PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Làm thế nào để dạy tốt và học tốt bộ môn văn? Môn ngữ văn là môn học kết
tinh nhiều giá trò văn hóa truyền và nhân loại. Với dân tộc Việt Nam ta, văn chương
là điều gắn bó thân thiết. Từ thû còn nằm nôi, đứa bé đã được nâng niu, bồi dưỡng
bằng văn chương qua lời hát ru âu yếm, đạm đã. Khi được đi học, bài trước nhất phải
là “học ăn, học nói”. Tiếp đó, con người đi vào đời sống của dân tộc “vốn tự xưng là
nền văn hiến đã lâu”. Những thầy giáo từ hàng ngàn năm qua, đầu tiên vẫn là thầy
văn chương, đạo lý. Và mãi sau này nữa, người trẻ tuổi muốn thi vào bất cứ trường
đại học chuyên khoa nào, bài thi vẫn là bài thi văn.
Với chức năng là một người làm công tác giảng dạy trong nhà trường bản thân
tôi cũng nhận thấy rằng, ngày nay, số lượng học sinh sao lãng trong việc học môn văn
là tương đối. Đó cũng là vấn đề mà tôi trăn trở bấy lâu . Với 10 năm làm công tác
giảng dạy tôi nghiệm thấy rằng, cái ước muốn học văn sao cho giỏi, dạy văn sao cho
hay, viết văn sao cho tốt là ước muốn của nhiều giáo viên và học sinh . Muốn thực
hiện ước mơ ấy thì phải thực sự tìm tòi trong văn chương nói riêng và trong văn hóa
nói chung. Tôi cố gắng chép lại vài ba kinh nghiệm thiết thực cho mình, hy vọng trao
đổi với đồng nghiệp, mong góp một phần nhỏ kinh nghiệm của mình vào công tác dạy
và bồi dưỡng học sinh để phần nào đó giúp các em có hứng thú học tập hơn ở bộ môn
văn. Để từ đó các em có thể phát huy năng lực của mình để trở thành những học sinh
giỏi văn thực sự. Dù biết còn nhiều hạn chế nhưng tôi vẫn không ngừng cố gắng.
2. Thực trạng ban đầu.
+ Khi chưa áp dụng SKKN này:
* Đối với học sinh : Đa số các em ở trung tâm, lại có điều kiện rất thuận lợi
trong việc học tập và bồi dưỡng. Nhưng phần lớn trong số này thì các em lại thích
những môn học tự nhiên hơn, thậm chí có nhiều em học đều tất cả các môn, trong đó
học môn văn cũng rất là tốt nhưng khi giáo viên đặt vấn đề gợi ý cho các em đi bồi
dưỡng và thi học sinh giỏi thì các em lại từ chối và chọn thi những môn tự nhiên như :
Toán, Lí, Hóa… Bởi các em cho rằng học văn đã khó rồi, viết văn lại càng khó hơn,
các em tâm sự rằng: “để có một bài văn hay, giàu cảm xúc đặc biệt là phải đúng với
yêu cầu của đề bài, các em thấy khó quá. Viết văn không những viết đúng mà còn
được. Thậm chí có những em học lớp 7,8 rồi mà vẫn không viết được một lá đơn xin
phép nghỉ học, hay trình bày bố cục của một văn bản.
Tất cả những vấn đề nêu trên thực sự là một vấn đề nan giải đối với tất cả mọi
người. Đặc biệt là đối với những người làm công tác giảng dạy như chúng tôi.
* Đối với giáo viên :
Số lượng giáo viên của trường tương đối đầy đủ ở tất cả các bộ môn, 100%
giáo viên đã đạt chuẩn, thậm chí số giáo viên đạt trên chuẩn chiếm tỉ lệ khoảng 20%
cán bộ công nhân viên chức, đồ dùng, trang thiết bò và tài liệu giảng dạy… Cũng đã
được trang bò tương đối đầy đủ nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo viên .
