luận văn cơ sở lý luận và thực tiễn rào cản trong thương mại quốc tế - Pdf 15



1
Luận văn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
RÀO CẢN TRONG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ 2

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN RÀO CẢN TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC RÀO CẢN TRONG THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ (TMQT)
1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “rào cản” hay “hàng rào” trong thương mại chỉ được đề cập
chính thức trong một hiệp địng của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đó
là Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Agreement on
Technical Barriers to Trade – TBT). Tuy nhiên trong hiệp định này, khái niệm
về hàng rào cũng không được rõ ràng mà chỉ thừa nhận rằng “không một
nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất
lượng hàng hóa xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe

khẩu khác.
Có thể có hai cách phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế như sau:
a. Theo cách tiếp cận của Tổ chức Thương mại thế giới
Theo cách tiếp cận, chúng ta có thể phân loại rào cản trong thương mại
quốc tế theo hai nhóm lớn là: rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan.
Rào cản thuế quan
Thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong
thương mại quốc tế, do vậy trong hầu hết các vòng đàm phán thương mại đa
bên và song biên vấn đề thuấ quan luôn là trung tâm của các cuộc đàm phán
và thường chiếm nhiều nhất thời gian của các cuộc đàm phán. Trong thực
tiễn thương mại quốc tế có rất nhiều loại thuế và mức thuế suất khác nhau,
trong đó có ba loại mức thuế quan phổ biến sau:
 Thuế phần trăm: (ad- valorem tariff): được đánh theo tỷ lệ phần
trăm giá trị giao dịch của hàng hóa nhập khẩu. Đay là loại thuế được sử dụng
phổ biến nhất hiện naynhưng nhìn chung vânx còn ở mức cao nên WTO kêu
gọi các nước thành viên tiếp tục cam kết cắt giảm.
 Thuế phi phần trăm (non-ad - valorem tariff): bao gồm ba loại thuế 4

+ Thuế tuyệt đối: Thuế xác định bằng một khoản cố định trên một đơn
vị hàng nhập khẩu. Nó chủ yếu được áp dụng với hàng nông sản.
+ Thuế tuyệt đối thay thế: quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần
trăm hay thuế tuyệt đối.
+ Thuế tổng hợp: là sự kết hợp cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối.
+ Thuế quan đặc thù: bao gồm nhiề lại hạn ngạch thuế quan, thuế quan,
thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá, thuế thời vụ, thuế bổ sung.
+ Hạn ngạch thuế quan: là biện pháp quản lý nhập khẩu với hai mức
thuế suất nhập khẩu. Hàng hóa trong hạn ngạch thì có mức thuế quan còn thấp

hưởng GSP. Mức thuếế này thấp hơn mức thuế tối huệ quốc.
+ Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do: đây là loại thuế
có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều loại mặt
hàng.
+ Các loại thuế quan ưu đãi khác: Đó là các loại thuế quan mà các
nước dành sự ưu đãi cho nhau ở một số mặt hàng như: các sản phẩm dược,
sản phẩm ô-tô,…
Rào cản phi thuế quan
Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, có thể được áp
dụng ở biên giới hay nội địa, có thể là các biện pháp hành chính hay các biện
pháp kỹ thuật bắt buộc hay tự nguyện… Dưới đây là một số rào cản phi thuế
quan chủ yếu:
 Các biện pháp cấm: Trong số các biện pháp cấm được sử dụng
trong thực tiễn thương mại quốc tế có các biện pháp cấm như: cấm vận toàn
diện, cấm vận từng phần, cấm vận xuất khẩu đối với một số loại hàng hóa nào
đó (như hóa chất, chất nổ…).
 Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu: đó là những giới hạn về số lượng
hoặc về trị giá hàng xuất nhập khẩu được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu
trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). hạn ngạch này có thể do
nước nhập khẩu hoặc nước xuất khẩu tự áp đặt một cách dơn phương nhưng
cũng có loại hạn ngạch được áp đặt trên cơ sở tự nguyện của bên thứ hai (hạn
ngạch xuất khẩu tự nguyện). 6

 Cấp giấy phép xuất nhập khẩu: Có hai loại giấy phép đó là giấy
phép về quyền hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và giấy phép xuất nhập
khẩu đối với một số loại hàng hóa hoặc phương thức kinh doanh xuất nhập
khẩu nào đó. Chẳng hạn là giấy phép cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư

 Các quy định về thương mại dịch vụ: như quy định về lập công ty,
chi nhánh và văn phòng đại diện, quy định về xây dựng và phát triển hệ thống
phân phối hàng hóa, quy định về quyền được tiếp cận các dịch vụ công một
cách bình đẳng… đều có thể trở thành các rào cản trong thương mại quốc tế
nếu như nó không được minh bạch hay có sự phân biệt đối xử.
 Các quy định về đầu tư có liên quan đến thương mại: như lĩnh vực
không hoặc chưa cho phép đầu tư nước ngoài, tỉ lệ góp vốn tối thiểu hay tối
đa cho các lĩnh vực hoặc sản phẩm xác định, tỉ lệ xuất khẩu tối thiểu cho
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Đó là sự phân biệt đối xử giữa các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, và
nó trở thành các rào cản thương mại quốc tế mà hiện nay ở các cuộc đàm
phán nó trở thành một chủ đề khá nóng bỏng.
 Các quy định về sở hữu trí tuệ: đó là những quy định về xuất xứ
hàng hóa, các vấn đề về thương hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp , bí mật
thương mại… cũng có thể trở thành các rào cản thương mại hiện nay.
 Các quy định chuyên nghành về các điều kiện sản xuất, thử nghiệm,
lưu thông và phân phối các sản phẩm được xác định trong các hiệp định của
WTO như: Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định thương mại về hàng dệt và may
mặc. Hầu hết các nước trong Tổ chức thương mại thế giới WTO đều có quy
định quốc gia cho một số hàng hóa thuộc diện quản lý theo chuyên ngành,
cách thức và biện pháp quản lý của các nước cũng rất khác nhau và cũng có
thể trở thành các rào cản thương mại.
 Các quy định về bảo vệ môi trường: bao gồm các quy định về môi
truờng bên ngoài lãnh thổ biên giới theo Hiệp ước hoặc công ước quốc tế; các
quy định trực tiếp về môi trường trong lãnh thổ quốc gia (quy định về tiêu
chuẩn môi trường, bao bì và tái chế bao bì, nhãn mác sinh thái…) và các quy 8


9

6) Các rào cản dịch vụ (thiếu các dịch vụ tài chính do các tổ chức tài
chính nước ngoài cung cấp, các quy định về dữ liệu quốc tế và các hạn chế
trong sử dụng dịch vụ xử lý dữ liệu của nước ngoài);
7) Các rào cản chống cạnh tranh (bao gồm cả các thực tiễn chống cạnh
tranh của các doanh nghiệp Nhà nước cũng như của các công ty Hoa Kỳ hay
các công ty nước ngoài khác);
8) Các rào cản khác (tham nhũng, hối lộ, … hoặc rào cản có ảnh hưởng
đến các lĩnh vực đơn lẻ).
1.1.3 Phạm vi và nục đích sử dụng các rào cản trong TMQT
Mặc dù ủng hộ tự do hoá thương mại, Chính phủ các quốc gia vẫn cứ
dựng nên các rào cản đối với TMQT, về hình thức có thể thay đổi nhưng
phạm vi và mức độ của các rào cản ngày càng tăng lên. Nếu như trước khi
thành lập WTO thì rào cản TMQT chỉ giới hạn trong phạm vi thương mại
hàng hoá thì ngày nay nó phát triển cả sang lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và sử hữu
trí tuệ. Nếu như trước đây các biện pháp áp dụng chỉ là các biện pháp hành
chính ( cấm, hạn ngạch và giấy phép ) thì ngày nay nó hết sức đa dạng và tinh
vi, liên quan tới nhiều quốc gia. Sở dĩ như vậy là vì mục đích sử dụng cũng đa
dạng cả về kinh tế, chính trị và văn hoá.
 Vì mục đích chính trị: chính phủ đưa ra các quyết định về chính sách
thương mại dựa trên sự tính toán, cân nhắc tới nhiều yếu tố có liên quan. Hoa
Kỳ và một số nước Tây âu là những điển hình trong việc sử dụng các rào cản
TMQT để đạt được mục đích chính trị. Một ví dụ điển hình là việc Hoa Kỳ
dành cho Israen chế độ thuế suất bằng không đối với hàng nông sản và nhiều
hàng hoá khác của Israen kể từ năm 1985. xuất phát từ động cơ chính trị mà
các nước thường sử dụng các biện pháp như: cấm vận, cấm nhập khẩu hoặc
xuất khẩu một loại hàng hoá nào đó hoặc áp dụng các mức thuế suất riêng biệt
rất cao,… ngoài ra, còn có các biện pháp phân biệt đối xử trong việc xếp loại
nước có nền kinh tế thị trường và nước chưa có nền kinh tế thị trường.

