1
ĐỀ TÀI
“Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ
phần Sông Đà 6.06”Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
2
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
3
L
Ờ
tôi nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô giáo
cùng các cô chú, anh chị đang công tác tại Công ty dồi dào sức khỏe và
thành đạt trong sự nghiệp và cuộc sống.
Thừa Thiên Huế, ngày 31 tháng 10 năm 2006
Sinh viên thực tập
Đỗ Thị Thanh Bình
4
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN Ở CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 6.06 13
1.1. Khái quát chung 13
1.1.1. Khái niệm về vốn 13
1.1.2. Nguồn vốn kinh doanh 13
1.1.2.1. Nguồn hình thành vốn kinh doanh 13
1.1.2.2. Phân loại nguồn vốn 15
1.1.3. Vai trò của vốn 16
1.1.4. Nội dung của vốn 17
1.1.4.1. Vốn kinh doanh 17
1.1.4.2. Đầu tư vốn kinh doanh 17
1.1.4.3. Bảo toàn vốn kinh doanh 18
1.2. Phương pháp phân tích 19
1.3. Hệ thống các chỉ tiêu để phân tích hiệu quả sử dụng vốn 20
1.3.1. Hiệu quả sử dụng vốn cố định 20
1.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 21
1.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 23
1.3.4. Phân tích Dupont 24
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
2.2.2.3. Tình hình sử dụng tài sản cố định 41
2.2.2.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty 42
2.2.2.5. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định 43
2.2.3. Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 44
2.2.3.1. Phân tích kết cấu nguồn vốn lưu động 44
2.2.3.2. Khả năng đảm bảo nguồn vốn lưu động của Công ty 46
2.2.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 46
2.2.4. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 49
2.2.4.1. Hệ số quay vòng vốn 49
2.2.4.2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh 49
2.2.4.3. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 50
2.2.5. Phân tích Dupont 52
6
2.3. Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn của Công ty 55
2.3.1. Những kết quả đạt được 55
2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân. 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 6.06 56
3.1. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung 56
3.2. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 56
3.3.Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 58
KẾT LUẬN 60
7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa
VCĐ - Vốn cố định
CĐ - Cố định
VLĐ - Vốn lưu động
LĐ - Lưu động
TSCĐ - Tài sản cố định
Bảng 15 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong 2 năm 2004-2005
9
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ Tên sơ đồ
Sơ đồ 1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty
10
LỜI MỞ ĐẦU
Giới thiệu đề tài.
Trong mỗi Doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện cần
thiết để quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Đồng thời là điều kiện tiền đề
để đưa nền kinh tế quốc dân đi lên và phát triển mạnh mẽ. Hiệu quả nền kinh tế
là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh, phản ánh khả năng phát triển của
Công ty. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
đơn vị là rất cần thiết và quan trọng. Nó đòi hỏi phải đánh giá một cách toàn
diện, để từ đó tìm ra những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh tại Doanh nghiệp.
Nước ta đang trong thời kỳ xây dựng và mở rộng nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với công cuộc cải cách mậu dịch, tự do
hóa trong thương mại đòi hỏi nhu cầu về vốn cho nền kinh tế và cho từng Doanh
nghiệp đang là vấn đề lớn. Thực tiễn cho thấy, các Doanh nghiệp của nước ta
hiện đang phải cạnh tranh khốc liệt để có thể tồn tại và có được chỗ đứng vững
chắc trên thương trường, mà một trong những yếu tố quyết định cho sự thành
công đó là tình hình sử dụng vốn có hiệu quả, làm thế nào để huy động nguồn
ngân quỹ với chi phí thấp và phương thức thanh toán nhanh nhất. Tóm lại,
doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thì mới có thể đứng
vững được trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.
Như chúng ta đã biết, một nền kinh tế được coi là phát triển thì phải có
một kết cấu cơ sở hạ tầng vững chắc. Từ đó, đòi hỏi việc xây dựng các công
trình, hạng mục hạ tầng ngày càng cao. Việt Nam nói chung, tỉnh Thừa Thiên
quả sản xuất kinh doanh, như chúng ta đã biết hoạt động kinh doanh chịu sự tác
động của nhiều nhân tố khách quan như: chính sách, pháp luật của nhà nước, áp
lực cạnh tranh, thị trường Nhân tố chủ quan như: chi phí, giá cả, lợi nhuận,
Nhưng trong chừng mực nào đó, đề tài chỉ đi sâu phân tích những nội dung sau:
- Cơ cấu vốn trong công ty.
