Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam - Pdf 15

A.Bối cảnh du lịch Việt Nam
I.Vai trò,vị trí của ngành du lịch Việt Nam
Ngành du lịch đã dần khẳng định được vai trò, vị trí là một lần kinh
tế mũi nhọn.
Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch góp phần xóa đói,
giảm nghèo, nâng cao mức sống và làm giàu cho xã hội. Du lịch phát
triển đã tăng tỷ trọng GDP của ngành và khối ngành dịch vụ trong tổng
thu nhập quốc dân; đồng thời thay đổi diện mạo đô thị, nông thôn; đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhất là ở các trung tâm du lịch
như: Sa Pa (Lào Cai), Hạ Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng),
Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Thừa Thiên- Huế, Quảng
Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và một số tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long, v.v...
Du lịch tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ hàng hóa, dịch vụ, thúc
đẩy các ngành khác phát triển như:y tế,kinh tế,giao thông,bưu chính
viễn thông...., khôi phục nhiều lễ hội và nghề thủ công truyền thống
như: đồ gốm Bát Tràng,lụa Vạn Phúc,Vải thổ cẩm của các dân tộc ...
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, mở
rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và ngoài nước, giao
lưu văn hóa, nâng cao dân trí, phát triển nhân tố con người, bảo đảm
an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động du lịch n ăm 2006 đã tạo ra việc làm cho hơn 234 nghìn
lao động trực tiếp và khoảng 510 nghìn lao động gián tiếp của nhiều
tầng lớp dân cư, đặc biệt là thanh niên mới lập nghiệp và phụ nữ.
Thông qua du lịch, nhiều di tích, di sản được trùng tu từ nguồn thu du
lịch và các nguồn vốn xã hội được huy động, tạo nên ý thức và trách
nhiệm giữ gìn, phát triển di sản văn hóa, truyền tải được các giá trị
văn hóa đến các tầng lớp nhân dân và du khách, tăng thêm tính hấp
dẫn của du lịch.
Đảng và nhà nước ta đã xác định: “ Du lịch là một ngành kinh tế
tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên

làm. Tuy vậy, nhiều chuyên gia kinh tế đã đánh giá, ngành du lịch Việt
Nam sẽ tăng trưởng trong vòng 10 năm tới, cụ thể tổng nhu cầu sẽ
tăng từ 9,723 tỷ USD lên 22,249 tỷ USD; giải quyết được 4 triệu việc
làm, chiếm 9,5% tổng việc làm.
Với tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam như hiện nay,
hơn lúc nào hết yêu cầu về nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao
lại trở nên cần thiết đến như vậy. Mỗi năm số lượng học sinh, sinh
viên tốt nghiệp các khoá học đào tạo về du lịch là 13.000 người – con
số này chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của du lịch là khoảng
19.000 người.
Trong những năm gần đây và nhất là đầu năm 2006, nước ta là
điểm đến lôi cuốn du khách đường biển với hàng chục chuyến tàu du
lịch biển chở theo hàng nghìn du khách liên tục cập cảng Hạ Long, Ðà
Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh và Phú Quốc. Cùng với
việc khuyến khích, tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn, trực tiếp xây dựng
các chương trình du lịch mới, ngành du lịch và các địa phương còn tổ
chức thành công nhiều sự kiện du lịch hằng năm như các chương
trình: Năm du lịch Hạ Long, Ðiện Biên Phủ, Nghệ An và hiện nay là
năm du lịch Quảng Nam "Một điểm đến hai di sản thế giới" cùng các lễ
hội, liên hoan ở khắp các miền đất nước. Các sự kiện, chương trình
này góp phần định hướng đầu tư phát triển sản phẩm và loại hình du
lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam với thế giới, thúc đẩy du lịch phát
triển theo hướng đa dạng, chất lượng và hiệu quả.

3
III. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
1. Số lượng nhân lực du lịch

Năm 2008, lao động trong lĩnh vực du lịch hiện có hơn 1 triệu người.
Trong đó lao động trực tiếp là 250 nghìn người; lao động gián tiếp là

% (482 người ); lao động có trình độ đại học và cao đẳng là 12,75 %
( 29.844 người ) ; trung cấp là 15,36 % ( 35.966 người ) và sơ cấp là
18 % ( 125.440 người)
b. Về trình độ ngoại ngữ :
Xét về tổng quát,ngành du lịch có tỉ lệ lao động sử dụng được ít
nhất một ngoại ngữ là rất cao,chiếm khoảng 45 % trong tổng số. Tuy
nhiên, với đặc thù của ngành thì tỉ lệ này cần phải tiếp tục được nâng
cao và mở rộng nhiều ngoại ngữ hơn nữa. Theo điều tra, tỉ lệ người
du lịch biét ngoại ngữ đa số là tiếng anh,chiếm khoảng 40,87 % tron g
tổng số lao động ; tiếng Trung Pháp và các tiếng khác được phân bố
theo yêu cầu của từng loại thị trường khách và từng khu vực khác
nhau, các con số tương ứng là 4,59 % ;4,09 % và 4,18 %
Phân tích trong từng lĩnh vực thấy rằng,lao động thực hiện các
công việc như :” Hướng dẫn viên du lịch, lữ hành, lễ tân, phục vụ nhà
hàng ... có tỉ lệ sử dụng ngoại ngữ tương đối cao, đạt khoảng 88,6 %.
Song số lao động sử dụng thành thạo từ hai ngoại ngữ trở lên còn
thấp chỉ chiếm khoảng 28 %. Lao động tốt ngiệp đại học ngoại ngữ
cao nhất là những người làm công tác hướng dẫn viên du lịch với
49,58 % ,sau đó là nhân viên marketing du lịch là 46,76 % ,lễ tân
khách sạn khoảng 40 % , trong khi đó nhân viên chế biến món ăn con
số này hầu như không đáng kể.
3. Đánh giá chung về nhân lực du lịch
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status