Hạn chế của gen trong chẩn đoán bệnh - Pdf 15

Hạn chế của gen
trong chẩn đoán bệnh
Trong vài năm gần đây, hầu như
bất cứ tuần nào qua đi đều cũng có
một bản tin báo chí về phát hiện
một gen mới hay một khám phá
mới trong y học. Kèm theo những
bản tin đó là những bình luận của
các chuyên gia cao cấp với những
danh xưng cao quí như “giáo sư”,
“tiến sĩ” tiên đoán về tương lai của
y khoa. Một đặc điểm chung của
các bình luận này là tính lạc quan,
cho rằng di truyền học sẽ làm một
cuộc cách mạng trong y khoa nay
mai, rằng các nhà khoa học sẽ có
phương tiện phân tích gen để chẩn
đoán chính xác ai sẽ mắc (hay
không mắc) bệnh trong tương lai.
Người viết bài này cho rằng những
tiên đoán như thế là thiếu thực tế,
không phù hợp với bằng chứng mà
chúng ta đang có. Ngoại trừ vài
bệnh do di truyền gây ra mà gen
đóng một vai trò quan trọng trong

50% gen từ bà ngoại. Th
ành ra, tính
theo xác suất, mỗi chúng ta thừa
hưởng 25% gen từ ông nội, 25% từ
bà nội, 25% từ ông ngoại, và 25%
từ bà ngoại. Chả thế mà ông bà ta
ngày xưa từng nói: “Con nhà tông,
không giống lông cũng giống
cánh”. Di truyền và “mò kim đáy biển”

Có thể suy luận từ câu nói trên r
ằng
bệnh tật mà chúng ta mắc phải
ngày nay một phần là do các y
ếu tố
di truyền gây ra, và có xu hướng
tập trung vào một nhóm dân nào
đó. Chẳng hạn như người Bắc Âu
có nguy cơ mắc bệnh xơ nang
(cystic fibrosis) cao hơn bất cứ sắc
dân nào khác. Bệnh Tay-Sachs,
một bệnh cực nguy hiểm có liên
quan đến hệ thống thần kinh, rất
hiếm trên thế giới, nhưng lại đặc
biệt phổ biến ở người gốc Do Thái
thuộc bộ tộc Ashkenazi. Người da
đen ở Mĩ có nguy cơ bị bệnh cao

đầu tư hàng tỉ Mĩ kim vào các
nghiên cứu truy tìm gen.

Công cuộc truy tìm gen có 3 mục
đích chính: tiên đoán bệnh, tìm
hiểu cơ chế của bệnh, và phát triển
thuốc để điều trị. Khi một gen có
liên quan đến một bệnh được phát
hiện, các nhà khoa học có thể tiên
đoán khả năng mà một cá nhân sẽ
mắc bệnh ngay từ lúc mới lọt lòng
mẹ (vì gen không thay đ
ổi theo thời
gian!), và do đó, y tế có thể tìm
biện pháp phòng ngừa hay điều trị
trước khi cá nhân mắc bệnh. Mục
đích thứ hai của gen là qua nghiên
cứu cơ chế hoạt động của gen, các
nhà khoa học có thể biết cơ chế và
quá trình phát triển của bệnh như
thế nào. Lợi ích sau cùng là khi đã
biết được cơ chế và quá trình phát
triển, các nhà khoa học có thể bào
chế thuốc hay phát triển một thuật
đi
ều trị để ngăn ngừa bệnh cho một
cộng đồng.

Trên lí thuyết, đó là những mục
đích có thể hoàn tất được. Với phát

gen vẫn còn nhiều khó khăn. Xin
nhắc lại rằng mỗi chúng ta mang
trong người khoảng 25.000 gen và
hàng trăm triệu biến thể gen. Do
đó, việc truy tìm một (hay nhiều)
gen liên quan đến một bệnh có thể
ví như chuyện “mò kim đáy biển”,
và đòi hỏi đóng góp của nhiều bộ
môn khoa học như di truyền học,
sinh hóa học, thống kê học và máy
tính. Cho đến nay, các nhà khoa
học vẫn chưa biết rõ gen nào có
liên quan đến bệnh nào.

Trong một phân tích tổng hợp đư
ợc
công bố gần đây, các nhà nghiên
cứu Mĩ rà soát hơn 600 báo cáo về
“phát hiện” gen trong vòng 14 năm
từ 1986 đến 2000, và họ cho biết
chỉ có 6 gen có thể được xem là
đáng tin cậy: đó là các gen Factor
V / Leyden (bệnh deep vein
thrombosis), gen CTLA4 (bệnh
Graves), gen insulin (đái đường
loại I), gen CCR5 (nhiễm HIV /
AIDS), gen APOE4 (bệnh
Alzheimer), và gen Prion protein
(bệnh Creutzfeldt – Jacob). Các
bệnh này tương đối hiếm thấy, và


Tuy nhiên, phần lớn các bệnh mãn
tính và phổ biến như đái đường,
ung thư, bệnh tim, tai biến, loãng
xương, v.v… thì do nhiều gen gây
nên. Cho đến nay, giới khoa học
vẫn chưa biết có bao nhiêu gen gây
nên các bệnh này! Vì bệnh do
tương tác của nhiều gen, cho nên
phát hiện một gen cũng chưa thể
đem lại lợi ích cho bệnh nhân, và
thông tin gen vẫn chưa thể ứng
dụng cho thức hành lâm sàng. Đối
với những bệnh mãn tính này, truy
tìm gen đã khó, ứng dụng gen vào
việc tiên đoán (hay chẩn đoán)
bệnh tật càng khó hơn và đặt ra
nhiều vấn đề nan giải.

