CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN CÁC
KHOẢN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH DÀI HẠN
1.1. Đầu tư tài chính dài hạn với mục tiêu kiểm toán
1.1.1. Đầu tư tài chính dài hạn với kiểm toán tài chính
Theo quan điểm của kế toán thì đầu tư tài chính là đầu tư các nguồn
lực, các khoản tiền nhàn rỗi trong ngân quỹ vào các doanh nghiệp, các đơn vị,
đầu tư vào thị trường chứng khoán và công cụ tài chính khác. Đầu tư tài
chính được chia thành hai loại: Đầu tư tài chính dài hạn và đầu tư tài chính
ngắn hạn.
Các khoản đầu tư dài hạn là một khoản mục thuộc Bên Tài sản trong
BCĐKT của một doanh nghiệp. Các khoản đầu tư dài hạn là các khoản đầu tư
với thời gian thu hồi vốn trên một năm, bao gồm đầu tư bằng tiền, bằng hiện
vật hoặc bằng các tài sản khác. Nếu hiểu một cách cơ bản nhất thì đầu tư tài
chính dài hạn là sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi hoặc các tài sản khác của
doanh nghiệp này góp với các đơn vị kinh doanh khác trong thời hạn trên một
năm với mong muốn tạo ra lợi nhuận trong tương lai.
Doanh nghiệp có thể thực hiện đầu tư tài chính dài hạn dưới các hình
thức sau:
Hình thức thứ nhất là đầu tư vào công ty con: Công ty con là một doanh
nghiệp chịu sự kiểm soát của một công ty khác gọi là công ty mẹ. Đầu tư vào
công ty con bao gồm các khoản đầu tư cổ phiếu và các khoản đầu tư vốn dưới
hình thức góp vốn bằng tiền, tài sản khác vào công ty con. Nghiệp vụ đầu tư vào
công ty con được ghi nhận khi nhà đầu tư giữ trên 50% quyền biểu quyết và có
quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm thu được lợi ích từ các hoạt động của doanh nghiệp đó
Hình thức thứ hai là góp vốn liên doanh: Vốn góp liên doanh phản ánh
toàn bộ số vốn góp liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh doanh đồng
kiểm soát và tình hình thu hồi lại vốn góp liên doanh khi kết thúc hợp đồng liên
doanh. Vốn góp vào cơ sở liên doanh đồng kiểm soát bao gồm tất cả các loại tài
sản, vật tư, tiền vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp kể cả tiền vay dài hạn
dùng vào việc góp vốn.
sự phân lại trình bày và miêu tả chính xác của các khoản đầu tư dài hạn của
doanh nghiệp. Ngoài ra, kiểm toán viên phải đưa ý kiến về tính thích hợp, chính
xác và sự tuân thủ chuẩn mực kế toán cũng như quy định kế toán hiện hành của
việc lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn sẽ được lưu lại trong thời gian hơn một
năm. Do vậy trong các cuộc kiểm toán hàng năm, mức nguyên giá của các khoản
đầu tư này không cần kiểm tra lại nếu đó là khách hàng thường niên của công ty
kiểm toán. Tuy nhiên để đảm bảo các khoản đầu tư dài hạn được mua trong các
giai đoạn trước thì phải kiểm tra sự tồn tại của các khoản đầu tư quan trọng tại
thời điểm ghi trong BCĐ. Đối với năm kiểm toán đầu tiên thì mục tiêu kiểm
toán là kiểm tra tính phân loại và trình bày của các khoản mục đầu tư dài hạn,
đánh giá các điều kiện để ghi nhận đó là khoản đầu tư dài hạn và hình thức
đầu tư. Khi trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp có ghi nhận các cổ phiếu,
trái phiếu hoặc các khoản đầu tư dài hạn khác thì mục tiêu kiểm toán là kiểm
tra tính có thực và tính đầy đủ của các chứng khoán đó.
Đối với các khoản đầu tư dài hạn bằng hình thức góp vốn liên doanh thì
Báo cáo tài chính đã kiểm toán của liên doanh phải được sử dụng để tính toán
lại thu nhập hoặc chi phí cho liên doanh trong năm của doanh nghiệp. Mục
tiêu kiểm toán các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn liên doanh là đưa ý
kiến về tính đầy đủ, tính có thật, tính chính xác số học của các khoản góp vốn
liên doanh. Ngoài ra, KTV còn phải xác minh và đưa ý kiến về các khoản thu
nhập hoặc chi phí cho liên doanh trong năm được kiểm toán.
Việc cần thiết tạo ra một khoản dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài
hạn phải được kiểm toán viên xem xét một cách cụ thể với các khoản đầu tư dài
hạn quan trọng. Mục tiêu kiểm toán khoản mục này là đưa ra ý kiến về tính
định giá, tính chính xác, tính đầy đủ của các khoản đầu tư dài hạn bị giảm giá
cũng như việc lập dự phòng các khoản đầu tư tài chính.
Một mục tiêu kiểm toán nữa là kiểm tra, xác minh và đưa ra ý kiến về
sự trình bày báo cáo tài chính của khách hàng. Trong báo cáo tài chính, nhà
đầu tư phải trình bày: Danh sách các công ty liên kết kèm theo các thông tin về
chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên BCTC.
Đối với khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường được xem là khoản
mục quan trọng và là hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đáng kể đến nguồn vốn
cũng như lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì thế tính hiệu quả của hệ thống kiểm
soát nội bộ của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới các cơ sở dẫn liệu của khoản
mục đầu tư dài hạn như tính có thật, tính đầy đủ, tính chính xác số học, tính phân
loại trình bày. Cũng như giai đoạn tìm hiểu và khảo sát khách hàng, các phương
pháp KTV áp dụng khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến khoản
mục đầu tư tài chính dài hạn là:
Phương pháp thứ nhất là dựa vào kinh nghiệm của KTV tiền nhiệm: Hầu
hết các cuộc kiểm toán của một công ty được một công ty thực hiện hàng năm.
Do vậy KTV thường bắt đầu cuộc kiểm toán với một lượng thông tin đáng kể về
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đã thu thập được từ các cuộc kiểm
toán trước như biên bản các cuộc họp cổ đông và cuộc họp bất thường liên
quan đến chiến lược đầu tư cũng như các quyết định đầu tư dài hạn. Các tài
liệu này được lưu trong hồ sơ thường niên của khách hàng. KTV có thể dựa
vào tài liệu năm trước để kiểm tra kế hoạch đầu tư của khách hàng trong năm
nay. Ví dụ trong cuộc họp cổ đông cuối năm 2006 của Công ty ABC, Đại hội
đồng cổ đông muốn mở rộng hình thức đầu tư và ABC nhận thấy Công ty XYZ
là một công ty có tỷ suất lợi nhuận cao trong năm 2006 và XYZ có khả năng
phát triển hơn nữa trong tương lai nên chiến lược đầu tư dài hạn của Công ty
ABC trong năm 2007 là góp vốn đầu tư vào Công ty XYZ theo hình thức đầu
tư vào công ty liên kết nhằm làm phong phú hình thức kinh doanh và đạt lợi
nhuận trong tương lai. Khi KTV kiểm tra hồ sơ hoặc có thể phỏng vấn trực tiếp
KTV tiền nhiệm (nếu là KTV khác thực hiện kiểm toán kỳ trước) để biết định
hướng phát triển của khách hàng, sau đó trong khi thực hiện kiểm toán năm
2007 sẽ đối chiếu với những thông tin đã nhận được từ cuộc kiểm toán kỳ
trước, từ đó đánh giá tính trung thực của Ban Giám đốc.
Phương pháp thứ hai là thẩm vấn nhân viên của Công ty khách hàng: Đối
với khách hàng mới, KTV sử dụng phương pháp này để nắm bắt khái quát hệ
Tuy nhiên vận dụng nguyên tắc trên trong các trái phiếu hoặc các giấy chứng
nhận cổ phiếu có đặc điểm riêng. Thực tế, doanh nghiệp có thể duy trì một TK
với đại lý hoặc nhà đầu tư chịu trách nhiệm về các công cụ tài chính đó trên
danh nghĩa của doanh nghiệp theo cách thức ngân hàng thường dùng để theo
dõi tiền gửi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải mở sổ phụ theo dõi cho
từng hạng mục đầu tư dài hạn. Sổ phụ đó phản ánh giá vốn đầu tư và khi cần
thiết phải tồn trong quy luật “ngang giá” của các khoản đầu tư, có tính đến lãi
suất, ngày đáo hạn, các mức phí hoặc chiết khấu thanh toán và tỷ lệ phần trăm
vốn trong liên doanh.
Rủi ro tiềm tàng thường có là rủi ro ghi tăng tài sản thông qua việc vào
sổ sách các chứng khoán đầu tư dài hạn không thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp hoặc bằng cách ghi tăng giá thực tế của tài sản đem đầu tư.
Ngoài ra còn thể có rủi ro do phân loại sai TSCĐ thành các khoản đầu
tư dài hạn hoặc không ghi giảm tài sản cố định khi sử dụng tài sản dó đem đi
góp vốn đầu tư.
Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua những hiểu biết về hệ thống
KSNB. Nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng được vận hành hữu
hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và ngược lại. Ví dụ như công ty
khách hàng đầu tư vào một công ty liên kết mà qua phỏng vấn khách hàng, KTV
nhận thấy khách hàng am hiểu các chuẩn mực về đầu tư vào công ty liên kết và
phân biệt được với các khoản đầu tư dưới hình thức khác, đồng thời khoản đầu
tư này được ghi nhận đầy đủ trong các biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông
hoặc BGĐ thì hệ thống KSNB đối với khoản mục đầu tư vào công ty liên kết
vận hành khá hiệu quả. Từ đó, KTV có thể khoanh vùng rủi ro kiểm soát đối với
khoản đầu tư vào công ty liên kết thấp.
Bước 3: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ):
Mục đích của thử nghiệm này là thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu của
các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư
và các nghiệp vụ phát sinh.
Đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn, thử nghiệm kiểm soát được