- Tình hình sử dụng vốn của Công ty.
- Khả năng bảo toàn vốn.
- Hiệu quả sử dụng vốn.
12
Phạm vi nghiên cứu.
Kinh doanh là một quá trình phức tạp, diễn ra liên tục và lâu dài. Muốn
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của một Doanh nghiệp cần phải có thời gian
nghiên cứu, đi sâu vào từng lĩnh vực họat động kinh doanh của Doanh nghiệp.
Nhưng do thời gian thực tập và kiến thức còn hạn chế nên em chỉ nghiên cứu
hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động và kết quả họat động sản xuất kinh
doanh trong 2 năm, từ đó cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của Công ty.
Phương pháp nghiên cứu.
Có nhiều phương pháp để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty, đề
tài đã chọn những phương pháp sau:
Thu thập số liệu: khi thực tập tại Công ty, để có được những thông tin sơ
cấp em thường tiếp xúc với nhân viên, quan sát cách làm việc của họ tại Công
ty. Liên hệ với các phòng, ban để có báo cáo tài chính, đồng thời tìm thêm trên
sách, báo tài chính. Tham dự các buổi họp thu vốn hàng kỳ cùng với Ban thu
vốn và thu hồi công nợ.
Cách xử lý số liệu:
- Phương pháp thống kê: Chỉ tiêu thống kê là sự biểu hiện một cách tổng hợp
đầy đủ về mặt lượng trong sự thống nhất về mặt chất của tổng thể hiện tượng
trong điều kiện thời gian và đặc điểm cụ thể. Phương pháp thống kê được sử
dụng chủ yếu là thu thập số liệu từ báo cáo tài chính, tổng hợp lại theo trình
tự để thuận lợi cho quá trình phân tích.
huy động trên những nguồn cung cấp ở một giới hạn nhất định. Từ đó cho thấy,
việc huy động các nguồn vốn đã là điều khó, nhưng việc sử dụng có hiệu quả
đồng vốn ấy lại càng khó khăn. Việc nghiên cứu, tìm tòi và để đề ra các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mỗi Doanh nghiệp là rất cần thiết
cho sự tồn tại, phát triển của Doanh nghiệp. Huy động được nguồn vốn để kinh
doanh không thì chưa đủ mà phải có hình thức quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy
vào việc sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả, làm cho vốn ngày càng sinh
lợi và đạt được chiến lược kinh tế cao.
Đối với Doanh nghiệp, tổng số tài sản lớn hay nhỏ thể hiện quy mô hoạt
động là rất quan trọng. Song nền kinh tế thị trường điều quan trọng là giá trị tài
sản do Doanh nghiệp đang nắm giữ và sử dụng được hình thành từ những nguồn
14
vốn nào. Nguồn vốn của Doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm pháp lý của Doanh
nghiệp đối với từng loại tài sản của Doanh nghiệp.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp không chỉ sử dụng
vốn của bản thân Doanh nghiệp mà còn sử dụng các nguồn vốn khác, trong đó
nguồn vốn vay đóng một vai trò khá quan trọng. Do đó, nguồn vốn trong Doanh
nghiệp được hình thành từ hai nguồn sau:
a) Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của Doanh nghiệp phát sinh từ các
giao dịch và sự kiện đã qua mà Doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực
của mình. Nợ phải trả xác định nghĩa vụ hiện tại của Doanh nghiệp khi Doanh
nghiệp nhận về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát sinh các nghĩa vụ
pháp lý.
Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều
cách như: trả bằng tiền, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch vụ, thay thế nghĩa
vụ này bằng nghĩa vụ khác, chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở
hữu.
Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua như mua hàng
hoá chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành
hàng hoá, cam kết nghĩa vụ hợp đồng, phải trả công nhân viên, thuế phải nộp
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm ba loại: vốn ngắn
hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn.
Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: vốn cố
định và vốn lưu động.
a) Vốn cố định: Vốn cố định của Doanh nghiệp là lượng giá trị ứng trước
vào tài sản cố định hiện có và đầu tư tài chính dài hạn của Doanh nghiệp, mà đặc
điểm của nó là luân chuyển từng bộ phận giá trị vào sản phẩm mới cho đến khi
tài sản cố định hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định hoàn thành một vòng luân
chuyển (hoàn thành một vòng tuần hoàn).
b) Vốn lưu động: Vốn lưu động của Doanh nghiệp là lượng giá trị ứng
trước về tài sản lưu động hiện có và đầu tư ngắn hạn của Doanh nghiệp nhằm
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của Doanh nghiệp được thường xuyên, liên
tục.
16
1.1.3. Vai trò của vốn.
Vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn là
một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu
đầu tư phát triển của Doanh nghiệp. Vốn của các Doanh nghiệp Nhà nước được
Nhà nước cấp hầu như toàn bộ trong cơ chế bao cấp trước đây. Vì thế, vai trò
khai thác thu hút vốn không được đặt ra như một nhu cầu cấp bách mang tính
sống còn đối với các Doanh nghiệp. Điều đó đã tạo ra sự cân đối giả tạo về cung
cầu tiền tệ trong nền kinh tế và thủ tiêu tính chủ động của các Doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
thì phải tìm cách thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho mục
đích sinh lời của mình. Nhưng quan trọng là người quản lý phải xác định chính
xác nhu cầu về vốn, cân nhắc lựa chọn các hình thức thu hút vốn thích hợp từ
các loại hình kinh tế khác nhau nhằm tạo lập, huy động vốn trong nền kinh tế thị
trường hiện nay và sử dụng đồng vốn đó một cách tiết kiệm và hiệu quả. Yêu
cầu của các quy luật kinh tế thị trường hiện nay đặt ra cho các Doanh nghiệp hết
sức khắt khe trong nền kinh tế thị trường nên người quản lý cũng như kế toán
Các Doanh nghiệp tự chủ trong vấn đề sử dụng vốn trong giai đoạn hiện
nay. Đây là điều kiện thuận lợi để Doanh nghiệp sử dụng các biện pháp linh
hoạt, sáng tạo trong quá trình huy động và sử dụng vốn vào mục đích kinh
doanh của Doanh nghiệp mình nhằm thu được hiệu quả cao.
1.1.4.2. Đầu tư vốn kinh doanh.
Căn cứ vào mục đích kinh doanh của Doanh nghiệp, vốn đầu tư được
đồng nghĩa với vốn kinh doanh. Đó là vốn được dùng vào kinh doanh trong lĩnh
vực nhất định nhằm mục đích sinh lời. Còn đầu tư vốn là hành động chủ quan có
cân nhắc người quản lý trong việc bỏ vốn và một mục tiêu kinh doanh nào đó
với hy vọng là sẽ đưa ra hiệu quả kinh tế cao trong tương lai. Như vậy, việc bỏ
vốn cho bất kỳ hoạt động kinh doanh nào mục đích thu được lợi nhuận cũng đều
được gọi là đầu tư vốn. Động lực của đầu tư vốn là lợi nhuận cao với khả năng
an toàn cao. Trong thực tế, khả năng thu được lợi nhuận cao về đầu tư thường
mâu thuẫn với khả năng an toàn về vốn: Mức lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng
lớn và ngược lại. Chính vì vậy, công tác đầu tư phải biết lựa chọn phương án
đầu tư thích hợp.
18
Mỗi Doanh nghiệp đều mong muốn tìm cho mình một hướng đầu tư có
hiệu quả đồng thời cũng tìm cách thu hút những nguồn vốn đầu tư vào Doanh
nghiệp nhằm mở rộng quy mô, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
mình. Vốn đầu tư bên trong và vốn đầu tư ra bên ngoài là hai hướng đầu tư
chính đối với một Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Trước khi tiến hành đầu tư, vấn đề hết sức quan trọng là nghiên cứu nhu
cầu và khả năng vốn đầu tư. Người quản lý phải tính toán rõ ràng, chính xác
giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu được sau mỗi kỳ kinh doanh để tìm hướng
đem lại hiệu quả cao trong công tác đầu tư. Đó là cơ sở quyết định để tìm hướng
đem lại hiệu quả cao trong công tác đầu tư vào bên trong hay bên ngoài một
cách khả thi nhất.
Những vấn đề mà Doanh nghiệp cần quan tâm trong việc đầu tư vốn:
chuyển và chuyển hóa làm cho vốn lưu động giảm sút dần.
