LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn
tại và phát triển. Môi trường cạnh tranh này ngày càng gay gắt, trong cuộc
cạnh tranh đó có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất kinh doanh,
nhưng không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại
trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng
hóa, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín nhằm đạt tới mục
tiêu tối đa lợi nhuận.
Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng
cao càng tốt. Do đó, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh
luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống
còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thương trường. Qua phân
tích hoạt động kinh doanh giúp cho các nhà quản trị đánh giá đầy đủ, chính
xác mọi diễn biến và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, biết được những
mặt mạnh, mặt yếu của công ty trong mối quan hệ với môi trường xung quanh
để củng cố, phát huy hay cần phải khắc phục, cải tiến. Đồng thời biết được
một số nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh để từ đó có biện pháp
khắc phục. Thêm vào đó có thể giúp cho các doanh nghiệp phát huy mọi tiềm
năng và khai thác tối đa mọi nguồn lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh
doanh. Kết quả của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở để các
nhà quản trị ra quyết định ngắn hạn hay dài hạn. Ngoài ra, phân tích hiệu quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể đề phòng và hạn chế những rủi
ro trong kinh doanh, đồng thời cũng có thể dự đoán được các điều kiện kinh
doanh trong thời gian sắp tới. Thấy được tầm quan trọng cũng như những lợi
ích mà việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mang lại cho công ty
nên em đã chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi
nhuận trước thuế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công
1
Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thiết Bị Giáo Dục và Nội Thất Tín Nghĩa”.
Khoá luận chia thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích lợi nhuận trước thuế trong
Phân tích hoạt động kinh doanh nhằm đánh giá, xem xét việc thực hiện
cá chỉ tiêu kinh tế như thế nào, những mục tiêu đặt ra được thực hiện đến đâu,
rút ra kinh những tồn tại, tìm ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và
đề ra biện pháp khắc phục để tận dụng một cách triệt để thế mạnh của doanh
nghiệp. Điều đó cũng có nghĩa rằng phân tích hoạt động kinh doanh không
3
chỉ là điểm kết thúc một chu kỳ kinh doanh mà còn là điểm khởi đầu của hoạt
động doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động kinh doanh gắn liền với quá trình hoạt động của
doanh nghiệp và có tác dụng giúp doanh nghiệp chỉ đạo mọi mặt hoạt động
sản xuất kinh doanh. Thông qua phân tích từng mặt hoạt động của doanh
nghiệp như công tác chỉ đạo sản xuất, công tác tổ chức tiền lương, công tác
mua bán, công tác quản lý, công tác tài chính… giúp doanh nghiệp điều hành
từng mặt hoạt động cụ thể với sự tham gia cụ thể của từng phòng ban chức
năng, từng bộ phận đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp. Nó là công cụ quan
trọng để liên kết hoạt động của các bộ phận này làm cho hoạt động chung của
doanh nghiệp được ăn khớp, nhịp nhàng và đạt hiệu quả cao.
1.1.3 Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết quả kinh doanh mà ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai
đoạn riêng biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng
hay có thể là kết quả tổng hợp của quá trình kinh doanh, kết quả tài chính
Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta hướng vào kết quả thực hiện
các định hướng mục tiêu kế hoạch, phương án đặt ra.
Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh
tế. Chỉ tiêu là sự xác định về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh.
Nội dung chủ yếu của phân tích kết quả là phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh
doanh mà DN đã đạt được trong kỳ, như doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất,
giá bán, lợi nhuận Tuy nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh
chúng ta phải luôn luôn đặt trong mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của
quá trình kinh doanh như lao động, vật tư, tiền vốn, Ngược lại, chỉ tiêu chất
- Trước hết theo tính tất yếu của các nhân tố: có thể phân thành 2 loại:
Nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
Nhân tố khách quan là loại nhân tố thường phát sinh và tác động như
một yêu cầu tất yếu nó không phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh
doanh. Kết quả hoạt động của mỗi DN có thể chịu tác động bởi các nguyên
nhân và nhân tố khách quan như sự phất triển của lực lượng sản xuất xã hội,
luật pháp, các chế độ chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, môi trường, vị
trí kinh tế xã hội, về tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng. Các nhân tố này
làm cho giá cả hàng hoá, giá cả chi phí, giá cả dịch vụ thay đổi, thuế suất, lãi
suất, tỷ suất tiền lương cũng thay đổi theo.
