báo cáo “nghiên cứu nuôi thử nghiệm cá chim trắng nước ngọt bố mẹ tại trung tâm giống phú ninh – quảng nam” - Pdf 15

Báo cáo
Đề tài:: “Nghiên cứu nuôi thử nghiệm cá
chim trắng nước ngọt bố mẹ tại trung
tâm giống Phú Ninh – Quảng Nam”
Mục lục
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 12
MỞ ĐẦU
Động vật thuỷ sản nói chung, động vật thuỷ sản nước ngọt nói riêng là những
thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hoá, dễ nuôi dưỡng trong các thuỷ vực tự
nhiên vì vậy mà đã từ lâu nó trở thành nguồn thực phẩm không thể thiếu của con
người. Dân số ngày càng tăng là một yếu tố góp phần làm giảm sản lượng đánh
bắt tự nhiên. Đồng thời để tận dụng diện tích của các thuỷ vực tự nhiên và nhân
tạo và cũng là để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người về sản lượng và
chất lượng của động vật thuỷ sản. Từ thực tế trên đồng thời giúp người dân nâng
cao sản lượng nuôi trồng thuỷ sản và cải thiện kinh tế tôi đã chọn đối tượng là Cá
Chim Trắng Việt Nam để nghiên cứu cho sản xuất giống cá mè đạt hiệu quả cao
cả về số lượng lẫn chất lượng cá giống, cá Chim Trắng Việt Nam với những ưu
điểm vượt trội nhanh lớn thích hợp với điều kiện thời tiết Việt Nam, ít bệnh tật,ít
tốn đầu tư vốn thức ăn, dễ nuôi và đặc biệt mang lại hiệu quả kinh tế cao 30-
40vnđ/kg. Chất lượng thịt thơm ngon trong chế biến thức ăn một số món ăn đặc
sản của cá chim món nướng và một số món khác…
Để nâng cao hơn nữa chất lượng con giống cũng như hiệu quả kinh tế, nhằm
đáp ứng nhu cầu cung cấp con giống cho nuôi trồng thủy sản. Đây là một nhu cầu
thiết yếu nhằm đáp ứng đầy đủ và kịp thời, trong tương lai nghề nuôi cá nước ngọt
sẽ tăng mạnh và cá Chim Trắng cũng như các loài cá nước ngọt khác, đáp ứng đầy
đủ số lượng con giống cũng như chất lượng. Từ những lý do trên em đã chọn cá
Chim Trắng làm đề tài nghiên cứu cho sản xuất con giống đạt cả về số lượng lẫn
chất lượng và đặc biệt là đạt được hiệu quả kinh tế nhất
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu cho người nuôi thương phẩm loài cá này ngày càng
lớn trên thị trường nên em đà chọn đề tài “Nghiên cứu nuôi thử nghiệm cá chim
trắng nước ngọt bố mẹ tại trung tâm giống Phú Ninh – Quảng Nam” này. Đề tài

tích nước thì ta tiến hành xả van trên cùng của bể thu trứng để giữ mức nước cho
bể.
Khi cá đẻ thì trứng sẽ theo lực hướng tâm chảy vào ống dẫn nước và trứng
qua bể thu trứng, ở đây trứng được giữ lại nhờ lưới.
Khi cá đẻ xong thì xả van thu trứng và tiến hành vớt trứng, sau khi vớt xong
thì đóng van thu trứng lại để giữ được mức nước cho bể đẻ, khi thả cá bố mẹ lại
xuống ao nuôi vỗ lại thì mở van xả nước.
2. Bể thu trứng
Bể thu trứng : Bể thu trứng thì có 3 van xả đó là van dưới dùng xả cạn nước
bể đẻ, van ở giữa xả nước ở bể thu trứng để thu trứng khi cá đẻ xong, van trên
cùng dùng để xả nước ở bể đẻ và bể thu trứng để bể không bị tràn.Ở bể thu trứng
ngay đường ống dẫn nước từ bể đẻ qua thì ta gắn thêm lưới mịn lỗ nhỏ bao lên
trên để trứng được giữ lại và ta thu trứng.
3. Bể ấp (bể vòng)
Có 4 bể ấp hình tròn có diện tích giống nhau với độ sâu bằng 1,25m nhờ
lưu tốc dòng nước làm cho trứng khi ấp được đảo lên xuống thường xuyên và làm
cho trứng không bị khê. Thành bể và đáy bể dược láng trơn, phía trong bể có một
vòng trụ, một lỗ thoát nước ở giữa để điều khiển mức nước tùy ý. Phía ngoài vòng
trụ được bao bọc bởi mạng tràn có tác dụng không cho cá bột và trứng qua.
Dưới đáy bể có lỗ tiêu nước, có tác dụng rút nước triệt để sau khi vệ sinh.
Quanh đáy bể có mõm nhái cấp nước chảy theo một đường tròn liên tục có tác
dụng làm cho trứng vận chuyển liên tục không bị khê (ung) đồng thời nó còn làm
tăng hàm lượng khi hòa tan cho cá bột.
4. Các dụng cụ khác
- Vợt lọc nước để lấy cá bột sau khi đẻ
- Lưới kéo cá bố mẹ
- Băng ca giữ cá
- Cân trọng lượng (dùng cân đòn 50kg)
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Bố trí thí nghiệm

