Lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước và thực tiễn vận dụng ở nước ta
Ngày 20/4/2006. Cập nhật lúc 16
h
58'
(ĐCSVN)- Lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước (CNTBNN) là một bộ phận
quan trọng trong toàn bộ hệ thống lý luận của Lênin về chính sách kinh tế mới (NEP) đã
được Người trực tiếp chỉ đạo và triển khai ở nước Nga Xô viết đầu những năm 20 thế
kỷ XX. Lý luận này cũng đã được vận dụng vào thực tiễn nước ta trong nhiều năm qua
và hiện nay.
Nhân kỷ niệm 136 năm ngày sinh của V.I. Lênin vĩ đại (22/4/1870-22/4/2006), Báo Điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết này.
Trên thực tế từ cuối năm 1917, ngay sau khi chính quyền Xô viết được thành lập, Lênin đã có
những tư tưởng đầu tiên về sử dụng thành phần kinh tế TBCN như là một hình thức kinh tế
đặc thù của thời kỳ quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, khi ấy quan niệm Người về việc sử dụng
CNTBNN còn ở những nét phác thảo và mang nặng tính chất là một biện pháp chính trị nhằm
củng cố sự độc quyền Nhà nước trong lưu thông hàng hoá, đặc biệt trong việc chống đầu cơ
lúa mì của bọn địa chủ, culắc và thương nhân tư bản bấy giờ. Tiếc rằng, do những diễn biến
phức tạp của tình hình nước Nga Xô viết những năm 1918-1920, đã buộc Nhà nước Xô viết
phải thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, tiến hành quốc hữu hoá ngay những tài sản, tư
liệu sản xuất quan trọng nhất của bọn tư bản độc quyền, đại địa chủ và các thế lực phản động,
chống phá cách mạng khác. Những hành động đó là kịp thời và đúng đắn với tình hình bấy giờ
song cũng vì đó đã làm hạn chế các khả năng sử dụng CNTBNN, điều mà trước đó Lênin đã
từng dự liệu.
Tháng 3/1921, sau khi nội chiến kết thúc, tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga với việc đề ra
chính sách kinh tế mới, Lênin đã chỉ rõ trong những điều kiện mới này, việc sử dụng những
hình thức kinh tế quá độ của CNTBNN là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này. Thời
kỳ chính sách cộng sản thời chiến đã kết thúc, giờ đây CNTBNN là một trong những hình thức
rất thích hợp để giúp nước Nga Xô viết nhanh chóng khắc phục tình trạng suy sụp kinh tế sau
chiến tranh và ngăn chặn những nảy sinh tự phát của nền sản xuất hàng hoá nhỏ-mầm mống
của sự phục hồi CNTB. Sở dĩ CNTBNN dưới điều kiện chuyên chính vô sản có ý nghĩa quan
trọng và tác dụng to lớn như vậy vì như định nghĩa của Lênin-đó là một thứ CNTB có liên quan
367).
Sử dụng CNTBNN rõ ràng là sự cần thiết khách quan đối với nước Nga Xô viết bấy giờ. Tuy
nhiên, Lênin đã chỉ rõ, việc cho phép phát triển các hình thức kinh tế quá độ trong đó có
CNTBNN cũng như việc sử dụng rộng rãi các quan hệ trao đổi hàng hoá-tiền tệ theo tinh thần
của NEP đó không phải là một sự đầu hàng giai cấp tư sản, cho phép phục hồi tự do các quan
hệ TBCN. Nhà nước chuyên chính vô sản chỉ cho phép CNTB tồn tại ở mức độ cần thiết có lợi
cho công cuộc phục hồi kinh tế và xây dựng CNXH. Sử dụng NEP, trong đó bao gồm những
biện pháp cải tạo theo phương pháp hoà bình đối với các thành phần kinh tế TBCN và sản
xuất nhỏ là một việc làm cần thiết và phù hợp với điều kiện lịch sử nước Nga Xô viết bấy giờ.
Song cũng cần xác định về mặt nguyên tắc đó không phải là quá trình thủ tiêu đấu tranh giai
cấp tiến tới chung sống hoà bình với giai cấp tư sản và các thế lực đối kháng khác của giai
cấp vô sản và nhân dân lao động. Yêu cầu đặt ra là Nhà nước Xô viết phải biết sử dụng các
hình thức, phương pháp điều tiết, kiểm kê, kiểm soát không được để cho CNTB phát triển một
cách tuỳ tiện “Muốn không thay đổi bản chất của mình, Nhà nước vô sản chỉ có thể thừa nhận
cho thương nghiệp tự do và cho CNTB được phát triển trong một chừng mực nhất định nào đó
và chỉ với điều kiện là thương nghiệp tư nhân và tư bản tư nhân phải phục tùng sự điều tiết
của Nhà nước (giám sát, kiểm tra, quy định các hình thức, trật tự.v.v…)” (Lênin toàn tập, t.44,
NXB Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr.418).