Đặc biệt là đầu sách tham khảo rất ít so với số lượng giáo viên dạy bộ môn. Hiện nay,
xét về mặt bằng chung của trường, tỉ lệ học sinh yếu, kém vẫn còn và tỉ lệ học sinh
trung bình cũng không phải là thấp. Phải chăng do chương trình đổi mới mà kiến thức
cao hơn? Hay là do hoàn cảnh gia đình không đủ điều kiện để cho các em học tập và
bồi dưỡng, nâng cao… Nhưng dù sao thì trách nhiệm nâng cao chất lượng giảng dạy,
giảm thiểu học sinh yếu, tăng số lượng học sinh giỏi văn thuộc về các nhà quản lí,
vẫn là các thầy cô giáo chúng ta.
Với kinh nghiệm 10 năm dạy học, tôi nhận thấy rằng cần phải cải tiến để nâng
cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là điều kiện tất yếu. Nếu không,
các em sẽ rất lơ là trong việc học tập và bồi dưỡng bộ môn văn. Vậy, giải pháp nào
để khắc phục tình trạng đó.
3. Giải pháp đã sử dụng:
Khi chưa cải tiến phương pháp mới, tôi chỉ đơn thuần là đi theo phương pháp
phân tích – tổng hợp. Tức là đầu tiên cho học sinh đọc văn bản, tìm hiểu chú thích,
tìm hiểu nội dung khái quát của văn bản. Từ đó đi phân tích cụ thể từng hình ảnh, chi
tiết để khắc sâu, cuối cùng tổng hợp lại vấn đề một lần nữa. Và tôi chỉ sử dụng cứng
nhắc một phương pháp này trong nhiều năm và tôi cảm thấy hiệu quả không được khả
quan. Bởi vì những em có học lực khá trở lên thì còn có hứng thú học, còn đối với
những em có lực học trung bình trở xuống thì ngày càng lười học, lực học xa sút vì
theo không kòp, nguyên nhân là do các em không chòu soạn bài mới trước ở nhà nên
khi lên lớp, khi giáo viên giảng thì các em không tiếp thu kòp nên dẫn đến lười học rồi
sáng tạo, bước đầu có những năng lực cảm thú những gia trò văn hóa ở trên đời, mỏe
rộng tầm hiểu biết. Văn học còn giúp các em thêm yêu cuộc sống, yêu quê hương Đất
nước và còn giúp các em ấp ủ những ước mơ đẹp đẽ.
Đất nước ta là đất nước của thơ ca, ở đâu có cuộc sóng thì ở đó có thơ ca:
“Thơ ca ơi hãy cất cao tiến hát.
Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta”
Chúng ta có quyền tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc mình, không bò đồng
hóa trước dòng văn học ngoại lai. Văn hóa giúp ta cảm nhận cuộc sống tốt đẹp, có ý
nghóa, cung cấp cho chúng ta vốn từ để tiếp súc với văn bản. Vì vậy, con người muốn
phát triển toàn diện thì phải chú trọng học văn, môn văn cung cấp cho các em vốn từ
Tiếng Việt để các em, hiểu thêm tiếng Tiếng Việt, thêm yêu tiếng mẹ đẻ. Ví dụ khi
phân tích sự giàu đẹp của tiếng việt, để cho học sinh cảm nhận sâu sắc hơn về cái hay
cái đẹp của Tiếng Việt thì ta phải lấy dẫn chứng từ trong thơ, văn để phân tích:
Ví dụ 1 : Bài thơ “Chinh phụ ngâm” rất hài hòa về nhòp điệu.
“ Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy.
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai”
Ví dụ 2 : “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
(Hài hòa về mặt ngữ âm)
( Xuân Diệu)
Ví dụ 3 : Phong phú về mặt từ vựng:
- Cùng chỉ người Mẹ, tiếng việt có nhiều cách gọi khác nhau : Má, Bu,bầm…
- Những từ mới được bổ sung: Xà phòng, ra điô, Intơnet, vi tính, tin học…….
Ví dụ 4 : Sự uyển chuyển, mượt mà được thể hiện trong lời văn của Thạch
Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng …
“ Cốm là thứ quà riêng biệt của Đất nước, là thức dâng của những cánh đồng
lúc bát ngát xanh mang trong hương vò của tất cả cái mộc mạc giản dò và thanh khiết
của đồng quê nội cỏ An Nam”.
+ Trong từng bài, giáo viên cần liên hệ với thực tế đời sống. Như khi ta giảng
bài về ca dao, tục ngữ thuộc chủ đề gia đình và xã hội, ta phải hướng cho học sinh
biết ăn nói lễ độ, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, biết ơn thầy cô giáo và các anh hùng
liệt só đã hy sinh xương máu cho ta cuộc sống, thanh bình như hôm nay.
