Tiểu luận: Thực trạng lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam năm 1986 - 2010 pot - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC

BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG CỦA LẠM PHÁT VÀ HIỆU QUẢ
CHÍNH SÁCH KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 2010
Thành viên nghiên cứu
1. Phan Dương Hùng Vĩ TM04
2. Hà Sỹ Nghị TM04
3. Nguyễn Thị Thanh An TM03
4. Nguyễn Thị Linh Nga TM03
5. Hứa Thị Mi TM03
1
Mục lục
Trang
Chương 1: MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài: 4
2. Mục tiêu nghiên cứu 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 5
4.1. Thu thập số liệu 5
4.2. Phân tích số liệu 5
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT 6
1. Khái niệm 6
1.1. Một số vấn đề về lạm phát: 6
1.2. Thế nào là giảm phát ? 7

3.3. Một số điều đáng chú ý trong năm 2011: 44
2
4. Một số biện pháp góp phần kiềm chế và kiểm soát lạm phát đối với nền kinh tế
Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới: 45
Chương 4: NHẬN XÉT – KIẾN NGHỊ – KẾT LUẬN 47
1. Nhận xét tổng quan về tình hình lạm phát trong giai đoạn vừa qua 1986 – 2010 47
1.1. Tóm tắt về thực trạng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua 47
Năm 2011, dự đoán CPI cuối kỳ khoảng 9%. Mục tiêu này có thể không được
hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.15%. Ngoài ra, nền kinh tế hiện nay
vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong những tháng sắp
tới 48
1.2. Nguyên nhân thực sự gây ra lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn này: 48
Cuối năm 2008, với sự lao dốc của hầu hết các hàng hóa trên thế giới, lạm phát
trong nước cũng được chặn đứng. Lạm phát giảm xuống mức thấp nhất chỉ còn
1.97% vào tháng 8/2009 48
1.3. Hậu quả của lạm phát trong giai đoạn 1986 – 2010: 48
1.4. Hiệu quả của chính sách kiềm chế lạm phát lạm phát 49
2. Một số kiến nghị của Nhóm nhằm góp phần kiềm chế và kiểm soát lạm phát đối
với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới: 50
3. Kết luận: 52
3
Chương 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Có thể nói lạm phát luôn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính
sách kinh tế. Nói đến lạm phát là một vấn đề cũ thì không có gì sai cả,bởi vì từ xưa đến
nay, có rất nhiều nhà kinh tế đã gián tiếp hay trực tiếp đề cập đến nó, trong đó có những
nhà trí tuệ vĩ đại như Các Mác. Fisher, Friedman Song lạm phát lúc nào cũng là vấn
đề mới cả, nó nóng bỏng đến từng ngày, từng giờ,nó thay đổi liên tục, có khi tạm ổn
định, có khi giảm xuống, lại có khi lên cơn sốt một cách đột ngột. Cho nên bàn về lạm
phát trong giai đoạn hiện nay tưởng chừng như quá muộn nhưng lại chưa trễ tí nào bởi

Xuất phát từ yêu cầu thực tế cần thiết và cấp bách đó, cho thấy đề tài “Thực
trạng của lạm phát và hiệu quả của chính sách kiềm chế lạm phát tại Việt Nam
giai đoạn 1986 – 2010” là cần thiết. Với tầm quan trọng và mang tính thời sự nóng
bỏng của vấn đề, chúng em tin rằng đề tài sẽ có giá trị thực tiễn rất cao.
4
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng lạm phát của Việt Nam trong các giai đoạn vừa qua, trên cơ
sở đó đánh giá các biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ, cuối cùng là nhận định
và đưa ra ý kiến của nhóm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ lý do trên, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về các vấn đề sau:
 Thứ nhất, tìm hiểu một số lý luận chung về lạm phát như khái niệm,
nguyên nhân, phân loại, các tác động và các mối quan hệ của lạm phát
 Thứ hai, khái quát lại thực trạng của lạm phát của Việt Nam từ năm
1986 – 2010.
 Thứ ba, trên cơ sở diễn biến tình hình lạm phát đưa ra nguyên nhân ở
từng giai đoạn, các giải pháp kiềm chế, đồng thời, xem xét hiệu quả của
chính sách kiềm chế tác động đến nền kinh tế như thế nào.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng lạm phát và hiệu quả của chính sách
kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1986-2010.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Thu thập số liệu
Tham khảo các tài liệu, đề tài nghiên cứu trước đó,các luận văn của các Thạc sỹ
kinh tế, từ sách báo, đặc biệt là từ Internet… về cơ sở lý luận của lạm phát và thực trạng
lạm phát và hiệu quả của chính sách kiểm soát lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1986 –
2010
4.2. Phân tích số liệu
Đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá về những

 Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân
chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết
(chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách ). Trong khi đó, số lượng hàng
hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua
khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi mức giá chung và được tính theo công thức:

1.1.2. Đo lường lạm phát bằng cách nào ?
Mức giá chung của nền kinh tế được nhìn nhận theo 2 cách. Chúng ta coi mức
giá là giá của một giỏ hàng hóa và dịch vụ. Khi mức giá tăng mọi người phải trả nhiều
tiền hơn cho những hàng hóa dịch vụ mà họ mua. Chúng ta có thể coi mức giá cũng như
là giá trị của tiền. Sự gia tăng mức giá có nghĩa là giá trị của tiền giảm bởi vì mỗi đồng
tiền bỏ ra lúc này mua được ít hàng hóa hơn trước.
6
Mức giá t - 1
Mức giá t – Mức giá t-1
x 100
Tỷ lệ lạm phát (năm t) =
Mức giá chung được tính bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ số điều chỉnh
(GDP). Chỉ số giá bao gồm một số loại như sau:
• Chỉ số giá bán lẻ - CPI – Consumer Price Index
• Chỉ số giá bán buôn – WPI - Wholesale Price Index
• Chỉ số giá sản xuất – PPI – Producer Price Index,
Nhưng thông thường thì người ta dùng chỉ số giá bán lẻ (CPI) để đo lường mức
độ lạm phát. CPI đựơc tính theo công thức:
CPI =
Nếu nền kinh tế năm nay có lạm phát 10%/năm tức là mức giá cả chung trong
nền kinh tế tăng lên 10% so với năm trước đó. Điều đó không có nghĩa là giá cả của tất
cả các hàng hóa đều tăng lên cùng một tỷ lệ là 10%, mà những hàng hóa khác nhau sẽ
có những tỷ lệ tăng khác nhau và thậm chí có mặt hàng giá giảm hoặc giá không đổi.

Mọi người sẵn sàng làm những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền
vì họ tin rằng giá trị và chi phí của họ mua và bán sẽ không chênh lệch quá
xa.Loại lạm phát này được xem là là tích cực và cần thiết vì nó có khả năng
tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế.
 Lạm phát phi mã – Galloping inflation :Là loại lạm phát ở mức hai đến ba
con số ( tỷ lệ tăng giá trên 10% đến <100%), từ 10% 100% 900% một
năm. Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữ
tiền mặt, mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu cần thiết cho việc thanh toán
hằng ngày. Mọi người thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ. Thị trường tài
chính không ổn định ( do vốn chạy ra nước ngoài). Loại lạm phát này tác
động tiêu cực đến nền kinh tế, với những hậu quả cực kỳ khó khăn cho đời
sống kinh tế, xã hội, chính trị trong nước.
 Siêu lạm phát – Hyper inflation : Là loại lạm phát 4 con số, tỳ lệ tăng giá
từ 1000 %/năm trở lên. Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn. Các giao dịch
diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn làm được chức năng trao
đổi. Đây thực sự là một giai đoạn cực kỳ hỗn loạn, bất ổn định kinh tế xã hội
và đời sống nhân dân. Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy
ra tại Đức những năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x
106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ, đạt
cực điểm lên đến 10.000.000.000%, Hungary sau Thế chiến II với tỉ lệ lạm
phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ), Zimbabue,
Colombia….
Về mặt định tính: Lạm phát được chia làm thành nhiều loại khác nhau, tùy theo
tính chất của lạm phát mà người ta chia ra các loại cơ bản sau:
 Lạm phát thuần túy – Pure Inflation : Đây là trường hợp đặc biệt của lạm
phát, hầu như giá cả của mọi loại hàng hóa đều tăng lên cùng một tỷ lệ trong
cùng một đơn vị thời gian.
 Lạm phát cân bằng – Balanced inflation: Là loại lạm phát có mức giá chung
tăng tương ứng với mức tăng thu nhập.
 Lạm phát được dự đoán trước – Predicted inflation: Là lạm phát mà mọi