Trong thực tiễn những năm 1920 ở nước Nga, những tư tưởng trên đây của Lênin về
CNTBNN đã được chính Người trực tiếp chỉ đạo, vận dụng vào quá trình cải tạo XHCN đối với
các thành phần kinh tế TBCN và sản xuất nhỏ. Có rất nhiều hình thức khác nhau của CNTBNN
đã được sử dụng như tô nhượng cho các nhà tư bản nước ngoài, các xí nghiệp, cơ sở kinh tế,
khai thác tài nguyên của nước Nga, cho phép các nhà tư bản trong nước được tham gia các xí
nghiệp của Nhà nước, lập các công ty hợp doanh (hỗn hợp ngoại thương) giữa Nhà nước vô
sản với các nhà tư bản, tổ chức mạng lưới các hợp tác xã tư sản, các đại lý thương nghiệp
trong đó sử dụng các nhà tư bản hay tiểu thương v.v
Việc sử dụng các hình thức kinh tế quá độ của CNTBNN ở Nga những năm 1920 tuy rất đa
dạng và linh hoạt mà trên đây chưa thể kể hết được, nhưng thực tiễn đã cho thấy chưa mang
lại những kết quả mong muốn như dự định ban đầu của Lênin và Nhà nước Xô viết. Nếu chỉ
xét về mặt định lượng hiệu quả kinh tế đơn thuần, thì lợi ích do CNTBNN mang lại chỉ là
nhẹ, nếu như không muốn nói là chúng ta không quan tâm cho phát triển. Kết quả là cùng với
nhiều nguyên nhân khác nữa, kinh tế-xã hội Việt Nam khi đó không thể phát triển được do lâm
vào khủng hoảng và lạm phát kéo dài vì nền sản xuất xã hội đình trệ trên tất cả các lĩnh vực
khác nhau.
Chỉ đến những năm sau đổi mới, kể từ Đại hội VI của Đảng ta (tháng 12/1986) cho đến nay,
kinh tế nước ta mới thực sự khởi sắc với những kết quả, thành tựu phát triển vượt bậc. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến sự phát triển này, song chắc chắn phải kể đến một nguyên nhân
quan trọng là chúng ta đã nhận thức lại đúng đắn hơn về những nhiệm vụ, biện pháp, bước đi
thích hợp cần phải tiến hành mà trước hết về tư duy kinh tế là phải thừa nhận sự tồn tại khách
quan những đặc điểm vốn có của một nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH.
Điều đó có nghĩa phải thừa nhận về mặt biện pháp, chính sách kinh tế là phải vận dụng một
cách đúng đắn, sáng tạo những tư tưởng chỉ đạo của Lênin về “NEP”, về CNTBNN mà trước
hết là thừa nhận sự tồn tại khách quan của một nền kinh tế nhiều thành phần, bên cạnh các
thành phần XHCN còn có cả các thành phần phi XHCN, hay như cách nói của Lênin là có cả
“những mẩu, những mảnh của CNTB, của nền sản xuất nhỏ…”. Từ đó Đại hội VI và lần lượt
qua các Đại hội VII, VIII, IX và đến nay chúng ta đang tiến hành Đại hội X, theo tiến trình đổi
mới 20 năm qua, giờ đây nhìn lại tuy có những điểm khác biệt do thời đại ngày nay đã khác
thời đại Lênin thực thi “NEP” những năm 1920 ở nước Nga, song nếu xem xét kỹ lại những tư
tưởng chỉ đạo của Lênin trước đây, ta thấy có nhiều điểm về cơ bản vẫn là ta đã và đang vận
dụng “NEP’, sử dụng các hình thức kinh tế quá độ của CNTBNN. Thể hiện ở một số nội dung
cơ bản sau:
- Chúng ta đã thực hiện phát triển mạnh một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, có
nghĩa là tôn trọng quy luật giá trị, tôn trọng các quy luật vận động khách quan khác của các
quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá-tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, kể cả trong các lĩnh
vực kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại, nhưng cần tuân thủ sự phát triển bền vững theo định
hướng XHCN do Đảng và Nhà nước ta đề ra.
- Thừa nhận sự tồn tại và phát triển khách quan của một nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần với sự tồn tại đan xen nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Đại hội VI, chúng ta mới thừa
nhận CNTBNN là các hình thức kinh tế quá độ. Đến Đại hội VII, trở đi CNTBNN đã được coi là
một thành phần kinh tế. Không chỉ thế, kể cả tư bản tư nhân cũng từ Đại hội VII ta đã thừa
TS. Trần Anh Phương