tình hình đề kháng ks cảu s aureus - Pdf 15

Tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus
Kết quả nghiên cứu đa trung tâm thực hiện trên 235 chủng vi khuẩn
Phạm Hùng Vân
1
, Phạm Thái Bình
2

Tóm tắt
Trong thời gian từ tháng 9/2003 đến tháng 1/2005, đã có 235 chủng vi khuẩn
Staphylococcus aureus từ 7 phòng thí ngiệm vi sinh của 7 bệnh viện ở Đà Nẵng,
Cần Thơ và TP. Hồ Chí Minh được gửi về trung tâm nghiên cứu. Các chủng vi
khuẩn này được phân lập từ các bệnh phẩm khác nhau lấy từ các bệnh nhân đến
khám và điều trị tại các bệnh viện nói trên. Tại Trung tâm nghiên cứu, các
chủng được tái định danh và lưu trữ để làm kháng sinh đồ hàng loạt. Phương
pháp kháng sinh đồ được thực hiện là phương pháp khuếch tán kháng sinh trên
thạch theo các chuẩn mực của NCCLS. Kết quả ghi nhận được cho thấy 47% S.
aureus kháng methicillin, 42% đối với gentamicin, 63% đối với erythromycin,
68% đối với azithromycin, 39% đối với ciprofloxacin, 38% đối với cefuroxime,
30% đối với amoxicillin-clavulanic acid, 34% đối với cefepime, 28% đối với
ticarcillin clavulanic acid, 38% đối với chloramphenicol, 25% đối với
cotrimoxazol, 17% đối với levofloxacin, và chỉ 8% đối với rifampicine. Nghiên
cứu cho thấy vi khẩn S. aureus kháng methicillin (MRSA) có tỷ lệ đề kháng các
kháng sinh cao hơn rất rõ rệt so với vi khuẩn nhạy cảm methicillin (MSSA).
Nghiên cứu cũng ghi nhận vancomycin và linezolide, là hai kháng sinh hiện nay
được xem là đặc trị vi khuẩn S. aureus, vẫn còn 100% nhạy cảm. Từ các kết quả
này, các nhà lâm sàng trong nước có thể tin tưởng là sẽ có thêm một lựa chọn
kháng sinh ngoài vancomycin để điều trị các trường hợp nhiễm trùng do S.
aureus kháng methicillin, đó là linezolide, một kháng sinh tổng hợp mới thuộc
lớp oxazolidinones vừa được đưa ra sử dụng trong lâm sàng từ năm 2001.
Summary
From 9/2003 to 1/2005, 235 strains of Staphylococcus aureus from 7 clinical

80
(1)
. Vancomycin là kháng sinh
chọn lựa hàng đầu để điều trị S.
aureus kháng methicillin (MRSA),
nhưng việc chỉ và sử dụng rộng rãi
vancomycin có thể sẽ làm xuất hiện
vi khuẩn kháng vancomycin do sự
gia tăng áp lực chọn lọc đề kháng.
Cho đến nay tại Hoa Kỳ đã có 3
trường hợp S. aureus kháng
vancomycin (vancomycin resistant S.
aureus: VRSA) và 24 trường hợp rải
rác trên thế giới xuất hiện S. aureus
giảm nhạy cảm với Vancomycin
(vancomycin intermediate S. aureus:
VISA)
(1)
. Tại Việt Nam, mặc dù có
nhiều nghiên cứu báo động tỷ lệ cao
MRSA kèm với sự đề kháng đa
kháng sinh, nhưng cho đến nay vẫn
chưa có ghi nhận chính thức là
VRSA
(2,3)
. Tuy nhiên nguy cơ này có
thể trở thành hiện thực trong tương
lai vì với 41 chủng vi khuẩn phân lập
tại Việt Nam được ANSORP khảo
sát, có 1 chủng (2.4%) là có kiểu hình

Đa Khoa Đà Nẵng, BV. Đa Khoa
Cần Thơ, BV. An Bình, BV. Nguyễn
Tri Phương, BV. Nhân Dân Gia
Định, BV. Nhi Đồng 1, và BV. Chấn
Thương Chỉnh Hình Trần Hưng Đạo.
Trung tâm thực hiện nghiên cứu là
Bộ Môn Vi Sinh, Khoa Y, Đại Học Y
Dược TP. Hồ Chí Minh, phối hợp với
công ty Nam Khoa.
Vi khuẩn nghiên cứu là các chủng
Staphylococci phân lập từ các bệnh
phẩm khác nhau được lâm sàng gửi
đến phòng thí nghiệm vi sinh của
bệnh viện để nuôi cấy và làm kháng
sinh đồ theo qui trình thường qui
trong thời gian từ tháng 9/2003 đến
1/2005. Các chủng vi khuẩn được
chọn đưa vào nghiên cứu là các
chủng vi khuẩn được phân lập từ
bệnh phẩm và phân lập lần đầu trên
bệnh nhân. Loại trừ các chủng phân
lập lần sau trên cùng một bệnh nhân,
các chủng phân lập từ các bệnh phẩm
khác nhau trên cùng một bệnh nhân.
Cũng không chọn các chủng phân lập
từ môi trường (dụng cụ, không khí,
thiết bị), hay là các chủng phân lập từ
người mang (nhân viên y tế, thân
nhân bệnh nhân). Các chủng vi khuẩn
được lựa chọn này được cấy giữ

trường thạch máu cừu ủ 35
o
C qua
đêm để có các khúm đặc trưng. Sau
đó chọn các khúm đặc trưng để thực
hiện kháng sinh đồ phương pháp
khuếch tán kháng sinh trên thạch theo
các chuẩn mực của NCCLS phiên
bản 2004
(5)
. Môi trường làm kháng
sinh đồ là các đĩa thạch Mueller
Hinton tiêu chuẩn (MHA
®
, Nam
Khoa co., Ltd.). Đĩa kháng sinh làm
kháng sinh đồ có nguồn gốc từ công
ty Biorad (Mỹ). Vi khuẩn được dùng
kiểm tra chất lượng cho phương pháp
và vật liệu làm kháng sinh đồ là vi
khuẩn S. aureus ATCC 25923 do
công ty Nam Khoa cung cấp và có
nguồn gốc từ hãng BD (Mỹ). Các
hộp thạch làm kháng sinh đồ sau khi
được ủ trọn 24 giờ ở tủ ấm 35
o
C
được đọc kết quả bằng cách đo
đường kính vòng vô khuẩn bằng mm
tròn, và sau đó đối chiếu với bản tiêu

methicillin (MSSA). Như vậy tỷ lệ
MRSA trong các chủng vi khuẩn S.
aureus nghiên cứu là 47%.
2.Tình hình S. aureus đề kháng một
số kháng sinh tiêu biểu không phải
beta-lactams
Biểu đồ 1: Tỷ lệ đề kháng một
số kháng sinh tiêu biểu
không phải beta-lactams của
MRSA so với MSSA
Tỷ lệ đề kháng một số kháng sinh
tiêu biểu không phải beta-lactams của
MRSA so với MSSA được trình bày
trên biểu đồ 1. Nhìn một cách tổng
quát trên biểu đồ, chúng ta thấy
MRSA có tỷ lệ đề kháng các kháng
sinh cao hơn MSSA. Nhìn chi tiết,
MRSA kháng rất cao với
Erythromycin (76%), Azithromycin
(88%), Gentamicin (67%),
Ciprofloxacin (65%), Cotrimoxazol
(47%), Chloramphenicol (43%), và
Levofloxacin (35%). MRSA kháng
Rifampicin ở tỷ lệ 15% và hoàn toàn
chưa kháng với Vancomycin (0%) và
Linezolid (0%). So với MSSA tỷ lệ
đề kháng các kháng sinh trên có thấp
hơn, như kháng Erythromycin và
Azithromycin là 50%, kháng
Gentamicin chỉ 19%, kháng