Nhân tố chủ quan là nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu phụ
thuộc vào nỗ lực chủ quan của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tố
như: trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố
khách quan của DN làm ảnh hưởng đến giá bán, mức chi phí thời gian lao
động, lượng hàng hoá, cơ cấu hàng hoá vv.
- Theo tính chất của các nhân tố có thể chia ra thành nhóm nhân tố số
lượng và nhóm các nhân tố chất lượng.
Nhân tố số lượng phản ánh quy mô kinh doanh như: Số lượng lao động,
vật tư, lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ Ngược lại, nhân tố chất lượng
thường phản ánh hiệu suất kinh doanh như: Giá bán, tỷ suất chi phí, năng suất
lao động Phân tích kết quả kinh doanh theo các nhân tố số lượng và chất
lượng vừa giúp ích cho việc đánh giá chất lượng, phương hướng kinh doanh,
vừa giúp cho việc xác định trình tự sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính
toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh.
- Theo xu hướng tác động của nhân tố, thưòng người ta chia ra các nhóm
nhân tố tích cực và nhóm nhân tố tiêu cực.
6
Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động tốt hay làm tăng độ lớn của
hiệu quả kinh doanh và ngược lại nhân tố tiêu cực tác động xấu hay làm giảm
quy mô của kết quả kinh doanh. Trong phân tích cần xác định xu hướng và
Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa
kết quả đạt được so với các mục tiêu kế hoạch, dự đoán, định mức… đã đặt ra
để khẳng định đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng, trên một số mặt
chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh.
Ngoài quá trình đánh giá trên, phân tích cần xem xét đánh giá tình hình
chấp hành qui định, các thể lệ thanh toán, trên cơ sở tôn trọng pháp luật của
nhà nước đã ban hành và luật lệ kinh doanh quốc tế.
Thông qua quá trình kiểm tra đánh giá, người ta có được cơ sở, là cơ sở
định hướng để nghiên cứu sâu hơn các bước sau, nhằm làm rõ các vấn đề mà
doanh nghiệp cần quan tâm.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân
gây ra các mức độ ảnh hưởng đó
Biến động của chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây
nên, do đó ta phải xác định trị số của nhân tố và tìm nguyên nhân gây nên
biến động cỉa trị số nhân tố đó.
Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác các tiềm năng và khắc phục
những tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh quá kết quả chung chung
mà cũng không chỉ dừng lại ở chỗ xác định nhân tố và tìm nguyên nhân mà
phải từ cơ sở nhận thức đó phát hiện các tiềm năng cần được khai thác, và
8
những chỗ tồn tại yếu kém nhằm đề suất giải pháp, phát huy thế mạnh và
khắc phục tồn tại ở doanh nghiệp mình.
Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã định
Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh là để nhận
biết tiến độ thực hiện và những nguyên nhân sai lệch xảy ra ngoài ra còn giúp
cho doanh nghiệp phát hiện những thay đổi có thể xảy ra tiếp theo. Nếu như
kiểm tra và đánh giá đúng đắn, nó có tác dụng giúp doanh nghiệp điều chỉnh
kế hoạch và đề ra những giải pháp tiến hành trong tương lai.
Định kỳ phải tiến hành kiểm tra và đánh giá trên mọi khía cạnh hoạt
-
Các
khoản
giảm
trừ
-
Giá vốn
hàng
bán
+
Doanh
thu
HĐTC
-
Chi
phí tài
chính
-
Chi
phí
bán
hàng
-
Chi
phí
quản
lý
+
Thu
nhập
: Giá vốn hàng hóa i
DTTC: Doanh thu tài chính
CPTC: Chi phí tài chính
CPBH: Chi phí bán hàng
CPQL: Chi phí quản lý doanh nghiệp
TNK : Thu nhập khác
CPK : Chi phí khác
Lợi nhuận trước thuế kỳ gốc:
Lợi nhuận trước thuế kỳ phân tích:
LNTT
1
= ∑Q
i1
P
i1
- KGT
1
- ∑ Q
i1
G
vi1
+ DTTC
1
- CPTC
1
- CPBH
1
- CPQL
1
+ TNK
pháp số cân đối.
Quá trình vận dụng phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số
cân đối để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
được thực hiện như sau:
11
a) Nhân tố khối lượng tiêu thụ
Thay thế khối lượng hàng hóa tiêu thụ kỳ gốc bằng kỳ thực tế trong điều
kiện giả định nhân tố kết cấu mặt hàng và các nhân tố khác không đổi. Mục
đích của việc thay thế này nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố sản
lượng đến lợi nhuận trước thuế.
Thay đổi khối lượng sản phẩm tiêu thụ kỳ gốc bằng thực tế trong điều
kiện kết cấu mặt hàng không đổi nghĩa là thay đổi khối lượng sản phẩm tiêu
thụ gốc bằng thực tế với giả định tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tiêu thụ từng mặt
hàng đều bằng nhau và bằng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tiêu thụ chung. Lúc
đó, lợi nhuận trong trường hợp này tăng giảm theo tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
tiêu thụ chung.
Gọi Q’
1
là khối lượng sản phẩm tiêu thụ kỳ được thực tế trong điều kiện
kết cấu không đổi thì ta có:
Q’
1i
= K*Q
0i
'
1 0
1 1
0
0 0
1
Lợi nhuận trước thuế trong trường hợp này là:
12
→Mức độ ảnh hưởng của nhân tố khối lượng tiêu thụ đến lợi nhuận trước
thuế là:
∆ LNTT(Q) = LNTT
01
– LNTT
0
= (K – 1)*∑Q
0i
(P
0i
– G
v0i
)
b) Nhân tố kết cấu mặt hàng
Thay kết cấu mặt hàng kỳ gốc bằng bằng kết cấu mặt hàng thực tế trong điều
kiện các nhân tố khác không đổi. Mục đích của việc thay thế này nhằm xác
định mức độ ảnh hưởng của nhân tố kết cấu mặt hàng đến lợi nhuận.
Thay thế kết cấu mặt hàng gốc bằng thực tế nghĩa là thay đổi khối
lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế với kết cấu mặt hàng kỳ gốc bằng khối lượng
sản phẩm tiêu thụ thực tế với kết cấu mặt hàng kỳ thực tế (thay thế Q’
1i
=
Q
1i
).
Lợi nhuận trong trường hợp này là:
→ Mức độ ảnh hưởng của nhân tố kết cấu mặt hàng đến chỉ tiêu phân
tích: ∆ LNTT(K/c) = LNTT
) = LNTT
03
– LNTT
02
Hay ∆ LNTT(G
v
) = - ∑Q
1i
(G
v1i
– G
v0i
)
d) Nhân tố giá bán
Thay thế giá bán kỳ gốc bằng giá bán thực tế. Mục đích của việc thay
thế này nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố giá bán đến lợi nhuận
trước thuế. Lợi nhuận trước thuế trong trường hợp này là:
→ Mức độ ảnh hưởng của nhân tố giá bán đến lợi nhuận trước thuế là:
∆ LNTT(P) = LNTT
04
– LNTT
03
Hay ∆ LNTT(P) = ∑Q
1i
(P
1i
– P
0i
)
e) Nhân tố các khoản giảm trừ doanh thu
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố Chi phí quản lý doanh nghiệp đến chỉ
tiêu phân tích là: ∆ LNTT(CPQL) = - (CPQL
1
– CPQL
0
)
k) Nhân tố Thu nhập khác
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố Thu nhập khác đến chỉ tiêu phân tích là:
∆ LNTT(TNK) = TNK
1
– TNK
0
m) Nhân tố Chi phí khác
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố Chi phí khác đến chỉ tiêu phân tích là:
∆ LNTT(CPK) = - (CPK
1
– CPK
0
)
=> Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:
∆LNTT = ∆LNTT(Q) + ∆LNTT(K/c) + ∆LNTT(G
v
) + ∆LNTT(P)
∆LNTT(KGT) + ∆LNTT(KGT) + ∆LNTT(CPTC)
∆LNTT(CPBH) + ∆ LNTT(CPQL) + ∆ LNTT(TNK).
