cơ chế tác dụng và điều trị của sóng ngắn - Pdf 15

CƠ CHẾ TÁC DỤNG VÀ ĐIỀU TRỊ
CỦA SÓNG NGẮN
1. Tương tác giữa sóng ngắn và cơ thể sống
Bản chất của sóng ngắn chính là điện trường cao tần, mà cơ thể sống là một môi
trường dẫn điện vì cấu trúc có H
2
O, muối, ion âm, ion dương,…Nên khi đặt phần
cơ thể vào giữa điện từ trường cao tần này, trong cơ thể sẽ xuất hiện dòng dẫn và
dòng dịch chuyển.
- Dòng dẫn : sinh ra nhiệt do điện trở của mô. Nhiệt sinh ra theo công thức sau :
Q = I
2
. R.t
Trong đó Q : năng lượng nhiệt ( J)
I : cường độ dòng dẫn ( A)
R : điện trở (Ω )
t : thời gian (s)
- Dòng dịch chuyển : thực chất không phải là dòng điện mà do sự phân cực của tổ
chức. Trong cơ thể, đa số các tổ chức đều có màng ngăn cách giữa các cơ phận với
nhau hoặc các tổ chức riêng biệt, chia các tổ chức ra thành những ngăn độc lập.
Nên khi có điện trường ngoài áp vào, thì các ion sẽ tích tụ trên tế bào, mô sống,
trong các tổ chức sinh vật, tạo ra quá trình phân cực điện dưới tác dụng của điện
trường ngoài

1
Hình 1 . Sự phân cực trong tổ chức sống
Tương quan giữa dòng dẫn và dòng dịch chuyển sinh ra trong tổ chức như một
mạch điện với một điện trở và một tụ điện mắc song song của một điện thế xoay
chiều.
Hiệu ứng điện đối với mỗi tổ chức phụ thuộc vào hằng số điện môi và độ dẫn điện
của tổ chức đó. Sau đây là đồ thị thể hiện sự phụ thuộc vào tần số của hằng số điện

0
K) là nhiệt độ gia tăng hấp thụ sóng ngắn
SAR ( W/kg )
t ( s) : thời gian hấp thụ sóng ngắn
C ( J/Kg.
0
K) : nhiệt dung riêng của mô
Tiêu chuẩn Châu Âu quy định SAR ≤ 4 W/ Kg
Ta có SAR được tính theo công thức sau :
ρ
σ
2
.E
SAR =
(2)
Với σ (S/m): độ dẫn điện của mô
E ( V/m): cường độ điện trường
ρ (kg/m
3
): khối lượng riêng của mô
Thay (2) vào (1) ta được
3
C
tE
T
.

2
ρ
σ

- Không dùng cho bệnh nhân mang máy tạo nhịp tim, cơ thể có cấy ghép kim loại.
- Phụ nữ mang thai.
- Không dùng cho người có u ác tính
- Không dùng cho bệnh nhân có bệnh lý chảy máu.
- Bệnh nhân đang bị nhiễm khuẩn.
- Tránh điều ở vùng bụng hoặc vùng xương chậu khi bệnh nhân đang trong chu kỳ
kinh nguyệt.
- Không điều trị cho bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ, nghẽn mạch.
- Không dùng sóng ngắn điều trị khi đã chụp X – quang hay xạ trị trong 6 tháng
trước.
- Không dùng sóng ngắn trên những mô đặc biệt như mắt, tinh hoàn,…
5. Liều tác dụng của sóng ngắn
Liều tác dụng của sóng ngắn phụ thuộc công suất phát của thiết bị, diện tích đầu
phát, vị trí đặt đầu phát và mức cảm nhận nhiệt của bệnh nhân. Trong điều trị
thường chia thành 4 loại liều :
• Không ấm : Công suất dưới 40 W
• Hơi ấm : Công suất khoảng 50 – 70 W
• Ấm : Công suất khoảng 70 – 100 W
• Hơi nóng : Công suất khoảng 100 – 150 W
Trên 150 W sẽ gây ra cảm giác nóng, rất ít khi sử dụng liều điều trị này.
Thời gian điều trị 1 lần khoảng 5 – 20 phút tuỳ thuộc vào bệnh lý cấp tính hay mãn
tính. Cấp tính thì thời gian ngắn, mãn tính để thời gian lâu hơn, 1 liệu trình khoảng
10 – 15 lần, có thể 1- 2 ngày/ 1 lần.
Một vài vùng điều trị thường gặp :
• Vùng mũi, khoang mũi : điện cực cách da 0.5 – 1 cm, liều hơi ấm.
• Vùng tai : 1 cm, liều hơi ấm
5
• Vùng ngực : 3 cm, liều hơi ấm
• Khớp : 1 – 3 cm, liều hơi nóng
• Bề mặt vết thương : diện tích điện cực phải lớn hơn diện tích vết thương,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status