đó. Trường hợp này xuất hiện có thể là do tổng cầu tăng nhưng tổng
cung không đổi, hoặc tổng cung cũng tăng nhưng tăng không bằng tổng
cầu. Để khắc phục, chính phủ phải thực hiện các biện pháp thắt chặt chi
tiêu, tăng thuế hoặc giảm cung tiền.
Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát do cầu kéo được giải thích bằng mô hình sau:
Hình 1: Lạm phát do cầu kéo
Chúng ta bắt đầu với trạng thái cân bằng ban đầu trong dài hạn, tại đó đường
LAS cắt đường SAS và AD
0
ở mức giá P
0
. Sự gia tăng tổng cầu từ AD
0 đến
AD
1
làm mức
giá tăng từ P
0
lên P
1
và GDP thực tăng từ Y
p
đến Y
1
• Lạm phát do chi phí đẩy – Cost push inflation: Lạm phát loại này xuất hiện
khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lực sản xuất của nền kinh tế
giảm sút.
Chi phí đầu vào tăng có thể do giá các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
tăng giá. Điều kiện khai thác khó khăn hơn đòi hỏi nhiều chi phí hơn; thiên tai,
mất mùa, lụt bão, động đất… làm giảm năng lực sản xuất; khủng hoảng ngành

phát này nảy sinh từ đó.
• Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi
lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp
độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không
thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó
mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên,
dẫn đến lạm phát.
• Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng
cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm
cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát
nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
• Lạm phát do nhập khẩu: Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm
đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập
khẩu đội lên.
• Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng do:
 NHTƯ mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so
với ngoại tệ.
 NHTƯ mua công trái theo yêu cầu của nhà nước
10
Y
*
P
P
P
0
Y
LAS
SAS
1
SAS

hàng, chi phí quảng cáo giá mới và thậm chí cả chi phí giải thích cho khách hàng
tại sao có sự thay đổi giá.Lạm phát làm tăng chi phí thực đơn mà doanh nghiệp
phải chịu. Khi lạm phát cao, chi phí doanh nghiệp tăng rất nhanh do sự thay đổi
giá nhiều lần trong kỳ.
 Sự biến động của giá tương đối và phân bổ sai nguồn lực, các nền kinh tế thị
trường thường dựa vào giá tương đối để phân bổ nguồn lực. Người tiêu dùng
quyết định mua hàng hóa bằng cách so sánh chất lượng và giá cả của hàng hóa
đó và dịch vụ khác nhau. Thông qua những quyết định này, họ quyết định phân
bổ các nhân tố sản xuất khan hiếm cho các nghành và doanh nghiệp. Khi lạm
phát cao thì sự thay đổi tự động trong giá tương đối càng lớn, các quyết định của
khách hàng bị biến dạng và thị trường mất khả năng phân bổ nguồn lực một
cách hiệu quả.
 Những biến dạng của thuế do lạm phát gây ra: các nhà lập pháp thường không
11
tính đến lạm phát khi soạn thảo các luật thuế. Các nhà kinh tế đã nghiên cứu các
luật thuế và kết luận rằng lạm phát có xu hướng làm tăng gánh nặng thuế đánh
vào các khoản thu nhập thu được từ tiết kiệm.
Thuế thu nhập đánh vào lãi suất danh nghĩa thu được từ những khoản tiết kiệm,
mặc dù một phần lãi suất danh nghĩa chỉ đơn thuần là bù lạm phát. Để xem xét lạm
phát, chúng ta chú ý đến ví dụ bằng số sau:
Nền kinh tế 1
(giá ổn định)
Nền kinh tế 2
(lạm phát)
1. Lãi suất thực tế
2. Tỷ lệ lạm phát
3. Lãi suất danh nghĩa (Lãi suất
thực tế + Tỷ lệ lạm phát)
4. Lãi suất giảm do thuế suất
25% (0.25 x Lãi suất danh