1.2.3 Phương pháp xác định tính chất tác động của các nhân tố đến lợi
nhuận trước thuế.
a) Nhân tố khối lượng tiêu thụ
* Chiều hướng tác động: Khối lượng tiêu thụ tác động cùng chiều đến lợi
nhuận trước thuế. Khi giá cả ổn định, khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
thị hiếu của người tiêu dùng, có như vậy mới thoả mãn được nhu cầu của
khách hàng mới mong tăng tốc độ tiêu thụ. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng
không nhỏ tới lượng cầu trên thị trường. Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn
nếu hàng hóa hợp với thị hiếu và thiết yếu đối với họ.
* Biện pháp khắc phục tình hình:
+ Chú trọng nâng cao chất lượng hàng hóa, sản phẩm; xây dựng chính
sách giá bán hợp lý.
+ Áp dụng các biện pháp quảng cáo, khuyến mại nhằm giới thiệu sản
phẩm tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.
+ Tổ chức tốt kênh phân phối và dịch vụ sau bán sẽ làm tăng tốc độ tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa cuả các doanh nghiệp.
b) Nhân tố kết cấu
* Chiều hướng tác động: Xu hướng tác động của nhân tố kết cấu mặt
hàng còn đến lợi nhuận trước thuế kèm theo tỷ suất lợi nhuận gộp của mặt
hàng đó. Nhóm hàng có tỷ suất lợi nhuận cao thì đem lại nhiều lợi nhuận cho
doanh nghiệp và ngược lại. Vì vậy, trong kết cấu hàng hoá tiêu thụ tăng khối
lượng hàng hoá có tỷ suất lợi nhuận cao thì tổng lợi nhuận sẽ tăng.
* Nguyên nhân dẫn đến sự biến động của nhân tố kết cấu:
- Nguyên nhân khách quan: do tác động của quy luật cạnh tranh và quy
luật cung cầu trên thị trường.
- Nguyên nhân chủ quan: do chính sách kích cầu của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ.
* Biện pháp khắc phục: Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, đánh giá
đúng tình hình cạnh tranh, và nhu cầu của thị trường để có chính sách kích
cầu phù hợp.
17
c) Nhân tố giá vốn hàng bán
* Chiều hướng tác động: Giá vốn đơn vị sản phẩm tác động ngược
chiều đến chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế. Khi giá vốn tăng sẽ làm cho lợi nhuận
giảm và ngược lại.
doanh thu
- Nguyên nhân chủ quan: khi chất lượng, số lượng hàng hóa không
cung cấp cho khách hàng không đạt yêu cầu, giao hàng hóa không đúng qui
định sẽ làm phát sinh các khoản hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán, chiết
khấu thương mại.
- Nguyên nhân khách quan là do thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp
buộc phải thực hiện giảm giá bán để nâng cao sức cạnh tranh, thu hút khách
hàng.
* Biện pháp khắc phục: Dẫn đến sự gia tăng của các khoản giảm trừ
doanh thu, chủ yếu là do nguyên nhân từ phía doanh nghiệp nên biện pháp
cần áp dụng là nâng cao chất lượng hàng hóa, hoàn thiện công tác quản lý
trong nội bộ doanh nghiệp, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động.
f) Nhân tố Doanh thu tài chính
* Chiều hướng tác động: Doanh thu tài chính có mối quan hệ cùng
chiều với lợi nhuận trước thuế, doanh thu tài chính tăng thì lợi nhuận trước
thuế tăng và ngược lại.
* Nguyên nhân dẫn đến sự biến động của nhân tố doanh thu tài chính:
Tác động đến nhân tố này chủ yếu là do nguyên nhân khách quan như: tình
19
hình thị trường ngoại hối, chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ, tình
hình hoạt động của các doanh nghiệp tham gia liên doanh trong nền kinh tế
* Biện pháp: Doanh nghiệp cần phải theo dõi, nắm bắt kịp thời thông
tin của thị trường tài chính, thị trường vốn, thị trường đầu tư để xây dựng
chính sách tài chính phù hợp.
g) Nhân tố Chi phí tài chính
* Chiều hướng tác động: Chi phí tài chính tác động ngược chiều đến
chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp. Chi phí tài chính tăng làm cho
lợi nhuận giảm và ngược lại.