nước 1 lần và sau khoảng 7-9 giờ tính từ sau khi cá đẻ thì tiến hành kiểm tra trứng
vì ở giai đoạn này trứng đã qua giai đoạn phôi vị, lấy trung bình trứng đã qua giai
đoạn phôi vị và tính được tỷ lệ thụ tinh. Số trứng không được thụ tinh thì trứng
không qua giai đoạn này mà chúng bắt đầu bị ung.
Tỷ lệ nở(%):
Cách xác định tỷ lệ nở: Tương tự như xác định TLTT ta lấy 3 mẫu cho vào 3
bát, mỗi bát 100 trứng đã thụ tinh và cho vào khay có nước chảy sau 17h thì kiểm
tra số cá bột nở ra.
4. Phương pháp cho cá đẻ nhân tạo
4.1. Kĩ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ
Ao nuôi là một trong các môi trường sống chủ yếu để cá sinh trưởng và phát
triển. Điều kiện ao tốt hay xấu, phù hợp hay không phù hợp là yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả nuôi dưỡng đàn cá bố mẹ sau này.
Trọng lượng buồng trứng
HSTT = X 100
Trọng lượng cơ thể
Số cá đẻ
TLĐ = X 100
Tổng số cá cái cho đẻ
Số trứng phát triển đến phôi vị
TLTT = X 100
Số trứng đem nghiên cứu
Số cá bột nở ra
TLN = X 100
Số trứng đã thụ tinh
a. Vị trí ao nuôi
Ao nuôi phải gần nguồn nước, nguồn nước trong sạch không bị ô nhiễm,
không bị ngập úng và dễ thoát nước và gần bể đẻ thông thoáng, dễ chăm sóc.
Diện tích ao từ 1200-1500m
2.

trọng lượng thân. Từ 3-5 ngày kích nước mộ lần, mỗi lần khoảng 3 giờ.
Giai đoạn nuôi vỗ thành thục: Biện pháp kĩ thuật cơ bản là tạo điều kiện cho
cá bố mẹ chuyển vật chất dinh dưỡng sang xây dựng tuyến sinh dục, ngừng bón
phân, cho ăn thức ăn có độ đạm 32 – 35% cho ăn 7% trọng lượng thân. Kích thích
mức nước cho vật chất hưũ cơ phân giải hết và tạo điều kiện cho cá bố mẹ hoạt
động mạnh là để chuyển hoá vật chất dinh dưỡng. Kích nước ngày 2 lần vào buổi
sáng sớm và chiều tối, mỗi lần khoảng 4 giờ.
4.2. Kỹ thuật chọn cá bố mẹ cho đẻ
Tuyển chọn cá cái:
Dựa vào hình dạng bên ngoài: chọn cá cái khỏe mạnh bụng cá cái căng
phồng lên, da bụng mỏng, mềm từ trên xuống dưới, đặt ở tư thế ngửa thấy bụng
hơi chảy, lỗ huyệt sinh dục nở, màu phớt hồng và hơi lối ra.
Dùng que thăm trứng đẻ kiểm tra trứng căng, đồng đều cỡ hạt, màu óng ánh,
xám tro, lăn đi lăn lại hạt trứng không vỡ.
Tuyển chọn cá đực
Dựa vào ngoại hình: chọn con không có bệnh ngoài da, khoẻ mạnh không
xây xát. Đặc điểm sinh dục phụ biểu hiện một cách rõ ràng.
Dựa vào mức độ thành thục của buồng sẹ: vuốt sẹ hai bên bụng cá cách lỗ
huyệt sinh dục 2-3cm, thấy tinh dịch cá màu trắng sữa chảy ra. Cá thành thục tốt
có nhiều tinh dịch màu trắng sữa chảy ra, khi cho vào nước tan nhanh, tinh dịch
phát tán vào nước có dạng chữ S chứng tỏ cá đực đã thnàh thục và có tỷ lệ thụ tinh
cao.
5. Kĩ thuật sử dụng kích dục tố
Trước khi cho đẻ tiến hành tiêm kích dục tố. Loại kích dục tố ở đây dùng là
LRH
a
và DOM.
+ Tiêm sơ bộ tỷ lệ 1/2 so với tổng liều. Khoảng 6-8h sau tiêm liều quyết định.
+Tiêm liều quyết định:
Cách tiêm : Tiêm vào gốc vây ngực, đặt kim tiêm nghiêng một góc 45