chi phí sẽ phức tạp hơn khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, trong chừng mực
nào đó, lạm phát làm cho các nhà đầu tư khó phân biệt giữa các doanh nghiệp
làm ăn kém hiệu quả và do vậy làm cản trở thị trường tài chính trong việc phân
bổ các khoản tiết kiệm của nền kinh tế cho các loại đầu tư khác nhau.
4.1.2. Lạm phát không dự kiến được.
 Thứ nhất, là lạm phát làm thu nhập thực tế của một bộ phận dân cư giảm xuống,
đời sống khó khăn hơn.Như khái niệm thì lạm phát là một thuật ngữ mô tả hiện
tượng mức giá cả chung trong nền kinh tế tăng lên. Ai cũng hiểu khi giá cả trong
12
nền kinh tế tăng lên điều đó có nghĩa là thu nhập thực tế của những người có thu
nhập cố định hay ít thay đổi như quân nhân, cán bộ hưu trí, lương của cán bộ
công nhân viên trong cơ quan hành chính nhà nước giảm xuống. Xét về mặt số
lượng thì hàng tháng họ vẫ nhận được 500 đó thôi, nhưng 500 tháng trước họ
mua được ít hàng hơn tháng này do giá cả của tháng này tăng cao hơn tháng
trước, như vậy là thu nhập thực tế của họ đã giảm xuống.
 Thứ hai, là làm môi trường kinh tế rối ren. Lạm phát quá cao tức là ở mức trên
20%/năm, là nơi tiềm ẩn và chứa đựng các mầm mống có khả năng đe dọa đến
tiến trình phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế mà giá cả
tăng lên liên tục và tăng ở mức cao thì thật là một môi trường kinh tế đầy bát
nháo.
 Thứ ba, là các chính sách về kinh tế xã hội tài chính tiền tệ tín dụng rất khó định
hướng thực hiện, và cũng có thể dẫn đến sự khủng hoảng trong lĩnh vực tài
chính tiền tệ tín dụng thông qua các vấn đề lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa,
cung tiền, vay nợ Ngoài ra,lạm phát xảy ra còn là môi trường tốt để những
hiện tượng tiêu cực trong đời sống phát sinh như đầu cơ, tích trữ gây cung hàng
hóa giả tạo.
 Thứ tư, tác hại đặc biệt của lạm phát không dự kiến là tái phân phối của cải một
cách tùy tiện, lạm phát bất ngờ phân phối lại của cải giữa các thành viên trong
xã hội không theo công lao và nhu cầu của họ. Sự phân phối này xảy ra vì trong
nền kinh tế có rất nhiều khoản vay được tính toán bằng đơn vị tính là tiền. Khi