* Nguyên nhân gây ra sự biến động của chi phí tài chính:
- Nguyên nhân khách quan: chính sách tài chính – tiền tệ của Chính
doanh nghiệp, trình độ quản lý của ban lãnh đạo…
- Nguyên nhân khách quan như: chính sách tiền lương tối thiểu của
Chính phủ, giá cả các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường cần thiết cho công tác
quản lý của doanh nghiệp….
*Biện pháp giảm chi phí quản lý nhằm tăng lợi nhuận: nâng cao trình
độ quản lý, có chính sách sử dụng lao động và tài sản phù hợp, thực hiện tiết
kiệm trong toàn doanh nghiệp, xử phạt đối với trường hợp làm lãng phí, khen
thưởng đối với những cá nhân và bộ phận sử dụng tiết kiệm
k) Nhân tố Thu nhập khác
* Chiều hướng tác động: Thu nhập khác tác động cùng chiều đến lợi
nhuận trước thuế của doanh nghiệp. Thu nhập khác tăng làm lợi nhuận tăng
và ngược lại.
* Nguyên nhân gây ra sự biến động của nhân tố thu nhập khác:
21
- Tác động đến nhân tố thu nhập khác chủ yếu là nguyên nhân khách
quan do đây là các khoản thu nhập không mang tính thường xuyên, không
xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như: các khoản
nợ khó đòi nay đòi lại được, thu được tiền phạt do đối tác vi phạm hợp
đồng,
- Nguyên nhân chủ quan như: chính sách sử dụng và thanh lý tài sản cố
định, việc bán và cho thuê tài sản của doanh nghiệp…
* Biện pháp giúp làm tăng thu nhập khác góp phần làm tăng lợi nhuận:
theo dõi chặt chẽ các khoản nợ khó đòi, có chính sách sử dụng tài sản phù
hợp…
m) Nhân tố Chi phí khác
* Chiều hướng tác động: Chi phí khác tác động ngược chiều đến lợi
nhuận trước thuế. Chi phí khác tăng làm lợi nhuận giảm và ngược lại.
là các khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt với
hoạt động thông thường của các doanh nghiệp. Chi phí khác của doanh
nghiệp bao gồm: chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giá trị còn lại
phướng pháp so sánh, các phương pháp khác như phương pháp chi tiết,
phương pháp loại trừ…
Về nhân sự: việc phân tích lợi nhuận được phân công cho một số nhân
viên trong phòng kế toán đảm trách mặc dù còn mang tính kiêm nhiệm nhưng
cũng giúp cho các cấp quản trị có đánh giá khái quát tình hình lợi nhuận trong
giai đoạn quá khứ để đưa ra các biện pháp quản lý doanh thu và chi phí nhằm
nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
23
Về kỳ phân tích: Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh thì hiện nay, các
doanh nghiệp phân tích chia làm ba hình thức: phân tích trước khi kinh doanh,
phân tích trong kinh doanh, phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh.
Kết hợp cả ba hình thức giúp cho doanh nghiệp cáo sự đánh giá toàn diện, sâu
sắc hơn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân tích trước khi kinh doanh còn được gọi là phân tích tương lai, nhằm
dự báo, dự đoán cho các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai. Phân tích
tương lai được sử dụng nhiều và thích hợp với các DN trong nền kinh tế thị
trường. Bởi vì trong cơ chế thị trường toàn bộ các yếu tố đầu vào cũng như
các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp đều phải tự tính toán, nên họ phải sử dụng
các phương pháp phân tích tương lai để nhận thức được tình hình biến động
của thị trường từ đó để đề ra các mục tiêu kế hoạch.
Phân tích trong KD còn được gọi là phân tích hiện tại (hay tác nghiệp),
là quá trình phân tích cùng với quá trình KD. Hình thức này rất thích hợp cho
chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh những sai lệch lớn giữa
kết quả thực hiện so với mục tiêu đặt ra.
Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh còn gọi là phân tích quá
khứ. Quá trình phân tích này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so
với kế hoạch hoặc định mức được xây dựng và xác định nguyên nhân ảnh
hưởng đến kết quả đó. Kết quả phân tích cho ta nhận thức được tình hình thực
hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đặt ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp
theo.