một khuôn khổ đã được các bên thống
Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "hiệp định WTO" và những
hiệp định phụ khác của WTO thì nước đó cần phải điều chỉnh hay chuyển các quy
định pháp luật và các thủ tục hành chính của mình theo các quy định của WTO.
19
Chức năng thứ ba của WTO: Là khả năng giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp
mậu dịch quốc tế. WTO có chức năng như là một toà án giải quyết các tranh chấp
nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan. Bất cứ một thành viên
nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại trong hoạt động
kinh tế ở một thị trường nào đó vì có thành viên khác đang thực hiện chính sách
trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải quyết mâu
thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nước đó ngừng các hoạt động kinh tế xâm
hại đến lợi ích của mình. Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp nhận khi bị các
thành viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những nghĩa vụ của mọi
thành viên, không nước nào có thể tránh khỏi.
Chức năng thứ tư của WTO: Là phát triển nền kinh tế thị trường. Để nền kinh tế
thị trường hoạt động và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ qui
chế. Phần lớn các nước trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập
trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đã và đang làm thủ tục
để xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập WTO, các
nước này có thể tìm hiểu được về hệ thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp
lại những chế độ và qui tắc để có thể quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
1.2.3 Các nguyên tắc của WTO.
Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp đó là vì những văn bản
pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn. Các hiệp định này giải quyết
các vấn đề liên quan đến: nông nghiệp, hàng dệt may, ngân hàng, bưu chính viễn
thông, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn công nghiệp, các qui định về vệ sinh dịch
tễ, sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên có một số các nguyên tắc
hết sức cơ bản và đơn giản xuyên suốt tất cả các hiệp định. Các nguyên tắc đó
và quyền phát minh sáng chế trong nước và của nước ngoài. Đối xử quốc gia chỉ
áp dụng được khi hàng háo dịch vụ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đã vào
đến thị trường. Vì vậy, việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá không vi phạm nguyên
tắc này mặc dù hàng nội địa không chịu thuế tương tự.
Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do thông qua đàm
phán.WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thông qua quá
trình đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng rào thương
mại bao gồm thuế quan, và các biện pháp khác như cấm nhập khẩu, quota có tác
21
dụng hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, đôi khi vấn đề khác như tệ quan liêu, chính
sách ngoại hối cũng được đưa ra đàm phán.
Kể từ khi GATT, sau đó là WTO được thành lập đã tiến hành 8 vòng đàm phán
để giảm thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường. Để thực
hiện nguyên tắc tự do thương mại này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm
phán thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do
hoá thương mại.
Nguyên tắc thứ ba: WTO tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.
WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng
và không bị bóp méo. Các quy định về phân biệt đối xử được xây dựng nhằm đảm
bảo các điều kiện công bằng trong thương mại. Các đều khoản về chống phá giá,
trợ cấp cũng nhằm mục đích tương tự. Tất cả các hiệp định của WTO như Nông
nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đều nhằm mục
đích tạo ra được một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các
nước.
Nguyên tắc thứ tư: Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế. Các cam kết
không tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết như vậy tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong tương lai.
Trong WTO, khi các nước thoả thuận mở cửa thị trường cho các hàng hoá và dịch
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA WTO ĐẾN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