+ Cho học sinh thấy được học văn trong nhà trường không phải chỉ cốt để đủ
điểm, để đạt được mức trung bình mà còn phải học để giỏi văn nữa. Muốn học giỏi
văn thì trước hết phải học học cho đủ bài, làm bài bài đầy đủ, đạt kết quả trung bình
và trên trung bình. Sau đó là phải có thêm nhiều sự gia công khác nữa. Có những biện
pháp khá cụ thể cho sự gia công này bất cứ ai cũng thực hiện được. Chẳng hạn như:
những bài đã học ở lớp rồi về nhà cũng phải đọc đi đọc lại ở nhà nhiều lần, được
nghiền ngẫm, tìm hiểu thêm cho đến nơi đến chốn. Không nên chỉ bằng lòng với kiến
thức được cung cấp ở lớp, mà phải làm cho kiến thức ấy được chắc hơn, sâu hơn.
Muốn giỏi văn thì phải làm sao cho văn thấm vào mình. Văn chương là câu chuyện
nhập tâm, có tâm trí và có tâm hồn. Thường có hình ảnh trong câu văn, những am
điệu trong câu thơ cứ vương vấn mình hàng ngày, hàng tháng, không phải vương vấn
để đòi hỏi một giải đáp kiến thức mà đó là một sự vương vấn trong rung động, trong
cảm thông. Bài văn nào được học trong nhà trường nếu các em thật sự quan tâm, đều
tạo cho học sinh sự vương vấn và gắn bó này. Chính cái vương vấn, cái gắn bó ấy sẽ
đưa các em vào thế giới văn chương và làm cho các em yêu văn và thích văn hơn.
5
Và tất nhiên, muốn học giỏi văn, muốn viết văn hay hơn thì mỗi người học
sinh phải có cách phấn đấu riêng của mình. Đưới đây là chín điều tâm niệm và cũng
là những bí quyết muốn học giỏi văn, muốn viết văn hay mà tôi muốn truyền đạt cho
các em học sinh:
- Tạo hứng thú và duy trì hứng thú. Yêu cầu trước nhất của người muốn giỏi
văn là phải thích văn, có hứng thú về môn văn.
- Làm giàu ngôn ngữ: Làm nghề gì cũng vậy, nếu không có vốn liếng tối thiểu
thì làm sao cố thể khuyếch trương được sự nghiệp cho rộng lớn sau này. Ngôn ngữ là
cái vốn khởi đầu cho những ai muốn viết văn hay.
- Học thuộc lòng là biện pháp để giỏi văn hiệu nghiệm.
hứng thú học môn văn.
+ Trước tiên, chúng ta cần hiểu tâm lí học trò, vì học trò nhìn đời bằng những
gì hiển hiện ở bên ngoài chứ còn thực tế bên trong các em chưa hiểu được một cách
sâu xa. Do đó ta phải hướng cho các em tìm hiểu những bậc thang kiến thức, cảm
nhận được cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học, khám phá nội dung nghệ thuật
6
trong tác phẩm bằng cách cho học sinh hoá thân vào trong tác phẩm, hiểu cuộc đời
nhân vật giống như cuộc đời thật của mình. Với lòng nhiệt tình và kiến thức của giáo
viên, cho các em những kiến thức thích thú tiếp nhận kiến thức qua bài giảng. Người
giáo viên khi giảng bài phải dùng những từ ngữ hay giàu cảm xúc, đònh hướng thích
hợp, kiến thức phong phú …
Ví dụ : Khi phân tích tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc của Nam
Cao. Giáo viên cần cho học sinh thấy được thân phận của người nông dân Việt Nam
trước cách mạng tháng tám. Số phận của họ, nhất là người bần nông thật đáng thương.
Chò Dậu chỉ vì một suất sưu của chồng mà phải bán đứa con gái thân yêu của mình .