Để bảo toàn cho quá trình sản xuất kinh doanh thu được lợi nhuận, tức là
tái sản xuất giản đơn về vốn lưu động trong điều kiện quy mô sản xuất ổn định
đòi hỏi Doanh nggiệp phải chủ động bảo toàn vốn lưu động.
Cần có biện pháp bảo toàn vốn lưu động hợp lý vì vốn lưu động ở các loại
hình kinh doanh dưới dạng vật tư, hàng hóa rất khác nhau, chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố tác động cũng khác nhau. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần thực
hiện một số giải pháp nhằm huy động những khả năng tiềm tàng, hạn chế
nguyên nhân thất thoát, ngừng trệ của vốn lưu động.
1.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích, nhưng trên thực tế người ta
thường sử dụng phương pháp so sánh.
Để áp dụng phương pháp so sánh, cần phải đảm bảo các điều kiện có thể
so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung, tính
chất và đơn vị tính toán, ) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.
Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích
được chọn là là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa
chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân. Nội dung so sánh bao
gồm:
20
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi
trong hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
Doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của Doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành
của các Doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của Doanh nghiệp
mình tốt hay xấu, được hay chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số
Lợi nhuận
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
Giá trị tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định đo lường việc sử dụng tài sản cố định
như thế nào, càng cao càng tốt.
Doanh thu
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Giá trị tài sản cố định
Hệ số hao mòn tài sản cố định: thể hiện mức độ hao mòn của tài sản cố
định tại thời điểm đánh giá so với thời điểm đầu tư ban đầu.
Số tiền khấu hao lũy kế của TSCĐ
tính tới thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
c) Các chỉ tiêu về kết cấu tài sản cố định: Phản ánh tỷ trọng của từng nhóm
hoặc từng loại TSCĐ của Doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này cho
phép đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở Doanh nghiệp.
1.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động biểu thị, cứ một đồng vốn lưu
động bình quân tham gia vào quá trình sản xuất sẽ cho bao nhiêu giá trị tổng sản
lượng.
Lợi nhuận
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động =
Số vốn lưu động bình quân trong kỳ
22
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: được thể hiện qua hai chỉ tiêu là số lần
luân chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng
quay vốn).
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lưu động =
- Mức doanh lợi của vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn
lưu động bình quân làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận
Mức doanh lợi vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Việc sử dụng các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các
Doanh nghiệp cũng đòi hỏi hết sức thận trọng bởi là những chỉ tiêu tổng hợp.
Mỗi chỉ tiêu cung có những hạn chế nhất định. Vấn đề phải lựa chọn các chỉ tiêu
phân tích để có thể bổ sung cho nhau nhằm đánh giá chính xác hoạt động sản
xuất kinh doanh, từ đó cải tiến việc sử dụng vốn lưu động.
1.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong Doanh nghiệp.
a) Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh trước thuế và lãi vay: Chỉ tiêu này phản
ánh một đồng vốn kinh doanh tham gia trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
trước thuế và lãi vay.
Lợi nhuận trước thuế + lãi vay
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh =
doanh trước thuế và lãi vay Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
b) Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh: Phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh trong
kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh =
Vốn KD bình quân sử dụng trong kỳ
c) Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn chủ
sở hữu sử dụng trong kỳ có thể đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu BQ sử dụng trong kỳ
24
Vốn kinh doanh đầu kỳ + Vốn kinh doanh cuối kỳ
Vốn chủ sở hữu bình quân =
Doanh thu
Tỷ suất
LN/DT
Vốn CĐ
bình quân
+
=
=
-
=
=
X
=
=
25
Bên dưới của mô hình Dupont khai triển tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
để cho thấy những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất này. Trên cơ sở đó, Doanh
nghiệp muốn gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thì nhân tố chi phí của
hàng tiêu thụ cần được quan tâm, cụ thể hơn có thể đi sâu phân tích các loại chi
phí cấu thành để có biện pháp hợp lý.
* Phương pháp Dupont mở rộng với tỷ số nợ.
Trong quá trình sử dụng phương pháp Dupont, nếu được mở rộng và sử
dụng cả tỷ số nợ sẽ cho ta thấy mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu với tỷ suất lợi nhuận trên vốn.
Công thức sau cho thấy rõ ảnh hưởng của tỷ số nợ trên lợi nhuận của chủ
sở hữu.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu =
Tỷ số tự tài trợ
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn