Một số văn bản và thuật ngữ VHDG trong SGK THCS - Pdf 15

về một số văn bản và thuật ngữ văn học
dân gian trong SGK THCS
Th.S. Nguyễn Việt Hùng
Khoa Ngữ văn - ĐHSP Hà Nội
1. Về văn bản tác phẩm
Văn bản tác phẩm là đơn vị cơ bản để biên soạn chơng trình. Do đó, việc
lựa chọn văn bản phải đợc các nhà làm sách hết sức chú trọng.Văn bản tác
phẩm Văn học dân gian (VHDG) đợc lựa chọn trong sách giáo khoa (SGK)
Ngữ văn lớp 6 và lớp 7 có những đặc thù riêng Xem xét các văn bản tác
phẩm VHDG trong SGK điều đầu tiên chúng ta thấy rằng đây là những văn
bản mang tính chất phổ biến, mọi ngời đều hết sức quen thuộc với các văn
bản này. Bởi vì, hầu hết chúng đã có mặt trong các SGK trớc đây, hơn nữa,
các văn bản đợc biên soạn theo hớng giản dị, dễ hiểu, lợc bỏ một số chi tiết
rờm rà theo quan điểm của ngời soạn sách.
Tuy nhiên, SGK hiện hành không có những chú thích về nguồn gốc,
xuất xứ của văn bản một cách rõ ràng và đầy đủ. Cuối mỗi văn bản chúng ta
chỉ thấy ghi nh sau:
- Con Rồng cháu Tiên: Theo Nguyễn Đổng Chi
- Bánh chng bánh giầy: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam , tập 1
- Thánh Gióng: Theo Lê Trí Viễn
- Sọ Dừa: Theo Nguyễn Đổng Chi và Trơng Chính
- Thạch Sanh: Theo Nguyễn Đổng Chi và Vũ Ngọc Phan
- Cây bút thần: Theo bản dịch của Thái Hoàng và Bùi Văn Nguyên
- Ông lão đánh cá và con cá vàng: A.Puskin kể, theo bản dịch của Vũ
Đình Liên và lê Trí Viễn)
- Thày bói xem voi: Theo Trơng Chính
- Đeo nhạc cho mèo: theo Ôn Nh Nguyễn Văn Ngọc
- Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng: Theo Truyện cổ dân gian Việt Nam
1
Cách ghi chú nh vậy khá là tuỳ tiện và không rõ ràng, khiến ngời học
và ngời dạy không biết đâu mà tra cứu, so sánh.

Nguyễn Đổng Chi và Trơng Chính
Mặc dù với lứa tuổi THCS, học sinh sẽ không thắc mắc về vấn đề
nguồn gốc văn bản nhng bởi vì SGK cũng là một công trình khoa học nên
thiết nghĩ, ngời biên soạn cũng cần tuân thủ những nguyên tắc làm khoa
học. Nếu cứ để cách ghi nh thế thì sau mỗi lần thay SGK, văn bản tác phẩm
VHDG sẽ có những tác giả su tầm biên soạn kể chuyện dân gian mới!
Tơng tự nh vậy, phần ca dao, tục ngữ, ngời biên soạn SGK cũng không
ghi chép xuất xứ của những bài đó, mặc dù những công trình su tầm ca dao,
tục ngữ đã công bố rất nhiều và nhiều công trình có độ tin cậy cao. Văn bản
VHDG có tính dị bản, việc lựa chọn văn bản hết sức quan trọng trong việc
định hớng tìm hiểu tác phẩm, các dị bản sẽ bổ sung các cách hiểu cho tác
phẩm. Nhng SGK đã không chú thích rõ nguồn gốc văn bản, cũng không đa
2
ra các dị bản (nếu có) của tác phẩm. Có những trờng hợp cần xem xét lại nh
sau:
+ Về bài ca dao:
Đờng vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Huế thì vô
2
Chúng tôi tìm trong Kho tàng ca dao ngời Việt
3
không thấy bài ca dao
nào nh vậy. Chỉ có một văn bản gồm 2 dòng đầu, không có dòng thứ ba (rút
từ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 1). Các văn bản còn lại đều ghi là xứ Nghệ
(Đại Nam quốc tuý - ĐNQT, Lí hạng ca dao - LHCD, Nam giao cổ kim
-NGCK), Nam phong giải trào - NPGT). Thi ca bình dân và Tục ngữ phong dao
có văn bản khác: thêm hai dòng, trớc khi có bài ca dao này:
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh
Đờng ra Hà Nội nh tranh vẽ rồng