đến nhiều nhất hiện nay, nó đang trở thành vấn đề của toàn cầu và tất nhiên 11
mỗi quốc gia sẽ có những biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo vệ môi
trường của quốc gia mình.
1.2 RÀO CẢN CHỦ YẾU ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY
Thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong
thương mại quốc tế, nó được áp dụng hầu hết với các mặt hàng trong thương
mại quốc tế, và tất nhiên dệt may là một trong những mặt hàng chịu tác động
của các mức thuế quan khác nhau. 12
Trong thực tế thương mại quốc tế có rất nhiều loại thuế và mức thuế
suất được sử dụng và do vậy Tổ chức Thương mại Thế giới cũng không thể
có quy định một các cụ thể rằng các nước phải rằng buộc loại thuế nào. Tuy
nhiên dệt may là mặt hàng chủ yếu chịu sự tác động của các rào cản phi thuế
quan. Các loại thuế có thể áp dụng đối với hàng dệt may bao gồm:
 Thuế phần trăm: đây là loại thuế được đánh theo tỷ lệ phần trăm giá
trị giao dịch của hàng hoá nhập khẩu. đây là loại thuế được áp dụng khá phổ
biến với hàng dệt may.
 Thuế phi phần trăm bao gồm:
+ Thuế tuyệt đối: là loại thuế xác định một khoản cố định trên một đơn
vị hàng nhập khẩu, chủ yếu áp dụng cho các mặt hàng nông sản.
+ Thuế tuyệt đối thay thế: quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần
trăm hay thuế tuyệt đối.
+ Thuế tổng hợp: là sự kết hợp cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối.
 Thuế đặc thù: bao gồm hạn ngạch thuế quan, thuế đối kháng, thuế
chống bán phá giá và thuế bổ sung.

đầu tư trực tiếp của Mỹ được phép xuất nhập khẩu hầu hết các sản phẩm
(với lộ trình từ 3 – 6 năm);
 Hiện tại các công ty nước ngoài phải phụ thuộc vào các nhà nhập
khẩu Việt Nam được cấp giáy phép, Hầu hết là các doanh nghiệp nhà nước
 Đảm bảo các doanh nghiệp nhà nước sẽ tuân thủ các quy định của
WTO;
Tuân thủ các quy định của WTO về hải quan, giấy phép nhập khẩ, tiêu
chuẩn kĩ thuật và các bieej pháp về vệ sinh và vệ sinh thực vật.
* Ưu đãi thuế quan: Hiệp định thương mại song phương Hoa Kỳ – Việt
nam là hiệp định đáng chú ý ở chỗ, khác với các hiệp định thương mại song
phương đã từng đàm phán trước đây giữa Mỹ và các nước thuộc diện điều
chỉnh của tu chính án Jackson-vanik, Hiệp định này chứa đựng các cam kết cụ 14
thể về việc giảm thuế cho khoảng 250 sản phẩm, khoảng 4/5 trong số đó là
nông sản. Đáng chú ý, mức cắt giảm sẽ từ 33% đến 50% và được thực hiện
trong giai đoạn 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Mức thuế quan của
Việt Nam không quá coa đối với một nước đang phát triển (Phòng thươngvụ
uwowcs tính mức thuế suất thuế quan trung bình của Việt Nam là 15% -
20%).
Chính quyền Clinton đánh giá bước tiến của Việt nam trong việc áp
dụng thuế quan theo quy chế Tối huệ quốc là rất đáng kể, khi Việt Nam từ
tháng 1 năm 1999 đã áp dụng phụ thu thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu
từ những nước mà Việt Nam không có quan hệ đối xử tối huệ quốc có đi có
lại. Trong thời gian Hà Nội và WWashington đàm phán hiệp định Thương
mại song phương này, Việt Nam đã không áp dụng khoản phụ thu này đối với
hàng hoá nhập khẩu của Mỹ. Bên cạnh đó, trong vấn đề tiếp cận thị trường,
hiệp định còn có quy định về bảo vệ, theo đó cho phép một trong hai bên có
quyền tạm thời áp đặt thuế quan nhằm ngăn chặn tình trạng nhập khẩu hàng