5. Ai là nạn nhân của lạm phát ?
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần
của nền kinh tế đều bị ảnh hưởng, đều trở thành nạn
nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi
người đều là người tiêu dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần
chịu nhiều thiệt thòi nhất là:
- Người về hưu: Lương hưu là một trong
những “hàng hoá” ổn định nhất về giá cả, thường chỉ
được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá
đã tăng lên gấp nhiều lần.
- Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên
sự mất giá của đồng tiền khiến cho những người tích trữ
tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm đánh mất của cải nhanh nhất.
- Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món
hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp hơn. Vậy ai
là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người sung sướng nhất
chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ gánh hơn.
6. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp.
Hai chỉ báo về tình hình kinh tế được theo dõi chặt chẽ là lạm phát và thất
nghiệp. Hai đại lượng phản ánh tình hình kinh tế này gắn bó vói nhau như thế nào? Bởi
lẽ, như chúng ta đã thấy tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên phụ thuộc vào thuộc tính của thị
trường lao động chẳng hạn như luật tiền lương tối thiểu, sức mạnh thị trường của công
đoàn, vai trò cuả tiền lương và hiệu quả của việc tìm việc làm. Ngược lại,tỷ lệ lạm phát
phụ thuôc trước hết vào sự gia tăng cung tiền,do NHTW kiểm soát. Do đó, trong dài
hạn, lạm phát và thất nghiệp không có mối quan hệ nhiều với nhau. Nhưng trong ngắn
hạn thì ngược lại,các nhà kinh tế học vĩ mô thường cho rằng một trong mười nguyên lý
của nền kinh tế học là: xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất
nghiệp. Nếu các nhà hoạch định chính sách tiền tệ mở rộng tổng cầu và chuyển nền kinh
tế lên phía trên đường tổng cung ngắn hạn, họ có thể tạm thời cắt giảm thất nghiệp,
nhưng cái giá phải trả là lạm phát cao hơn. Nếu các nhà hoạch định chính sách hạn chế

đường Phillips ngắn hạn, dẫn đến thất nghiệp tạm thời cao. Cái giá của việc cắt
giảm lạm phát phụ thuộc vào chổ kỳ vọng về lạm phát giảm xuống nhanh
chóng đến mức nào. Một số nhà kinh tế lập luận rằng cam kết giảm lạmphat1
được mọi người tin tưởng có thể làm giảm tổn thất do chính sách cắt giảm lạm
phát gây ra, bởi vì quá trình điều chỉnh kỳ vọng diễn rnhanh chóng hơn.
7. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến tính,
ở mức lạm phát thấp (thường là 1 con số) thì lạm phát không tác động tiêu cực lên tăng
trưởng, thậm chí ở mức lạm phát thấp gia tăng lạm phát thường gắn gắn liền với tăng
trưởng cao hơn; khi lạm phát đến một ngưỡng cao nhất định thì lạm phát bắt đầu tác
động tiêu cực lên tăng trưởng, ngưỡng này đối với các nước đang phát triển và các nền
kinh tế chuyển đổi là dao động từ 11% - 14%/năm.
8. Một số chính sách tổng quát để kiềm chế lạm phát.
Khi lạm phát đã xãy ra nặng nề và nghiêm trọng thì chính phủ phải tìm mọi cách
để chống lại lạm phát nhằm khôi phục lại sức mua của đồng tiền. Nói như vậy có nghĩa
là việc thực hiện các biện pháp ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát sẽ trở thành một
trong những chính sách lớn trong phát triển kinh tế của các nước.
Ổn định tiền tệ nói chung và kiềm chế lạm phát nói riêng là việc Nhà nước áp
dụng các biện pháp về kinh tế là tổ chức và kỹ thuật để ổn định sức mua của đồng tiền
tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Như vậy việc áp dụng các biện pháp các biện pháp đó có tính chất chiến lược
cùng các biện pháp cấp bách trước mắt như sau:
15
8.1. Những biện pháp cơ bản chiến lược
Đây là biện pháp nhằm tác động toàn bộ lên mọi mặt hoạt động của nềnkinh
tế,với ý tưởng tạo ra sức mạnh về tiềm lực kinh tế của đất nước , một quốc gia có nền
kinh tế phát triển tốt và ổn định thì ở đó đồng tiền ổn định khá vững chắc.Lạm phát ít có
cơ hội để phát triển bộc phát.Những biện pháp cơ bản chiến lược chưa thể phát huy tác
dụng ngay , nhưng nếu không áp dụng những biện pháp đó thì tình trạng lạm phát, tình
trạng rối loạn của lưu thông tiền tệ sẽ xảy ra triền mien không lối thoát. Những biện

