TẠO SỰ HỨNG THÚ TRONG THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM MÔN VẬT LÝ - Pdf 15

ĐỀ TÀI: TẠO SỰ HỨNG THÚ TRONG THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM
MÔN VẬT LÝ
I.Đặt vấn đề:
Vật lý là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng. Sự phát triển
khoa học vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động trực tiếp qua lại với sự tiến
bộ của khoa học và kỹ thuật. Cho nên việc giảng dạy tiết vật lý có sử dụng
đồ dùng dạy học để làm thí nghiệm góp phần hình thành và rèn luyện cho
học sinh các hình thức tư duy và làm việc khoa học, chính xác, trách nhiệm
đối với cuộc sống, gia đình và xã hội. Do đó tạo hứng thú cho học sinh trong
việc học tập thí nghiệm vật lý cũng như áp dụng các kỹ thuật và kinh
nghiệm vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng đồng là rất cần
thiết.
II. Nội dung:
Môn Vật Lý có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào
tạo của trường THCS. Chương trình Vật Lý THCS có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh một hệ thống các kiến thức Vật Lý cơ bản,môn vật lý ở trường
THCS có vị trí cầu nối quan trọng,một mặt nó phát triển hệ thống hóa các
kiến thức,kỹ năng và thái độ mà học sinh đã lĩnh hội và hình thành ở tiểu
học, mặt khác nó góp phần chuẩn bị cho học sinh những kiến thức,kỹ
năng,thái độ cần thiết để tiếp tục đi sâu hơn vào các lĩnh vực lao động sản
xuất đòi hỏi những hiểu biết nhất định về Vật Lý.
Đối với việc đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm trung
tâm thì ngoài vấn đề hoạt động học tập quen thuộc hiện nay, học sinh còn
cần được tham gia vào các hoạt động như thu thập và xử lí thông tin, thảo
luận nhóm, tự đề xuất các dự đoán, giả thiết, giải quyết những vấn đề khoa
học nhỏ và nhất là tiến hành các thí nghiệm Vật Lý với các vật liệu và thiết
bị đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm, sẽ tạo nên sự hứng thú trong học tập, tạo điều
kiện để học sinh có thể quan sát trực tiếp các hoạt động Vật Lý bằng cách
trong tiết có thực hành thí nghiệm cho các học sinh làm quen các dụng cụ và
hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm tạo cho học sinh tính tự lập trong
công việc mình cần hoàn thành.

• Ước lượng thể tích của lượng nước trong cốc và ca.
• Chọn dụng cụ đo có GHĐ và ĐCNN thích hợp.
• Đổ nước từ ca vào trong ống nghiệm hoặc bình chia độ.
• Đặt bình chia độ thẳng đứng ( nếu là ống nghiệm thì cầm sao
cho thẳng đứng)
• Đọc và ghi kết qủa vào bảng số liệu:
STT Tên vật Thể tích ước lượng Thể tích đo được
* Lưu ý cho học sinh chú ý đến tính chính xác để dẫn đến thành công
cao hơn vì các dụng cụ thí nghiệm phần lớn có độ chính xác không giống
nhau cho dù cùng một khuôn khổ chế tạo, đặc biệt hơn nữa các dụng cụ do
Việt Nam sản xuất xét về toàn diện nó chỉ đạt tầm trung bình về chất lượng.
Trang 2
Phần mô tả các thí nghiệm chủ yếu là ảnh chụp,các thí nghiệm đã được thực
hiện ở trung tâm nghiên cứu cơ sở vật chất và thiết bị trường học thuộc viện
khoa học giáo dục,việc thay đổi hình vẽ minh hoạ bằng các ảnh chụp trong
kênh hình vẽ sẽ tăng thêm tính thuyết phục của kênh thông tin này và làm
cho học sinh cảm thấy hứng thú và hăng say trong việc thực hành thí nghiệm
dựa trên hình đã được rõ ràng hơn đặc biệt là gần gũi với đời sống.
VD1:Thí nghiệm:Xác định ảnh của vật tạo bởi gương phẳng:
Để xác định xem là ảnh ảo hay ảnh thật bằng cách đưa một tấm
bìa dùng làm màn chắn ra sau gương phẳng để kiểm tra.
KL: Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng không hứng được trên
màn chắn gọi là ảnh ảo.
Bố trí thí nghiệm như hình vẽ 5.2(SGK/15) để kiểm tra độ lớn của ảnh
có bằng độ lớn của vật không bằng cách thay gương phẳng bằng tấm kính
màu trong suốt.Tấm kính là một gương phẳng nó vừa tạo ra ảnh của viên
phấn thứ nhất vừa cho ta thấy các vật ở phía bên kia tấm kính.Dùng viên
phấn thứ hai bằng viên phấn thứ nhất đưa ra sau tấm kính để kiểm tra dự
đoán về độ lớn của ảnh như hình 5.3 (SGK/16).
KL: Độ lớn của ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng bằng độ lớn của