Trong cái xã hội phong kiến thời nô lệ ấy, con người đánh thuế như thuế con vật, thuế
hàng hoá … Còn cảnh đói nghèo của Lão Hạc cũng như cảnh đời bi thương của hầu
hết những người nông dân khác, để rồi bò bọn thực dân, phong kiến hất ra bên lề cuộc
sống vv….Rồi từ đó cho học sinh hiểu rằng vì sao máu của ông cha ta cứ lần lượt thấm
hồng những trang sử đấu tranh quyết giành lại từ tay kẻ thù bầu trời tự do, độc lập cho
con cháu đời sau. Từ đó các em có ý thức học tập để bảo vệ quê hương Đất nước
mình.
Ví dụ: Khi giảng về tình “đồng chí” đồng đội trong bài “Đồng chí” của Chính
Hữu ở chi tiết “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Khi bình giảng về tình đồng chí,
đồng đội họ trao nhau những tình cảm không ồn ào, không náo động nhưng bàn tay
nói im lặng của sự cảm thông, cùng nhau hứa hẹn lập công vượt qua mọi gian lao để
xích lại nhau hơn, một cái bắt tay thật chặt là biểu hiện tốt và không thể nói thành lì.
Có lẽ giữa đêm khuya lạnh lẻo họ muốn san sẻ hơi ấm qua bàn tay và họ trao nhau
những gì kín đáo nhất của cuộc đời. Ở chi tiết này ta có thể lấy thêm từ bài “Nhớ”
của Nguyên Hồng: “Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng” đến việc “Qø chân tìm hơi
thương của những người phụ nữ. Chính những lúc này ngòi bút của những nhà văn,
nhà thơ chân chính hướng về đau thương ấyviết những tác phẩm đầy yêu thương sau
sắc.
+ Đối với truyện Kiều của Nguyễn Du đã gãy đúng cung đàn của những người
phụ nữ, ngòi bút của ông viết lên bài ca hy vọng cho họ. Một tia sáng lóe lên trong
cuộc sống đen tối.
+ Với “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương bài thơ có sự ngọt ngào và dư vò
cay đắng thể hiện trong ấy. Hạnh phúc của người phụ nữ thì mong manh còn khổ đau
còn vô tận.
Xã hội ngày càng phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vò thế của
người phụ nữ càng được thể hiện rõ hơn họ là những người năng động, sáng tạo trong
mọi công việc đóng góp cho công cuộc xây dựng tổ quốc…
Khi giáo viên lập dàn ý cung cấp thêm kiến thức cho học sinh làm bài, đọc bài
của mình tự nhận xét, giáo viên đònh hướng cho học sinh làm bài hoàn chỉnh. Văn
chương không cần đến ngững người thợ khéo tay làm một vài kiểu mẫu cho, văn
chương chỉ dung nạp những người đào sâu tìm tòi, khơi những nguông chưa ai khơi và
sáng tạo những cái gì chưa có. Người giáo viên khi đang dạy cho các em phải dạy hết
tất cả không học tủ, mỗi chủ đề tôi sẽ đònh hướng cung cấp từ các em. Ví dụ: Văn học
lớp 9 tôi sẽ đi theo hướng chủ đề yêu nướcc trong văn học cổ, hình tượng người phụ
nữ, hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, hình ảnh con
người mới. Ra các đề cho các em làm hoặc thay đổi việc kiểm tra bài cũ ở nhà bằng
cách đặt câu hỏi , học sinh trả lời, kích thích sự hoạt động của các em bắng hình thức
nhận xét khen thưởng trước lớp từ đó các có ý thức học tập tốt hơn.
Trong quá trình thử nghiệm, trong tổ cũng đã dự giờ, góp ý cho tiết dạy của tôi
và mọi người đều tán thành với phương pháp mới của tôi và công nhận là có hiệu quả
thiết thực.
4. Hiệu quả mới
Quả thật, khi tôi thay đổi cách sử dụng các phương pháp mới tích cực hơn, tôi
thấy các em có phần hứng thú học tập hơn. Bởi vì trong quá trình dạy cứ một tuần,
ngoài kiểm tra thường xuyên tôi lại kiểm tra xác xuất một vài em về kiến thức đã học
đạt giải
Số
lượng
học
sinh dự
thi
Số
lượng
học
sinh
đạt giải
Số
lượng
học
sinh dự
thi
Số
lượng
học
sinh
đạt giải
04 – 05
05 – 06
06 – 07
07 - 08
10
10
07
13
05
Với một vài kinh nghiệm mà tôi vừa nêu ra đây chỉ phù hợp với việc dạy học
văn trong nhà trường THCS. Vì những kinh nghiệm của tôi bước đầu chỉ làm cho học
sinh có hứng thú học tập để từ đó các em có sự thích thú đam mê học tốt bộ môn mà
lâu nay các em đã xem nhẹ.