 Ngăn chặn sự leo thang của giá cả như thực hiện mậu dịch tự do, nới lỏng
hang rào thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu hang hóa.
16
8.3. Những phương thức chống lạm phát ở các nước phát triển
Việc lựa chọn phương thức chống lạm phát ở các nước khác nhau không hoàn
toàn giống nhau, ngay cả ở cùng một nước, trong những thời kỳ khác nhau người ta
cũng áp dụng những phương thức khác nhau, nhưng nhìn chung,có 2 phương thức cơ
bản sau:
 Thứ nhất ,“Hạn chế tiền tệ” hay kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng.
 Thứ hai, “Nới lỏng tiền tệ” hay lấy lạm phát trị lạm phát.
Chương 3: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ
HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH KIỀM CHẾ
LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 -
2010
Có thể nói rằng lạm phát vừa là một phạm trù kinh tế khách quan, vừa là một
công cụ kinh tế được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế, vì việc phân phối sản
phẩm và thu nhập nói chung đều được thực hiện thông qua tiền tệ nên lạm phát là biện
pháp để phân phối lại sản phẩm và thu nhập trong nền kinh tế. Nói cách khác, lạm phát
sẽ khiến cho diễn biến và quá trình phân phối lại thu nhập sẽ có lợi cho đối tuợng này
và gây thiệt hại cho đối tượng khác trong xã hội. Như vậy, lạm phát mang bản chất kinh
tế xã hội sâu sắc chứ không phải là một hiện tư tự nhiên của nền kinh tế thị trường. Vì
vậy, trong mỗi giai đoạn khác nhau, cách biểu hiện của lạm phát cũng không thật sự
hoàn toàn giống nhau và nguyên nhân và giải pháp mà chính phủ sử dụng để kiềm chế
lạm phát cũng khác nhau.
Thật vậy, câu chuyện lạm phát ở Việt Nam không phải là mới. Đã từng có thời
kỳ tỉ lệ lạm phát lên đến 3 chữ số, sau đó lại giảm đến một con số, rồi tăng trở lại. Dễ
dàng để chúng ta nhận ra rằng trong giai đoạn từ 1986- 2010, đất nước có nhiều bước
chuyển mình vươn lên phát triển, lạm phát cũng theo đó mà diễn biến phức tạp, khó có
thể dự đoán một cách chính xác được, nhưng nhìn lại một cách tổng thể, chúng ta có thể
chia thành ba giai đoạn chính sau:

