ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ CÓ TÁC PHẨM HAY
1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác
phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó
vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác
nhau.
Cũng đã một lần ở Hải Phòng (tháng 4/2002), nhân kỷ niệm 20 năm mất
Nguyên Hồng, tôi đã có nói đến chuyện Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong
những nhà Thơ Mới”, nhưng chỉ mười năm sau đã không thể cảm nổi thơ
Nguyễn Đình Thi, cho đó là thơ dở, là thơ “đầu Ngô mình Sở”. Cái hay của
Xuân Diệu, như thế, đã khác cái hay của Nguyễn Đình Thi. Trong những
cuộc tranh luận văn học thời gian qua (mà nói đúng ra thì phần nhiều là cãi
nhau ngoài văn chương), có một câu mà một bên tranh cãi hay chốt lại: viết
gì thì viết, miễn là hay. Thực ra câu đó chỉ là một câu cãi cùn, ở thế bí, vì cái
hay không phải là cái thước mét mà đem đo vào mọi vật, mọi thứ của lĩnh
vực sáng tạo ngôn từ. Vụ tranh luận quanh tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” của
Nguyễn Quang Thiều dạo nào là một thí dụ. Một bên cho là tác giả viết
“tây” quá, không Việt, và thế là thơ Thiều không hay. Một bên (có tôi trong
đó) bảo chính cái lối viết tưởng như “tây” ấy là một cách tân, một cách làm
mới thơ của tác giả, và thơ Thiều hay vì thế. Thời gian đã cho thấy cái đúng
và cái hay ở về phía nào.
Vậy thế nào là hay? Có cái hay trong lối cũ, lối đã quen. Nhưng lại có cái
hay trong sự mới sự lạ. Mới lạ cả ở cái quen thuộc. Thơ lục bát đã hay, sẽ
vẫn hay. Nhưng thơ Tân hình thức, thơ dưới dạng “chát”, email, cũng hay,
sẽ hay. Tiểu thuyết tả thực đã hay, còn hay. Nhưng tiểu thuyết không tả
thực, viết lối hậu hiện đại, cũng hay, đang hay. Như bài thơ lục bát này của
Nguyễn Thế Hoàng Linh là hay hay không hay?
Tôi hỏi một không tám không
Chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì?
Chị tổng đài giọng nhu mì
À nhiều màu lắm vặt đi vẫn nhiều
Hình như là bạn đang yêu?
tại khát vọng sống tự do, khát vọng tự do cá nhân. Nhưng áp lực của truyền
thống, của cộng đồng, của dân tộc đè nặng xuống họ. “Tôi” trong truyện
nằm trên tấm phản ở trước bàn thờ. “Tấm phản mang quá khứ của gia đình
Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một đứa con dâu đĩ thõa đang ưỡn
ngửa căng rát đón chờ”. Chiếc bàn thờ che màn đỏ ở nhà Thụ là hiện thân,
là biểu tượng của quá khứ đó. Trước nó, “tôi” trong truyện bị hãm hiếp mà
không thể phản kháng, chống cự. Đồng lõa với nó là bà mẹ chồng và cô em
chồng, những người cam phận sống trong khuôn khổ quá khứ. Quá khứ là
tốt đẹp. Truyền thống là tốt đẹp. Do đó mọi sự cựa quậy muốn thoát khỏi cái
bóng quá khứ, truyền thống, đều bị coi là sai trái, tội lỗi.
Rộng ra nữa, đó là bóng đè của Trung Hoa đổ xuống Việt . Cả về chính trị,
xã hội và văn hóa. Gia đình Thụ là dòng dõi đế vương Trung Hoa. Cô gái,
vợ Thụ, đã bị cha chồng mình từ bàn thờ bước xuống đè bóng hãm hiếp, lần
đầu cô bị cưỡng bức, nhưng lần sau cô tự nguyện, sau đó nữa thì cam chịu,
vừa thỏa mãn vừa nhục nhã. Một người tình của cô gái trong Vu quy là
thương gia Trung Hoa. Trong cuộc tình, cô gái đã cong tấm thân mình lên
thành hình chữ S, “một hình chữ S. cố phản kháng” để không trở thành nô lệ
của ông ta. Nhưng gã tình nhân người Tàu này nói: “Trong tâm tưởng, em
luôn nghĩ em là nô lệ. Em nghĩ thế từ khi em chưa sinh ra, từ cả ngàn năm
nay. Em không có sự tự tin”. Và thế là: “Người tôi oằn xuống thẳng đơ,
phục tùng giọng nói, phục tùng ý nghĩ của ông. Không còn chữ S nữa mà là
chữ I, hai đầu xẹp nhép”. Cô gái đã thử một lần trốn chạy, nhưng rồi lại
quay về với lão ta để bị đối xử nô lệ một cách nhục nhã hơn. Tình cảnh Việt
dưới bóng đè Trung Hoa là vậy chăng. Họ đã không cam phận, đã tìm cách
vượt ra, nhưng dường như vẫn chưa thoát được cái bóng to lớn của người
láng giềng phương Bắc. Có thể lấy một liên tưởng ở đây tới đoạn văn
Nguyễn Huy Thiệp viết gần hai chục năm trước, cũng trong một truyện
ngắn: “Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái
đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú,
vừa nhục nhã, vừa căm thù nó”(Vàng lửa).
là cái duy nhất của cô gái (Việt ) thuộc về cô (Việt ). Còn bàn tay đó thì còn
ước mơ, còn hy vọng chống lại bóng đè.