2
72
1
100
96
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
MRSA (110) MSSA (125)
Biểu đồ 2: Tỷ lệ đề kháng một
số kháng sinh beta-lactams
của MRSA so với MSSA
Tỷ lệ đề kháng một số kháng sinh
beta-lactams của MRSA so với
MSSA được trình bày trên biểu đồ 1.
Nhìn một cách tổng quát trên biểu đồ,
ngoại trừ tỷ lệ đề kháng của cả
MRSA và MSSA đối với penicillin
đều rất cao (100% và 96%), chúng ta
thấy MRSA có tỷ lệ đề kháng các
kháng sinh beta-lactams cao hơn
MSSA rất nhiều. Phân tích chi tiết

quả vi khuẩn kháng hay nhạy đối với
oxacillin để kết luận vi khuẩn MRSA
hay MSSA thì vẫn có thể bỏ sót một
tỷ lệ MRSA trong nhóm MSSA.
Chính vì vậy, ngoài tiêu chuẩn kháng
hay nhạy với oxacillin, NCCLS còn
đưa ra phương pháp sàng lọc mecA
dựa trên đường kính vòng vô khuẩn
đối với đĩa cefoxitin và phải biện
luận vi khuẩn kháng methicillin khi
sàng lọc mecA [+] mặc dù đường
kính vô khuẩn đối với oxacillin vẫn
là đường kinh nhạy cảm
(5)
. Rất tiếc là
trong nghiên cứu này chúng tôi
không có sẵn đĩa cefoxitin, do vậy
nên chắc chắn tỷ lệ MRSA có thể sẽ
cao hơn con số 47% được phát hiện.
2.Ý nghĩa của việc phân biệt MRSA
và MSSA
NCCLS đã cho biết rằng S. aureus
kháng methicillin có nghĩa là kháng
được tất cả các β-lactam, và có thể
kháng được aminoglycosides và
macrolides
(5)
. Chính vì vậy phát hiện
kháng methicillin trên S. aureus có
thể được xem như phát hiện một

(5)
.
3.Tình hình đề kháng kháng sinh của
S. aureus
Trong công trình nghiên cứu này, tỷ
lệ S. aureus đề kháng với nhiều
kháng sinh khá cao: 42% đối với
gentamicin, 63% đối với
erythromycin, 68% đối với
azithromycin, 39% đối với
ciprofloxacin, 38% đối với
cefuroxime, 30% đối với amoxicillin-
clavulanic acid, 34% đối với
cefepime, 28% đối với ticarcillin
clavulanic acid, 38% đối với
chloramphenicol, 25% đối với
cotrimoxazol, 17% đối với
levofloxacin. Vi khuẩn kháng thấp
với rifampicin: 8%. Rất may là vi
khuẩn không đề kháng với
vancomycin và linezolide là hai
kháng sinh hiện nay được xem là đặc
trị vi khuẩn S. aureus kháng
methicillin. Hầu như 100% vi khuẩn
kháng với penicillin. Số liệu ghi nhận
này gần như tương tự với số liệu mà
chúng tôi có được trong một công
trình nghiên cứu đa trung tâm về tình
hình đề kháng kháng sinh của các vi
khuẩn nhiễm trùng bệnh viện được

cũng cao hơn hai công trình nghiên
cứu mà chúng tôi đã thực hiện: 71%
đối với erythromycin, 77% đối với
gentamicin, 56% đối với
cotrimoxazol, 54% đối với
ciprofloxacin. Sở dĩ S. aureus kháng
methicillin thường kéo theo sự đề
kháng các kháng sinh khác là vì cơ
chế đề kháng của S. aureus đối với
methicillin là biến đổi protein bám
penicillin (PBP) chỉ do một gen qui
định (mecA) và kháng thuốc kiểu này
là kháng thuốc một cấp, nghĩa là một
khi đã đề kháng được methicillin thì
vi khuẩn đề kháng được tất cả các
kháng sinh β-lactam và có thể kháng
các kháng sinh khác nữa
(6)
. So sánh
với các tình hình đề kháng kháng
sinh của S. aureus trên thế giới,
chúng tôi cho rằng dù tỷ lệ đề kháng
có khác nhau, nhưng nhìn chung là số
liệu của công trình ngiên cứu của
chúng tôi không khác biệt mấy so với
các nghiên cứu khác: như S. aureus
kháng methicillin tại Đài Loan
(7)
đến
60%, tại Tây Ban Nha là 62%, và kéo