lượt tăng là: 70%, 95%, 50%, 65% và 92%. Chỉ có điều lúc đó không ai thừa nhận có
lạm phát trong nền kinh tế XHCN, không ai dám đưa vấn đề ra để phân tích, bàn luận
công khai. Không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra trong một thời gian dài cho đến
khi xảy ra cuộc đôi tiền vào năm 1985.
Có lẽ có quan niệm cho rằng đổi tiền sẽ khôi phục lại giá trị đồng bạc Việt Nam
và lạm phát sẽ chấm dứt nên mới có qui định “Sức mua của đồng tiền mới bằng 10 lần
sức mua của đồng tiền cũ” (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985). Nhưng sau đổi
tiền kết quả hầu như không ai mong muốn, tỷ lệ lạm phát năm 1985 tăng đến 92%, năm
1986 lên tới 775%, nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số
kéo dài trong 2 năm tiếp theo.
Đến năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương thực cuối năm giảm 3,5% và đầu
năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi phí đẩy lại
tiếp diễn. .Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng hóa, lương thực, vàng và đô
la càng nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo, giá cả
tăng cao dẫn đến lạm phát cầu kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP
chỉ là 3,78%.
Như vậy, trong giai đoạn này lạm phát xảy ra ban đầu là do chi phí đẩy, sau đó
là do tăng mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí đẩy, tiếp tục sau đó
lạm phát cầu kéo xảy ra.
• Nguyên nhân bên ngoài:
Lạm phát tăng cao đột biến do chi phí đẩy của việc tăng giá từ bên ngoài:
18
Năm 1985, Gorbacher đã nên nắm chính quyền tại Liên xô, cùng với sự sụp đổ
của các nước Đông Âu cũ, Việt Nam bị cắt giảm nguồn viện trợ từ nước ngoài và đến
năm 1991 thì bị cắt hẳn. Do đó, nguyên vật liệu đầu vào như sắt thép, dầu hỏa, máy móc
thiết bị Việt Nam hoàn toàn phải mua với giá cao làm cho chi phí sản xuất tăng nhanh.
Lạm phát chi phí đẩy xảy ra.
1.1.2. Diễn biến và thực trạng của lạm phát giai đoạn 1986 – 1993:
Biểu hiện đầu tiên của lạm phát là đồng tiền mất giá, sau đó là giá cả một số
hàng hóa tăng một cách đột ngột

từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm. Tỉ lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã lập
tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần như cân bằng vào năm 1989 và
thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990.
Các công ty xuất khẩu lẩn tránh việc đưa ngoại tệ vào ngân hàng bằng cách nhập
khẩu hàng hóa quay vòng.
19
Bảng 1: Bảng thể hiện tình trạng nhập siêu của nước ta từ 1986 – 2010
NĂM NHẬP SIÊU
1986 -47,6%
1988 -30%
1989 -0.8%
1990 2.5%
1991 -3.2%
Nguồn: Tổng cục thống kê
Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với
mức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở đi tình hình
mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995. Cụ thể như sau:
Năm 1989-1990, tín dụng bỗng lên cơn sốt một cách đột ngột, nguyên nhân là
do cơ chế rất thoáng trong việc thành lập quỹ tín dụng, hàng loạt quỹ tín dụng ra đời để
huy động vốn, cho vay lòng vòng, sau một thời gian thì đổ bể. Lãi suất tiết kiệm năm
1989 cực kỳ cao, có lúc lên đến hơn 12%/tháng cùng với cơ chế rất thoáng. Lãi suất cho
vay đầu năm 1989 là 10,5%/tháng, cuối năm giảm xuống còn xấp xỉ 4%/tháng và duy
trì ở mức trên dưới 3%/tháng trong các năm từ 1990 đến 1992.
- Tình hình kinh tế xã hội vào lúc đó cũng còn hết sức gay gắt, mặc dù lạm phát
đã giảm mạnh so các năm 1986- 1988. Tỷ giá VND/USD tăng vọt lên trên 13.000
VND/USD trong tháng cuối năm 1991, giảm đột ngột còn 11.000 VND/USD đến năm
1992, sau đó và được neo giữ ở mức thấp trong suốt nhiều năm từ 1992 đến 1996 trong
khoảng từ 10.500 đến 11.000 VND/USD.
- Từ 1993 lạm phát ổn định ở mức 1 con số đều qua các năm, mặc dù lạm phát
đã giảm xuống một chữ số nhưng những tiến bộ vượt bậc đó đã không thể duy trì được