Để chuyển tải được một thông điệp có nhiều lớp nghĩa như vậy, Bóng đè đã
được xây dựng như một ẩn dụ sâu sắc trong một câu chuyện nhiều nhục
cảm. Chính lối viết này là một sự táo bạo của tác giả, và nó là thích hợp cho
sự thể hiện chủ đề tác phẩm. Tình dục (hay sex) ở đây đã trở thành một yếu
tố nghệ thuật cần thiết. Bởi sự mô tả gần như tỉ mỉ, chi tiết cảm giác nhục
thể của nhân vật truyện là đồng thời mang ý nghĩa thực và hư, cụ thể và
tượng trưng. Vu quy cũng vậy, sự chung đụng của cô gái trong truyện với
mấy người tình là mang nghĩa tượng trưng, cô chưa biết tương lai đời mình
sẽ gắn bó với ai, chẳng lẽ là với xác ướp. Thân phận cô gái là thân phận đất
nước, vu quy vẫn chỉ là ước vọng.
Truyện ngắn Bóng đè hay là vì vậy, theo cách đọc văn bản nghệ thuật của
tôi. Có những người khác thấy nó là phản chính trị, phản đạo đức, thì đấy là
tùy cách đọc của họ. (Dịp này đang kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn
Du, tôi liên tưởng đến những nhà nho thủ cựu một thời coi Truyện Kiều là
“dâm thư” nên đã khuyên răn: “Đàn ông chớ đọc Phan Trần. Đàn bà chớ đọc
Thúy Vân Thúy Kiều”. Ôi chao, từ Truyện Kiều đến Bóng đè đã cách hai thế
kỷ rồi!). Như vậy là ở đây có sự khác nhau về quan niệm, về cách đọc. Tuy
nhiên, khác nhau thế nào thì cũng phải trên cơ sở văn bản in ra. Do đó, điều
kiện đủ cho tác phẩm hay là phải bắt đầu từ quan niệm hay như một quá
trình động, biện chứng. Và như thế thì không thể tiên quyết đứng trên một
quan niệm hay cố định, tĩnh tại để quyết định cái viết nào là được in ra, còn
cái viết nào là cấm in, cấm phát hành. Cuốn truyện Bóng đè được ra tại nhà
xuất bản Đà Nẵng, và hiện giờ nơi đó đang bị sức ép từ phía những ý kiến
phê phán nặng nề cuốn sách. Còn những ý kiến đánh giá cao tác phẩm thì
không được coi trọng từ phía quản lý xuất bản. Thế thì sao nào? Thế thì văn
học Việt khó có tác phẩm hay, nhất là những tác phẩm hay vượt ra ngoài
thói quen, khuôn khổ thông thường.
3. Nói rộng ra, để có tác phẩm hay, điều kiện đủ là phải có bầu không khí tự
nhanh, khiến cho người thơ nhìn người thơ thấy ngay được cái cốt lõi, cái
tương lai. Tập Thơ thơ xuất bản năm 1938, Thế Lữ viết tựa đã dám nói chắc
chắn: “Và từ đây chúng ta đã có Xuân Diệu. Loài người hãy hiểu con người
ấy!”. Trước đó một năm, chàng thi sĩ mang họ dân Chàm 16 tuổi tự mình
viết tựa Điêu tàn cho mình rất ngông và rất thực: “Thi sĩ không phải là
Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là
Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm
Tương Lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy
rằng những cái vô nghĩa hợp lý”.
Hàn Mặc Tử đề tựa Thơ điên (1939) của mình: “Tôi đã sống mãnh liệt và
đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát
triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt
sự sống. Thôi mời cô cứ vào. Ánh sáng lạ trong thơ tôi sẽ làm cho gò má cô
đỏ gấc. Và một khi cô đã vào là cô sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh không bờ
bến. Càng đi xa càng ớn lạnh”. Huy Cận viết trong Kinh cầu tự (1942): “Ta
nhớ lại những bà mẹ may áo cho con, trừ hai dài rộng: “lớn lên thì vừa”. Kẻ
đọc ta ơi! (ta không muốn gọi người là người bạn đọc) đừng phiền lòng nhé!