2.1. Những ảnh hưởng của WTO đối với các nước đang phát triển.
2.1.1. Những ảnh hưởng tích cực.
Tổ chức thương mại thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, điều tiết hệ thống
thương mại đa biên, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới
nói chung và đến nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên nói riêng. Đối với các
nước đang phát triển, gia nhập WTO đã mang lại được rất nhiều lợi ích thiết thực
đối với công cuộc phát triển kinh tế của họ. Cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh
tế và đặc biệt là sự ra đời của WTO từ năm 1995, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình
quân của các nước đang phát triển luôn đạt khoảng từ 4% đến 5%. Tỷ trọng kinh
tế của các nước này trong nền kinh tế toàn cầu đã tăng lên nhanh chóng, từ 13%
năm 1995 lên 29% năm 1998 (chỉ 3 năm, sau khi WTO ra đời). Tỷ trọng trong
thương mại thế giới của các nước đang phát triển cũng tăng lên từ 11% đến 32%
trong cùng thời kỳ. Đến năm 2010, theo dự báo, tỷ lệ này có thể lên tới 45%. Đặc
biệt, các nền kinh tế Đông á trong nhiều năm liền có tốc độ tăng trưởng nhanh đã
đạt đến tỷ lệ 7%. Các nước Mỹ La Tinh cũng đạt mức tăng trưởng bình quân cao;
các nước Châu Phi đã dần dần bước ra khỏi tình trạng bi đát về kinh tế. Năm 1999,
Châu Phi đã đạt mức tăng trưởng 3,6% là mức cao nhất từ hơn một thập kỷ qua.
Một số nước đang phát triển có tốc độ phát triển cao đã trở thành một trong những
động lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới. Đây là những con số tổng quan về những
thành công của hoạt động của tổ chức thương mại thế giới đối với các nước đang
phát triển, làm rõ thêm những ảnh hưởng tích cực của WTO đến các mặt của nền
kinh tế:
Thứ nhất, tất cả các hàng hoá và dịch vụ của các nước đang phát triển là thành
viên của WTO đều được đối xử theo các nguyên tắc, quy định của WTO; được đối
xử bình đẳng, không phân biệt đối với hàng hoá và dịch vụ của các nước phát
triển. Các loại hàng hoá và dịch vụ này khi được xuất khẩu sang bất kỳ một thị
trường của một nước thành viên nào kể cả Mỹ hay EU đều được hưởng mọi quyền
lợi mà chính phủ nước đó dành cho hàng hoá và dịch vụ nước mình.
đang phát triển có tầm nhìn tốt hơn, tiếp cận được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của
các nước phát triển, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa cải tiến và chấp
25
nhận các tiêu chuẩn giám sát quốc tế tốt nhất, kiểm soát được rủi ro và thúc đẩy
sản xuất kinh doanh phát triển.
Thứ bẩy, vấn đề di chuyển lao động giữa các nước thành viên đã trở nên dễ
dàng hơn. Di chuyển lao động tự do đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các
nước đang phát triển. Cái lợi của các nước đang phát triển thường xuyên xuất khẩu
lao động là nhận được một khoản thu nhập ngoại tệ không nhỏ từ tiền lương mà
nước sở tại trả cho người lao động. Theo báo cáo của Economic Aspects thì trong
những năm 1990 - 1995 khoản tiền đó lên đến 70 tỷ USD. Xuất khẩu lao động có
vị trí đặc biệt đối với các nước đang phát triển, vừa thay đổi cán cân kinh tế vừa
tăng sức mua của xã hội thúc đẩy thương mại và sản xuất nội địa. Thêm vào đó,
các nước phát triển thường nhập khẩu lao động từ các nước đang phát triển và sau
thời gian làm việc cho các hãng, công ty kinh nghiệm, tay nghề và trình độ của
người lao động được nâng lên, có khả năng tiếp cận với nền công nghiệp tiên tiến,
khi trở về tổ quốc, họ sẽ trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển đất
nước.
2.1.2. Những ảnh hưởng tiêu cực.
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, những lợi ích không nhỏ, nhận được từ
WTO, các nước đang phát triển phải đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực của
nó:
Thứ nhất, trong tổ chức thương mại thế giới, theo các nguyên tắc của nó, mọi
thành viên đều được đối xử như nhau, đều được hưởng mọi đãi ngộ MFN và NT,
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước đều được giảm dần chính
vì vậy, thị trường tiêu thụ được mở rộng, các nước đều tập trung sản xuất theo
định hướng xuất khẩu. Các nước đang phát triển cũng không là ngoại lệ. Các nước
này đều chú trọng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu mà mình có lợi thế so sánh và