22
1.1.3. Chính sách kiềm chế lạm phát trong giai đoạn này của Chính phủ:
23
Năm
GDP đầu người
theo sức mua
tương đương
(USD)
GDP, tỉ
đồng VN (danh
nghĩa)
GDP, tỉ
đồng VN (đã điều
chỉnh)
Tăng trưởng
GDP
(đã điều chỉnh)
Lạm
phát
1986 731 609.708 108,126.000 3.4% 774,5%
1987 753 2,605.109 110,882.000 2.5% 360.4%
1988 803 11,152.383 116,537.000 5.1% 374.4%
1989 880 28,093.000 125,627.000 7.8% 95.8%
1990 942 41,955.000 131,968.000 5.0% 36.0%
1991 1,013 76,707.000 139,634.000 5.8% 81.8%
1992 1,107 110,532.000 151,782.000 8.7% 37.7%
1993 1,203 140,258.000 164,043.000 8.1% 8.4%
1994 1,315 178,534.000 178,534.000 8.8% 9.5%
1995 1,446 228,892.000 195,567.000 9.5% 16.9%
1996 1,585 272,036.000 213,833.000 9.3% 5.7%

đồng nội tệ.
Từ năm 1990, NHNN đã cải cách mạnh mẽ việc xây dựng và điều hành
chính sách tiền tệ . Đã xác định được khối lượng tiền cung ứng hàng năm phù hợp với
mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát.
b. Chính sách tài chính:
Giảm chi tiêu của Chính phủ:
Các đơn vị kinh tế quốc doanh làm ăn không hiệu quả bị giải thể. Kết quả là
chi tiêu của Chính phủ đã giảm nhiều, tổng cầu giảm, giá cả giảm, lạm phát giảm
xuống.
Giảm lượng tiền cung ứng cho thâm hụt ngân sách:
Bắt đầu từ năm 1991, thâm hụt ngân sách được trang trải bằng cách phát
hành trái phiếu thay vì in thêm tiền như trước đây. Vì thế, mức cung ứng tiền giảm
xuống, lạm phát cũng giảm đi. Năm 1992 tỉ lệ lạm phát chỉ là 17,6% so với năm 1991,
đặc biệt là năm 1993 chỉ còn lại là 5,2%.
1.2. Giai đoạn 1994-1998:
1.2.1. Nguyên nhân:
Lạm phát chủ yếu trong giai đoạn này là nguyên nhân bên trong:
Vào năm 1993 , mặc dù lạm phát đã giảm xuống một chữ số nhưng những tiến
bộ vượt bậc đó đã không thể duy trì được và củng cố bằng những chính sách tài chính
và chính sách tiền tệ thận trọng nên đến năm 1994 tỉ lệ lạm phát lại tăng lên mức 14,4%.
Tình hình kinh tế trong giai đoạn này đã có những thay đổi đáng kể , vì vậy lạm
phát xảy ra đã phản ánh được hậu quả tất yếu của tình hình lúc bấy giờ.
24
Trước hết, lạm phát xảy ra là do hiện tượng cầu kéo Đồng thời năm 1998 Luật
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được thông qua tương đối thông thoáng khiến cho đầu
nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh .
Chi tiêu của Chính phủ trong thời gian này cũng tăng mạnh, trong đó có chi
thường xuyên và chi cơ bản. Cụ thể là:
 Cải cách chế độ tiền lương, trợ cấp đối với các đối tượng chính sách xã
hội. Đồng thời trợ cấp cho các đối tượng bộ đội chuyển ngành và nghỉ,

đó 16% là thua lỗ triền miên. Tình trạng các công ty tư nhân cũng không có gì khá hơn.
+ Trong năm 1998 và 6 tháng đầu năm 1999 có hàng ngàn xí nghiệp thua lỗ
phải đóng cửa, các xí nghiệp lớn thì hoạt động cầm chừng.
+ Tỉ lệ thất nghiệp năm 1999 ở Hà Nội là 10,3% và ở thành phố Hồ Chí Minh
là 7,04%
25

Trích đoạn Tổng quan về tình hình lạm phát năm 2009: Tổng quan về lạm phát năm 2010: Một số điều đáng chú ý trong năm 2011:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status