• Bố trí thí nghiệm như hình 3.1 ( SGK/11). Điều chỉnh máng
bằng các vít ở đáy máng.
• Đặt bánh xe Macxoen đúng vị trí đã đánh dấu trên đỉnh máng
nghiêng.
• Thả cho bánh xe chuyển động, quan sát chuyển động của bánh
xe, điều chỉnh cho phù hợp sau đó mới thực hiện phép đo.
• Thả cho bánh xe chuyển động, đánh dấu vị trí của trục bánh xe
sau những khoảng thời gian bằng nhau liên tiếp ( đánh dấu vị trí
của bánh xe sau mỗi nhịp gõ của máy nhịp ). Trên máng
nghiêng ghi 3 khoảng và máng ngang 3 khoảng. Sau đó đo
quãng đường và ghi kết quả vào bảng ( thực hiện 3 lần):
Tên quãng đường AB BC CD DE EF
Chiều dài quãng
đường (m)
Thời gian chuyển
động trên quãng
đường(s)
Kết quả :
• Trên phần máng nghiêng bánh xe chuyển động nhanh dần và trên
đoạn máng ngang bánh xe chuyển động đều.
• Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi chung sau đó khái quát rút
ra kết luận.
* Chú ý:
• Tuy nhiên đối với baì thí nghịêm này để đo đạc cần kiểm tra,điều
chỉnh cho máy đúng vị trí.
Trang 4
• Chuyển động cuả tâm bánh xe không thẳng mà bị lệch dần về một
phía là do pháp tuyến của mặt phẳng chứa mặt phẳng của 2 thanh
ray không nằm trong mặt phẳng đứng.
• Chuyển động của bánh xe trên màng ngang nhanh dần hoặc chậm

học sinh hứng thú trong khi tiến hành là Giáo Viên phải chọn
phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh và
Trang 5
cơ sở vật chất của trường, phải lập kế hoạch tổ chức hoạt động dạy
học mang lại hiệu quả cao ( soạn giáo án).
Ví dụ 5: Thí nghiệm bài: Hiện tượng khúc xạ ánh sáng.
1.Mục đích yêu cầu:
Phân biệt được hiện tượng khúc xạ và phản xạ ánh sáng
2.Dụng cụ:
Giáo viên và học sinh:
• Một bình nhựa, một bình chứa, ca.
• Một miếng nhựa có một cạnh được cắt thành hình vòng cung,
trên bề mặt có in vòng tròn chia độ.
• Một tấm tole phẳng sơn đen được đặt trên hai chân đế để làm
màn hứng tia sáng.
• Một nguồn sáng.
Nhóm học sinh:
• Ba chiếc đinh ghim.
• Một chiếc kẹp nhựa di chuyển được trên vòng cung của tấm
nhựa.
3.Tiến hành thí nghiệm:
a.Thí nghiệm 1: Quan sát đường truyền của tia sáng từ không
khí sang nước. Học sinh tiến hành thí nghiệm theo nhóm.
• Từ từ đổ nước vào bình cho nước dâng lên tới mặt phân
cách đường kẻ sẵn trên vòng tròn chia độ.
• Chiếu một tia sáng đi là là trên màn hứng tới mặt phân cách
giữa không khí và nước tại điểm tới. Quan sát đường truyền.
• Từ kết quả thí nghiệm, rút ra định nghĩa về hiện tượng khúc
xạ.
b. Thí nghiệm 2:

Trên đây là những suy nghĩ mà tôi đã rút ra được trong quá trình
giảng dạy của mình. Tuy nhiên có những lúc cũng không đạt đúng theo ý
muốn nhưng cũng một phần nào đó tạo cho học sinh say mê, hứng thú vào
khéo léo, chính xác, cẩn thận trong khi thực hành.
Tuy nhiên cũng cần tạo điều kiện thêm cho học sinh tốt hơn về mọi
mặt như ĐDDH cung cấp đầy đủ hơn và sự chuẩn bị tốt của giáo viên,sự
phối hợp của nhà trường để cho học sinh làm quen nhiều để đạt được kết quả
tốt hơn.
Mong các đồng nghiệp xem và cùng góp ý kiến thêm để bài viết của
tôi được hoàn thiện hơn và trong quá trình giảng dạy sau này thuận lợi và đạt
kết quả tốt hơn.
Trang 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status