ríu rít
Chim ri Chim ri Chim ri
trong tổ
Chim ri
chạy ra
Cóc nhái Cóc nhái
Dòng 4 Lấy Lấy Lấy chia chia Chia Chia Chia
Dòng 6 0 0 0 0 0 Cởi trần Mặc quần Mặc quần
Chúng tôi không biết tác giả SGK lấy văn bản ở đâu, có lẽ tác giả
chọn từ mỗi văn bản một dòng, một chữ khác nhau, tạo nên văn bản riêng.
Cách làm nh vậy cũng không mang tính khoa học và khá tuỳ tiện. Thiết
nghĩ, ngời biên soạn nên chọn một văn bản đã đợc su tầm ghi chép và đa ra
các dị bản để ngời dạy tham khảo (có thể đa vào SGV).
2. Về các khái niệm
SGK hiện hành không có bài khái quát, cũng nh không có bài giới
thiệu về các thể loại. Nhng khi bắt đầu vào một thể loại mới, SGK có phần
Tiểu dẫn, trình bày những kiến thức chung về thể loại. Đây là phần cung
cấp những kiến thức mang tính lí luận về thể loại, tuy hết sức sơ lợc nhng là
những tri thức rất cần thiết. Thông qua mục này, HS đợc cung cấp nhiều kiến
thức và khái niệm VHDG nh: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cời,
truyện ngụ ngôn, ca dao, dân ca, tục ngữ, yếu tố kì ảo hoang đờng, kiểu
nhân vật, ngời mang lốt vật Trong đó, tác giả SGK không nhằm định
nghĩa mà thờng trình bày quan niệm của mình về thể loại, có nhiều khái
niệm đợc trình bày một cách ngắn gọn, hàm súc và nêu đợc bản chất của đối
tợng. Ví dụ nh:
Truyện ngụ ngôn: loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mợn
chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con ngời để nói bóng gió, kín đáo
chuyện con ngời, nhằm khuyên nhủ, răn dạy ngời ta bài học nào đó trong
cuộc sống
4

lệch) nên sửa là nữ chín (thể hiện tính cách đức hạnh nết na).
Bên cạnh đó, ở một số thể loại khác, quan niệm về thể loại cần bàn bạc.
a. Truyền thuyết: loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên
quan đến lịch sử thời quá khứ, thờng có yếu tố tởng tợng kì ảo. Truyền
thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân với các sự kiện và
nhân vật lịch sử đợc kể
7
.
+ Quan niệm này không phải là không đúng chỉ có điều nó quá chú ý
đến yếu tố lịch sử trong truyền thuyết: kể và đánh giá về các nhân vật và
sự kiện lịch sử. Điều này đúng nhng không đủ vì truyền thuyết nói nh Vũ
Quỳnh trong Lĩnh Nam chích quái là sử ở trong truyện, yếu tố lịch sử
tạo là một phần của cơ sở lịch sử xã hội cho sự ra đời của truyền thuyết.
Trong truyền thuyết, lịch sử là nền, là bối cảnh trực tiếp diễn ra các sự kiện,
hành động của nhân vật. Nhng bên cạnh đó, yếu tố văn học, bản chất thẩm
mĩ của thể loại cũng hết sức quan trọng. Chính sự sáng tạo của nhân dân lao
động (về cả những nhân vật và sự kiện) làm nên đặc trng văn học của thể
loại. Thực tế cho thấy, truyền thuyết có nhiều nhân vật là sự sáng tạo của
nhân dân (Thánh Gióng, thần Kim Quy ), còn các sự kiện thì hầu hết là sản
phẩm của trí tởng tợng bay bổng của ngời lao động.
5
Mặt khác, khái niệm này chỉ trình bày truyền thuyết nh là những văn
bản văn học đơn thuần mà cha có những gợi ý về nghệ thuật diễn xớng
truyền thuyết, mối quan hệ của truyền thuyết với tín ngỡng, lễ hội. Đứng về
phía lí luận thì có thể học sinh cha hiểu biết, tiếp nhận đợc nhng thực tế của
đời sống sinh hoạt văn hoá dân gian diễn ra xung quanh các em khiến cho
ngời học không thể không có những liên tởng và thắc mắc: chẳng hạn HS ở
vùng Phù Đổng, Sóc Sơn vốn sống trong vùng lễ hội và các hình thức thờ
cúng về Gióng; vùng đền Hùng với hệ thống truyền thuyết thời Hùng V-
ơng

