CHƯƠNG 7: QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG ĐỒNG BỘ (Total Quality Management – TQM) (Phần 1) - Pdf 15

CHƯƠNG 7 QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG ĐỒNG BỘ
(Total Quality Management – TQM)
(Phần 1)
I. KHÁI NIỆM
1.1. Hai xu hư
ớng quản lý chất
lượng .

Trong sản xuất, quản lý chất lượng từ lâu đã trở thành một bộ phận
của hệ thống quản lý, là một công cụ giúp nhà sản xuất kiểm tra, kiểm soát được
chất lượng sản phẩm. Nhưng do những đặc điểm nhận thức, quan niệm ở mỗi
nước khác nhau, dẫn đến phương pháp quản lý chất lượng có những đặc trưng và
hiệu quả khác nhau. Tiêu biểu là hai xu hướng, hai cách tiếp cận về quản lý chất
lượng của Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu.
1.1.1 Xu hướng thứ nhất:
Xuất phát từ quan điểm coi vấn đề chất lượng sản phẩm là những vấn đề
kỹ thuật, phụ thuộc vào các tiêu chuẩn, các yêu cầu kỹ thuật, do những yếu tố về
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ…quyết định, cho nên để quản lý
chất lượng người ta dựa vào các phương pháp kiểm tra bằng thống kê (SQC-
Statisticall Quality Control) và áp dụng các thiết bị kiểm tra tự động trong và sau
sản xuất. Để làm cơ sở cho việc đối chiếu, so sánh, người ta xây dựng các tiêu
chuẩn chất lượng cho các sản phẩm, thống nhất phương pháp thử. Sau đó, tiến
hành kiểm tra mức độ phù hợp của sản phẩm so với các tiêu chuẩn hoặc các yêu
cầu kỹ thuật đề ra. Trên cơ sở các kết quả kiểm tra đó, sẽ chấp nhận hay loại bỏ
những sản phẩm đạt và không đạt yêu cầu.
Theo xu hướng này, hình thành các phương pháp quản lý chất lượng
như QC (Quality Control), Kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) và Kiểm tra chất
lượng toàn diện (TQC : Total Quality Control). Trong hệ thống sản xuất có những
người được đào tạo riêng để thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm – Nhân
viên KCS được chuyên môn hóa và làm việc độc lập.
Muốn nâng cao chất lượng, ngưới ta nghiên cứu xây dựng các tiêu

và cải tiến chất lượng toàn công ty (CWQI : Company Wide Quality
Improvement), nhờ các phương pháp quản lý này, người ta có thể khai thác được
hết tiềm năng con người trong tổ chức và kết quả là không những đảm bảo được
chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Chìa khóa để nâng cao chất lượng ở đây không chỉ là những vấn đề liên
quan đến công nghệ mà còn bao gồm các kỹ năng quản trị, điều hành một hệ
thống, một quá trình thích ứng với những thay đổi của thị trường.
Vì vậy, các chuyên gia về chất lượng phải là những người có kiến thức
cần thiết về kỹ thuật, quản lý, đồng thời họ cũng phải là người có thẩm quyền chứ
không phải là cán bộ của các phòng ban hỗ trợ. Họ có thể tham gia vào việc kiểm
soát mọi lĩnh vực liên quan đến chất lượng.
Trên đây là hai xu hướng quan trọng trong lĩnh vực quản lý chất lượng
trên thế giới. Hai xu hướng này được hình thành qua quá trình nhận thức về những
vấn đề liên quan đến chất lượng và cũng đã được kiểm chứng qua hơn 40 năm làm
chất lượng của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, việc lựa chọn xu thế và mô hình
nào lại phụ thuộc rất nhiều vào những hoàn cảnh đặc thù của từng doanh nghiệp,
từng quốc gia và những đòi hỏi từ thực tiễn.
Tuy có tên gọi khác nhau, Quản lý chất lượng toàn diện (TQC), Quản lý
chất lượng đồng bộ (TQM)ü, cũng có lúc, có nơi vẫn gọi TQM là quản lý chất
lượng toàn diện (trường hợp ở Nhật Bản, Mỹ). Tuy nhiên khi nghiên cứu, chúng ta
mới thấy sự khác nhau cơ bản của TQC và TQM là ở chỗ: Ai là người thực hiện
các hoạt động quản lý chất lượng và vị trí của hệ thống chất lượng ở đâu, so với
các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong TQC việc kiểm tra chất lượng trong hoặc sau sản xuất là do nhân
viên quản lý đảm nhận. Nhưng trong TQM việc kiểm tra chất lượng chủ yếu do
nhân viên tự thực hiện. Nếu sản phẩm có khuyết tật ngay trong quá trình sản xuất
thì dù có kiểm tra nghiêm ngặt đến đâu đi nữa cũng không thể loại trừ được hết mà
kết quả là người tiêu dùng sẽ không hài lòng. Cho nên thay vì thực hiện các hoạt
động kiểm tra, người ta sẽ tiến hành kiểm soát các nhân tố có thể gây nên khuyết

tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên của nó,
nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách hàng và đem lại
lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội.
TQM đã được nhiều công ty áp dụng và đã trở thành ngôn ngữ chung
trong lĩnh vực quản lý chất lượng. TQM đã được coi như là một trong những công
cụ quan trọng giúp các nhà sản xuất vượt qua được các hàng rào kỹ thuật trong
Thương mại thế giới (Technical Barrieres to International Trade-TBT). Aïp dụng
TQM là một trong những điều kiện cần thiết trong quá trình hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, hưởng ứng cuộc vận động lớn về
Thập niên chất lượng 1996-2005, tiến tới sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao
mang nhản hiệu sản xuất tại Việt Nam, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
đã có khuyến cáo rằng:” Để hòa nhập với hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống
Tiêu chuẩn hóa khu vực ASEAN, ở Việt Nam cần thiết phải đưa mô hình quản lý
TQM vào áp dụng trong các doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng và vượt
qua hàng rào TBT.” Tổng cục cũng đã thành lập Ban chuyên ngành quản lý chất
lượng đồng bộ (Ban TQM-VN) theo quyết định số 115/TĐC-QĐ ngày 20-4-1996,
nhằm tạo động lực thúc đẩy việc triển khai áp dụng TQM ở Việt Nam.
Sau hội nghị chất lượng toàn quốc lần thứ nhất tháng 8/95 và lần thứ 2
năm 1997, phong trào TQM đã bắt đầu được khởi động. Nhà nước đã công bố Giải
thưởng chất lượng hàng năm để khuyến khích các hoạt động quản lý và nâng cao
chất lượng. Cơ sở để đánh giá giải thưởng nầy chủ yếu dựa vào các yêu cầu của
một hệ thống chất lượng theo mô hình TQM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status