2. Sử dụng sáng kiến kinh nghiệm
Để sử dụng tốt phương pháp này thì mọi người cần phải
* Đối với giáo viên:
Đọc kỹ tác phẩm, sưu tầm những tài liệu xung quanh tác phẩm như, tiểu sử tác
giả, cuộc đời sự nghiệp, bối cảnh lòch sử khi tác phẩm ra đời… Những nhận xét đánh
giá của những nhà phê bình văn học, nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước về tác
phẩm.
Dù là tiếng Việt hay tập làm văn, giáo viên cũng cần soạn giáo án tỉ mó, kỉ
cương, có chất lượng cả về phương pháp và nội dung. Mục đích là truyền tải đầy đủ
trọng tâm kiến thức, giúp học sinh hiểu bài nhanh nhất.
Đồng thời với giáo viên, người giáo viên cần chuẩn bò đồ dùng dạy học thật
chu đáo như tranh, ảnh minh họa, bảng phụ, các sơ đồ, biểu đồ đối với phân môn
Tiếng Việt.
• Đối với học sinh:
Phải soạn bài chi tiết theo hệ thống câu hỏi trong SGK đọc kó văn bản, đọc
được cả tác phẩm thì càng tốt. Tập phân tích, cảm nhận theo cách riêng của mình.
Khai thác những vấn đề xung quanh tác phẩm như: Bối cảnh, cuộc đời sự
nghiệp, phong cách riêng của từng tác giả
3 Kết luận và kiến nghò
Nói chung cái gì cũng có hai mặt tác động qua lại thì mới có sự thành công
được. Về phía giáo viên muốn dạy văn tốt thì phải chọn những giải pháp tốt nhất để
gây hứng thú cho người học. Và hơn thế nữa người giáo viên dạy văn phải có chất
văn, có vốn văn thì mới có thể dạy văn đúng và dạy văn hay được . Chất văn là một
cái gì đó rất khó nói, nhưng lại cũng rất dễ nhận ra. Chẳng hạn như phải có tâm hồn
thi só, dù không bao giờ làm thơ, thậm chí không làm thơ được. Không làm được thơ
nhưng lại hiểu được thơ.
độ, biến hóa không khí … thì bài giảng mới có sự lôi cuốn.
Tất nhiên, khi giảng bài người giáo viên phải giữ đúng tư cách của mình.
Người thầy không phải là một diễn giả đi diễn thuyết, không phải là một nghệ só lên
sân khấu, cũng không phải là một nhà truyền đạo hay là một pháp sư. Nhưng môn
văn là một môn học có những lợi thế nói trên, nên tùy từng lúc giáo viên phải mượn
những thủ thuật, những kinh nghiệm của các nhà chuyên môn để làm cho bài dạy của
mình có kết qua cao hơn. Có như thế thì giờ dạy mới sự sắc nét được
11
MỤC LỤC
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ ……….…………………………………………………………………………………………. 1
1 Mục đích yêu cầu ………………………………………………………………………………………………………………. 1
2 Thức trạng ban đầu …………………………………………………………………………………………………………… 1
3 Giải pháp đã sử dụng ………….………………………………………………………………………………………… 3
Phần II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ …………………………………………………… 4
1 Cơ sở lí luận …………………………………………………………………….………………………………………….………… 4
2 Giả thiết ……….……………………………………………….……………………………………………………………………… 6
3 Quá trình thử nghiệm sáng kiến …………………………………………………………………………………… 7
4 Hiệu quả mới ……………………………………………………………………………………………………………………….10
Phần III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM ………………………………………… 11
1 Kinh nghiệm cụ thể …………………………………………………………………………………………………………. 11
2 Sử dụng sáng kiến ……………………………………………………………………………………………………………. 11
3 Kết luận và kiến nghò ……………………………………………………………………………………………………… 11
MỤC LỤC ……………………………………………………………………………………………………………………………………………… 13
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Phương pháp dạy học văn ở trường PTCS.
2) Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 6.
3) Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 7.
4) Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 8.
5) Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 9.