cời, đó là đối tợngcủa truyện cời. Vấn đề này chỉ đợc trình bày trong sách
giáo viên (SGV) và nh vậy việc HS có nắm đợc kiến thức đó hay không phụ
thuộc vào GV chứ không thể tìm thấy ở trong SGK. SGV có giải thích hiện
tợng đáng cời là những hiện tợng có tính chất ngợc đời, lố bịch, thể hiện ở
6
hành vi, cử chỉ, lời nói của ngời nào đó
11
. Cũng nên giải thích thêm đó là
những hịên tợng mang loại mâu thuẫn đặc biệt giữa hỡnh thc bờn ngoi cú
v hp l t nhiờn nhng thc cht bờn trong l trỏi t nhiờn; hỡnh thc bờn
ngoi cú v phự hp vi ni dung bờn trong nhng li l ra s khụng phự
hp ú l nhng hin tng ú cú mt cỏi gỡ ú ngc i.
Những kiến thức bổ trợ khác nh cái cời, đặc điểm hình thức truyện c-
ời, phân loại truyện cời (thành truyện hài hớc và truyện châm biếm) đều đợc
trình bày ở SGV với một lợng tri thức tơng đối đầy đủ. Xem xét các phần,
các bài khác (nh truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao ) chúng tôi cũng thấy
rằng SGV cũng cấp khá nhiều kiến thức về các thể loại VHDG. Nhng đó là
sách viết cho đối tợng GV (khác với SGK dành riêng cho đối tợng HS) cho
nên việc HS thu nhận đợc bao nhiêu kiến thức, đợc trang bị nhng xhiểu biết
về VHDG đến đâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố (quan niệm, trình độ của GV,
thời gian trên lớp, khả năng tiếp thu của HS )
c. Ca dao, dân ca là những khái niệm tơng đơng, chỉ các thể loại trữ
tình dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con ngời.
Hiện này ngời ta có phân biệt hai khái niệm dân ca và ca dao. Dân ca là
những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức những câu hát dân gian trong diễn x-
ớng. Ca dao là lời thơ của dân ca. Khái niệm ca dao còn đợc dùng để chỉ
một thể thơ dân gian thể ca dao
12
.
Trong định nghĩa trên có mấy vấn đề đáng chú ý và cần bàn bạc:

những cách thức tổ chức sắp xếp ngôn từ (số câu, số tiếng, cách gieo vần,
luật đối ). Từ thế kỉ XVIII về sau thì loại và thể đợc xem là chuyện của nội
dung, hình thức chẳng qua là cái tự sinh của nội dung thể loại. Có lẽ khi
nhận định ca dao là một thể thơ dân gian, tác giả SGK muốn dùng với ý
nghĩa là một thể thơ dân gian có tính chất độc lập, khác biệt với thơ nói
chung cả về nội dung cũng nh hình thức nghệ thuật.
Có thể nói, tác giả SGK đã cố gắng phân biệt rạch ròi hai khái niệm, lại
muốn chỉ ra chỗ gặp gỡ của ca dao và dân ca
14
cho nên đã lúng túng trong
cách trình bày kiến thức. Chẳng hạn, nhan đề của bài học, tác giả không
dùng hẳn khái niệm nào mà ghi đồng thời Ca dao, dân ca (nh vậy là đề cập
đến cả hai đối tợng). Trên thực tế, các bài học là ca dao, không gắn với diễn
xớng, âm nhạc hay môi trờng ca hát, vậy mà tiêu đề cho các phần đều là
Những câu hát Cách ghi nh vậy là không mô phạm, không chuẩn mực với
đối tợng SGK trong nhà trờng.
Tóm lại, những đơn vị kiến thức cơ bản về VHDG của học sinh đợc
hình thành chủ yếu qua việc tiếp nhận tác phẩm văn học và các khái niệm
VHDG trong SGK. Chúng tôi cho rằng, những ngời biên soạn SGK THCS
cần xác định đúng đắn yêu cầu quan trọng đó để vừa đáp ứng mục tiêu, yêu
cầu của chơng trình vừa đảm bảo cung cấp cho ngời học những kiến thức
phong phú, giản dị và chính xác hơn từ ngay việc lựa chọn văn bản tác phẩm
và nêu những khái niệm cơ bản.
Chú thích
1. Ngữ văn 6, tập 1. Nxb Giáo dục, H, 2004
8
2. Ngữ văn 7 Tập 1. Nxb Giáo dục, trang 18
3. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên): Kho tàng ca dao ngời Việt. NXb Văn
hoá thông tin. H. 2001, trang 2250
4. Ngữ văn 6 tập 1 (2004) Sđd. Trang 100


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status