Ta đang may áo trừ hao cho người đây!”. Quả là sự điên cuồng của những
người dũng cảm hát ca lên. Và may sao sự điên cuồng đó đã có cơ hội thoát
ra để thành thơ. Thơ Mới là một thế hệ thi ca thành thực, một thời đại thi ca
tự do.
Điều kiện đủ này đang từng bước được xác lập. Và thế tất rồi phải được thực
hiện. Tự do ngôn luận, tự do sáng tạo là một quyền con người, và đối với
văn nghệ sĩ quyền đó càng thiêng liêng, thiết thân. Nhưng điều kiện cần là ở
chính tự người viết. Nhà văn phải luôn tự làm mới mình. Bổn phận nhà văn
là phải viết hay.
4. “Trong nghề văn khiêm tốn là một đức tính thừa!” - quan niệm này của
Gabriel García Marquez, nhà văn Columbia giải Nobel 1982, đáng là châm
ngôn của mọi người cầm bút. Trong quá trình học và đọc, luôn luôn có
những bậc thầy cho ta ngưỡng mộ, kính phục, yêu mến. Nhưng khi bắt tay
bằng tên tuổi mình. Cái hay, nhất là cái hay lối mới, thường gây dư luận, và
thường là dư luận trái chiều. Truyện “Cánh đồng bất tận” (Nguyễn Thị Ngọc
Tư) mọi người đồng thanh khen. Truyện “Bóng đè” mọi người khen chê trái
ngược nhau. Nhưng đó đều là hai truyện hay.
Muốn viết hay, vậy là, nhà văn còn cần phải có sự dũng cảm nữa. Dũng cảm
để tìm đường mở lối. Dũng cảm để tự tin vào mình. Dũng cảm để chịu đựng
những sự chưa hiểu, hiểu lầm, hiểu sai, cả những sự ác ý của người đời, khi
tác phẩm mình xuất hiện. Bài học của Walt Whitman với tập thơ “Lá cỏ”
đáng được đưa ra liên hệ ở đây. Năm 1855 khi tập Lá cỏ ra đời, một nhà phê
bình ở thành phố Boston đã gọi ông là “một thằng rồ đáng đánh roi vì tội vi
phạm thuần phong mỹ tục”. Ezra Pound nổi tiếng đương thời cũng không
khá hơn khi nói đến Whiman: “Ông ta thật là tởm. Ông ta là một viên thuốc
cực kỳ buồn nôn”. Các dịch giả Lá cỏ ra tiếng Việt (Vũ Cận và Đào Xuân
Quý) cho biết số phận nguyên tác: “Tập thơ in ra một nghìn bản, chỉ tiêu thụ
được non ba mươi bản. Mấy trăm bản gửi biếu hầu như chịu chung một số
phận: hầu hết bị trả lại, nhiều khi kèm theo những lời xỉ vả thậm tệ đối với
tác giả và tác phẩm. Có người trước khi gửi trả còn cẩn thận xé đôi cuốn
sách để tác giả không thể còn hiểu lầm thái độ của mình”. Nếu W. Whitman
không tự tin khi tung ra tập thơ và không dũng cảm chịu đựng những lời chỉ
trích thì ông đã không thành một tác gia lớn của văn học Mỹ.
Tôi đã nêu ra thí dụ này khi viết về thơ Vi Thùy Linh, không phải để so sánh
tầm vóc hai tác giả, mà tôi chỉ liên hệ thái độ phản ứng đối với một loại thơ,
ở Mỹ giữa thế kỷ XIX, và ở Việt đầu thế kỷ XXI. Một số người phản ứng
thơ Vi Thùy Linh viết hẳn lên báo là không dám cầm tập thơ về nhà cho con
gái xem, và khuyên sinh viên không nên đọc, vì cho đó là dâm, là tục. Rất
may nàng Vi (như cách cô nhà thơ này thường gọi mình trong thơ) đã không
gục ngã, cô vẫn tiếp tục viết, và mới đây nhất đã trang trọng ra mắt tập thơ
thứ ba của mình có tên gọi “Đồng tử” tại Trung tâm văn hóa Pháp (LEspace)
ở Hà Nội. Bìa bốn tập thơ đề hẳn câu thơ trong một bài thơ của một phần thơ
trong tập: “Những cặp chân khóa chặt nhau khước từ chân lý”, mặc dù biên
dung.
5. Điều kiện cần và đủ để có tác phẩm hay, tóm lại, là hãy hết mình. Nhà văn
hết mình với trang viết của mình. Cơ chế xuất bản hết mình với văn bản của
nhà văn. Khi đó, mượn lời K. Marx, không phải tất cả người viết văn đều là
Raphael cả, nhưng những ai có mầm mống Raphael trong mình đều được tự
do phát lộ. Và những tác phẩm hay sẽ từ đó mà ra.
Hà Nội, đầu đông 2005