cho thấy rằng linezolide là một kháng
sinh rất hữu hiệu trong áp dụng điều
trị các tình trạng nhiễm trùng khác
nhau do Staphylococci và
Enterococci, và cho đền nay 100% vi
khuẩn thử nghiệm đều nhạy cảm với
linezolide. Công trình nghiên cứu này
của chúng tôi cũng cho thấy S.
aureus hoàn toàn không đề kháng với
linezolide và với vancomycin. Chính
vì vậy, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng
rằng linezlide sẽ mang đến thêm một
chọn lựa nữa cho các nhà lâm sàng
để điều trị các trường hợp nhiễm
trùng do S. aureus kháng methicillin,
một nhiễm trùng mà trước đây các
nhà lâm sàng chỉ có một chọn lựa
duy nhất để điều trị, đó là
vancomycin hay teicoplanin.
Tài liệu tham khảo
1.Song J.H. Surveillance of
antimicrobial resistance – Strategic
plan in Asia. WPCID 2004
2.Van P.H. Kết quả nghiên cứu đa
trung tâm về tình hình đề kháng
kháng sinh của các vi khuẩn nhiễm
trùng bệnh viện. Đề tài được BMS tài
trợ năm 1998.
3.Ninh N.T. và Van P. H. Khảo sát tình
hình đề kháng kháng sinh của các tác

studies, 1986 to 2002. Antimicrob
Agents Chemother. 2004
Nov;48(11):4240-5.
9. Bozdogan B, Appelbaum PC.
Oxazolidinones: activity, mode of
action, and mechanism of resistance.
Int J Antimicrob Agents. 2004
Feb;23(2):113-9.
10. Narang M, Gomber S. Linezolid.
Indian Pediatr. 2004
Nov;41(11):1129-32.
11. Meka VG, Gold HS.
Antimicrobial resistance to linezolid.
Clin Infect Dis. 2004 Oct
1;39(7):1010-5. Epub 2004 Sep 10.
12. Ertek M, Yazgi H, Aktas E,
Ayyildiz A, Parlak M. Sensitivity of
methicillin resistant staphylococci to
linezolid and some other
antimicrobial agents. Mikrobiyol Bul.
2003 Oct;37(4):235-40.
13. Poiata A, Tuchilus C, Badicut I,
Grigore L, Buiuc D.
In vitro susceptibility of
staphylococci to linezolid and other
antimicrobial agents. Roum Arch
Microbiol Immunol. 2002 Oct-
Dec;61(4):293-9.
14. Muller-Serieys C, Drugeon HB,
Etienne J, Lascols C, Leclercq R,

7;4(1):2.
18. Miletin J, Melichar J, Janota J,
Mikolagova B, Jedlickova A, Kucera
J, Cunat V, Stranak Z. The first
experience with linezolide in
treatment of nosocomial septic
condition in premature neonates.
Ceska Gynekol. 2004 Dec;69 Suppl
1:102-4.
19. Bassetti M, Vitale F, Melica G,
Righi E, Di Biagio A, Molfetta L,
Pipino F, Cruciani M, Bassetti D.
Linezolid in the treatment of Gram-
positive prosthetic joint infections. J
Antimicrob Chemother. 2005
Mar;55(3):387-90. Epub 2005 Feb
10.
20. Rao N, Ziran BH, Hall RA,
Santa ER. Successful treatment of
chronic bone and joint infections
with oral linezolid. Clin Orthop Relat
Res. 2004 Oct;(427):67-71.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status