nhân thọ và các lĩnh vực bảo hiểm “không bắt buộc” khác, sau 3 năm kể từ
khi Hiệp định có hiệu lực, cho phép thành lập các liên doanh có mức vốn góp
tối đa của Mỹ là 50% vốn pháp định của liên doanh. Sau 5 năm kể từ khi
thành lập, cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư Hoa Kỳ.
 Viễn thông: theo hiệp định Thương mại song phương, đối với các
dịch vụ viễn thông cao cấp (như internet, thư điện tử và voice mail), Việt
Nam sẽ cho phép thành lập các liên doanh sau 2 năm kể từ khi Hiệp định có
hiệu lực, với mức vốn góp tối đa của Mỹ là 50% vốn pháp định của liên
doanh. Dịch vụ internet có lộ trình thực hiện là 3 năm kể từ khi Hiệp định có
hiệu lực. Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản (như fax, điện thoại di động
và các dịch vụ vệ tinh), cho phép thành lập các liên doanh sau 4 năm kể từ khi
Hiệp định có hiệu lực với mức vốn góp của các công ty Mỹ khống chế ở mức
49% vốn pháp định của liên doanh. Đối với các dịch vụ điện thoại nội hạt,
đường dài và quốc tế, cho phép thành lập các liên doanh sau 6 năm keert từ
khi Hiệp định có hiệu lực với mức vốn góp của Hoa Kỳ không quá 49% vốn
pháp định của liên doanh. Việt Nam đồng ý sẽ xem xét việc nâng các mức 16
hạn chế vốn góp của Hoa Kỳ khi tiến hành đánh giá Hiệp định trong 3 năm
tới. 17
4. Đầu tư
Liên quan đến đầu tư, Thương mại Hoa Kỳ – Việt Nam có các bảo đảm
về đối xử tối hệu quốc, đối xử quốc gia, minh bạch và bảo vệ trong trường
hợp tước quyền sở hữu. Bên cạnh đó, Việt Nam cam kết tiến hành những thay
đổi sau trong cơ chế đầu tư của mình:
 Tẩm định đầu tư: Hiện tại các công ty nước phải được chính phủ

5. Tính minh bạch
Việt Nam đồng ý thực hiện một cơ chế thương mại hoàn toàn minh
bạch bằng cách cho phép góp ý kiến vào các dự thảo luật và quy định sẽ đảm
bảo công khai trước tất cả các luật và các quy định đó. Bằng cách công bố tất
cả các văn bản đó và cho phép công dan và các công ty Mỹ có quyền khiếu
nại các quy định đó.
Hiệp định thương mại Song phương có kết cấu gồm 7 chương và 8 phụ
lục chính như sau:
Chương 1: Thương mại hàng hoá
Chương 2: Quyền sở hữu trí tuệ
Chương 3: Thương mại dịch vụ
Chương 4: Phát triển quan hệ đầu tư
Chương 5: Tạo thuận lợi cho kinh doanh
Chương 6: Các quy định liên quan tới tính minh bạch
Chương 7: Những điều khoản chung
Các phụ lục
Phụ lục A – Việt Nam
Phụ lục B – Việt Nam
Phụ lục B1 – Hạn chế số lượng nhập khẩu – sản phẩm
Phụ lục B2 – Hạn chế số lượng xuất khẩu
Phụ lục B3 – Hàng hoá cấm nhập khẩu
Phụ lục B4 - Hàng hoá cấm xuất khẩu
Phụ lục C – Việt Nam
Phụ lục C1 – Hàng hoá nhập khẩu thuộc diện điều chỉnh của cáborquy
định về thương mại Nhà nước và lịch trình loại bỏ 19
Phụ lục C2 - Hàng hoá xuất khẩu thuộc diện điều chỉnh của cáborquy
định về thương mại Nhà nước và lịch trình loại bỏ

phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm).
- Việt Nam đồng ý cho phép các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài
không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt
Nam. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để
làm thủ tục xuất khẩu. Trong mọi trường hợp, Doanh nghiệp và các cá nhân
Mỹ sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước. Các
cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của ta trong việc
đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với các sản
phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo, tạo chí…
- Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, Việt Nam đồng ý cho nhập
khẩu xe máy phân khối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007. Với thuốc lá
điếu và xì gà, Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu kể từ thời điểm
gia nhập. Tuy nhiên chỉ có doanh nghiệp nhà nước được quyền nhập khẩu
toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu áp dụng cho các mặt hàng
này là rất cao. Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua
sử dụng không qua 5 năm.
- Về cam kết thực hiện minh bạch hoá, ngay từ khi Việt Nam gia nhập
WTO Việt Nam sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phậm pháp luật do Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân
dân. Thời gian dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam
cũng cam kết sẽ công bố các văn bản luật trên các tạp chí, trang thông tin điện
tử của bộ, ngành.
- Một số cam kết khác: thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết giảm
thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, không cam
kết về thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm khác.
- Mỹ sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho các nước là thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới WTO. Như vậy kể từ tháng 11 năm 2006 Việt Nam
sẽ không phải chịu hạn ngạch dệt may từ Hoa kỳ nữa (riêng trường hợp ta vi 22
như trong BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng khoán, để sớm kết
thúc đàm phán, ta đã có một bước tiến, tuy nhiên nhìn chung không quá xa so
với hiện tràng và phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho
các ngành.
Cam kết chung cho các ngành dịch vụ về cơ bản như BTA. Trước hết
các công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi
nhánh, trừ phi điều đó được cho phép trong từng nhành cụ thể. Ngoài ra, công
ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam
nưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của các công ty phải là người Việt Nam.
Cuối cùng ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần
trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa
thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng ta chỉ chi phép ngân hàng nước ngoài
mua tối đa 30% cổ phần.
Dịch vụ viễn thông, Việt Nam có thêm một số nhân nhượng hơn so với
trong BTA nhưng ở mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của
Việt Nam. Cụ thể là cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để
cung cấp dịch vụ viễn thông gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng do doanh
nghiệp Việt Nam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút về việc cung
cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy giữ lấy hạn chế áp dụng cho viễn thông
gắn với hạ tầng mạng (chỉ các doanh nghiệp nhà nước nắm đa số vốn mới đầu
tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên
doanh với các đối tác Việt nam đã được cấp phép).
Về bảo hiểm: Việt Nam đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo
hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO.
Dịch vụ ngân hàng: Việt Nam đồng ý cho thành lập ngân hàng con
100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra, ngân hàng
nước ngoài muốn được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó

cạnh tranh trong ngành này. Bởi thế, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may cần
chuẩn bị hành trang cho mình để dành chiến thắng trong cuộc chiến cạnh
tranh.
 Trị giá Hải quan: 24
Trị giá Hải quan cũng là một rào cản phi thuế gây nhiều bất lợi cho các
doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ. Việc tính
giá hải quan cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp đến khoản thuế nhập khẩu mà
các doanh nghiệp phải nộp và qua đó tá động lên giá bán mỗi sản phẩm của
Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ. Theo thống kê mới nhất hiện nay, thì hất hết
các nước đã á dụng Hiệp định về định giá hải quan của WTO để tính thuế
nhập khẩu. Trong khi, Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký với nhau Hiệp định
Thương mại song phương và nó có hiệu lực từ 2001 - 2005. Hiệp định này đã
góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong
thời gian qua. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam cũng cần phải cân nhắc đến các khoản phí đang được Hoa Kỳ áp dụng,
trong đó có các khoản phí đánh vào một số phương tiện giao thông nhập
khẩu.
Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn quy định kỹ thuật cũng là một trong các
hàng rào phi thuế đang được Hoa Kỳ áp dụng phổ biến hiện nay cụ thể là:
Hàng dệt : Các sản phẩm sợi dệt nhập khẩu vào Hoa Kỳ phải có tem,
ghi mark, mã theo quy định tại Đạo luật “Textile Fiber Product Identificetion
Act”, trừ khi được miễn trừ theo Section 12 của luật này.
- Tên và tỷ lệ trọng lượng của các thành phần sợi, trừ những trang trí
cho phép, lớn hơn 5% sản phẩm, theo thứ tự tỷ lệ trọng lượng, các thành phần
sợi ghi “sợi khác” hoặc “các sợi khác” được liệt kê cuối cùng. Các thành phần
sợi bằng hoặc nhỏ hơn 5% được ghi là “các sợi khác”.
- Tên hãng sản xuất và tên hoặc số đăng ký do Federal Trade

Trích đoạn Thuế quan Hạn ngạch Mục tiờu chiến lược phỏt triển ngành dệt may giai đoạn 2006 – Giải phỏp đối với cỏc doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status