Cấp nước, tạo dòng chảy nhẹ.
Tiến hành thu trứng, thả vào bể ấp. Dùng vợt thu trứng, cho vào dụng cụ chứa: xô,
chậu tiến hành nhẹ nhàng để tránh trường hợp vỡ trứng. Lúc này tăng lưu tốc nước
trong bể. Tính lượng trứng đủ cho bể ấp.
7.3. Quản lý bể ấp
Chuẩn bị nước: các yếu tố thủy lý, thủy hóa: nhiệt độ, oxy hòa tan, pH,
huyền phù… Nước dùng để ấp phải được lọc SVPD.
Điều chỉnh dòng chảy căn cứ độ trôi nổi của trứng và giai đoạn phát triển của
phôi để điều chỉnh: 0,3 – 0,5m/s.
Trong suốt thời gian ấp, không lúc nào được ngừng cấp nước, vì nếu nước
đứng, cá sẽ chui ngược vào hệ thống ống tiêu nước.
Vệ sinh mạng tràn: định kỳ 30 – 40 phút/lần. Tăng cường vệ sinh khi trứng
nở.
Theo dõi quá trình phát triển phôi. Tính tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình,
tỷ lệ ra bột.
Chăm sóc cá bột: theo dõi và cho cá ăn khi cá bắt đầu tiêu biến noãn hoàng
và có thể bắt mồi. Thức ăn: lòng đỏ trứng, rotifer…; Lòng đỏ trứng luột chín, bóp
nhuyễn, hòa nước và lọc qua lưới gaz, cho vào bể ấp. Rotifer cho trực tiếp vào bể.
Thả cá ra ao để ương. ( cá 2-3 ngày sau khi nở)
7.4. Sự phát triển của phôi cá
a. Quá trình thụ tinh
b. Sự phân chia của phôi
c. Phôi nang:
d. Phôi vị
e. Hình thành các cơ quan
f. Thời kỳ cá bột:
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
I. Kết quả cho đẻ
Bảng1: Khối lượng cá và liều lượng tiêm KDT
STT ♀ lần1 ♀ lần2 ♂

2 4.0 106388
3 5.0 132985
4 6.0 159582
5 4.0 106388
6 3.6 95749
7 3.9 103278
8 4.05 107717
9 1.55 4122
Tổng 36.1 1749319
II. Kết quả hệ số thành thục
Bảng 4: Kết quả xác định hệ số thành thục
STT TL cá trước khi đẻ
(kg)
TL cá sau khi đẻ (kg)
1
3.0
2.2
2
2.7
2.1
3
3.0
2.2
4
3.0
2.3
5
2.7
2.0
6

lượng trứng /kg cá cái là thấp nhưng có thể cải thiện bằng cách áp dụng các yếu tố
kỹ thuật nhằm tăng TLN và TLTT như đáp ứng được các yếu tố môi trường cần
thiết, nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy đây là yếu tố đầu tiên giúp thành công.
IV. Kết quả cá bột
Bảng: Xác định lượng cá bột
TT Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Trung bình
Đơn vị tính (cc) 1 1 1 1
Số lượng (con) 423 425 427 425
Khi cho cá bột ra ao ương thì xác định xác định mẫu bằng cách vớt cá vào
vợt lưới mịn để ráo nước, cho vào 3 ống tiêm mỗi ống là 1cc, sau đó đếm mẫu. Ta
lấy trung bình 3 mẫu xác định được số con trong 1cc.
Kết quả: 78ly x 42cc x 425con. Vậy số lượng cá bột khoảng ≈ 1399455con.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy trạm giống Phú Ninh có được thuận lợi
khi sản xuất cá giống là có nguồn nước tốt đảm bảo các chỉ tiêu cho phép nhiệt độ
28-30
0
C và độ pH 6-8 tương đối ổn định, đây là một ngưỡng lý tưởng để sản xuất
giống và là một tiềm năng lớn trong tương lai.
Quy trình kĩ thuật đảm bảo yêu cầu cho tất cả các khâu từ tuyển chọn cá bố
mẹ cho nuôi vỗ, chọn cá bố mẹ cho đẻ, tiêm liều lượng KDT, quá trình ấp trứng
chăm sóc và quản lý Cùng với yêu cầu kĩ thuật trên, kinh nghiệm sản xuất cũng
rất quan trọng, đây cũng là yếu tố giúp sản xuất thành công.
Đầu ra cho cá giống ở Phú Ninh tương đối ổn định.
Kiến nghị
Tuy có nhiều ưu điểm vượt trội, với yêu cầu con giống ở trạm Phú Ninh
tương đối lớn nhưng còn thiếu cơ sở vật chất hạ tầng như cần đầu tư thêm bể đẻ và
bể ấp và một số trang thiết bị cần thiết để phục vụ nghiên cứu và sản xuất và giúp
đỡ sinh viên nghiên cứu thực tập.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status