Ung thư đường ruột là một bệnh
khá phổ biến ở người Á châu. Đại
đa số, có thể lên đến 95%, trường
hợp ung thư ruột là do các yếu tố
môi trường, nhưng có khoảng 5%
đến 10% trường hợp ung thư ruột l
à
do di truyền từ một số gen. Đối với
những cá nhân mà trong gia đ
ình có
ít nhất là 3 người thân (như anh,

khoảng 1%). Ngay cả ở phụ nữ da
trắng, việc xét nghiệm gen BRCA1
và BRCA2 để tiên đoán ung thư vú
và ung thư buồng trứng cũng chưa
rộng rãi vì mức độ bất định c
òn quá
cao, chưa thể ứng dụng trong thực
hành lâm sàng. Chưa có nghiên c
ứu
lớn ở người Á châu, nên chúng ta
vẫn chưa biết khả năng ứng dụng
của hai gen cho tiên đoán ung thư

phụ nữ Việt Nam.

Bệnh Alzheimer (sa sút trí tuệ) khá
phổ biến ở người da trắng và đang
là một đề tài nghiên c
ứu qui mô của
y học Tây phương. Khoảng 20%
đến 30% trường hợp bệnh n
ày là do
đột biến gen gây nên. Một gen có
liên quan đến bệnh là gen APOE4
(apolipoprotein E4). Người mang
biến thể E4 của gen này trong
người có nguy cơ mắc bệnh cao
hơn gấp 10 lần so với người không
mang biến thể E4. Tuy nhiên, chỉ
có khoảng 2% (trong người da

ưng
lại có hiệu quả cao ở ngư
ời da trắng
hay người gốc Âu châu. Đối với
việc điều trị bệnh hen, ngư
ời da đen
cần một liều lượng thuốc cao hơn
người da trắng để đạt đến một hiệu
suất lâm sàng tương đương. Thuốc
Prozac (dùng để điều trị chứng
trầm cảm) khi dùng ở người da đen
phải giảm liều lượng so với người
da trắng, bởi vì độ chuyển hóa
thuốc đó ở người da đen chậm hơn
ở người da trắng.

Liên quan đến điều trị bệnh suy
tim, một số nghiên cứu mới đây
m
ới đây cho thấy thuốc BiDiL (hóa
hợp hai loại thuốc isosorbide và
dinitrate) khi dùng trong một quần
thể chung không có hiệu quả gì
đáng kể, nhưng khi dùng ở người
da đen nó có hiệu quả rất cao.
Trong một nghiên cứu ở người da
đen (vừa công bố trên t
ập san y học
danh ti
ếng New England Journal of

dứt khoát bác bỏ khái niệm “chủng
tộc” cũng như việc xem xét đến
màu da để điều trị bệnh tật.

Quan điểm chính thống của y học
hiện đại là người thầy thuốc không
cần phải xem xét đến yếu tố m
àu da
của bệnh nhân để quyết định một
loại thuốc hay thuật điều trị. Nh
ưng
với nhiều bằng chứng nghiên cứu
mới, một số khoa học gia và bác sĩ
không đồng ý với quan điểm
“chính thống” trên, họ lí giải và
đưa ra nhiều kinh nghiệm thực tế
để chứng minh rằng có thể nâng
cao hiệu quả của thuốc bằng cách
quan tâm đến yếu tố chủng tộc của
b
ệnh nhân. Lí do đằng sau của quan
điểm này là hệ thống nội tiết và sự
chuyển hóa trong người da trắng
khác với người da đen.

Thế nhưng chủng tộc không nhất
thiết phải là kim chỉ nam để chọn
thuốc điều trị. Đã từ lâu người ta
nghĩ rằng bệnh thiếu hồng huyết
cầu (sickle cell anemia) là b

truyền xảy ra ở cấp cá nhân, giới
nghiên cứu khoa học có tham vọng
phát họa toàn bộ cơ cấu di truyền
để có thể đoán trước những bệnh
tật và hiệu ứng của các loại thuốc
cho một bệnh nhân. Một bộ môn
khoa học mới ra đời có tên là
pharmacogenetics (tạm dịch là
dược liệu di truyền học), với mục
tiêu nghiên cứu hiệu ứng của thuốc
cho từng cá nhân. Bộ môn này còn
non trẻ, nhưng cũng đã có những
bước tiến ngoạn mục. Trong ngành
loãng xương, chúng tôi đã nghiên
cứu mối liên hệ giữa gien và hiệu
ứng của các thuốc chống loãng
xương, và phát hiện rằng thuốc
raloxifene và thay thế hormone có
hiệu quả cao trong những người có
biến thể BB của gien VDR, nhưng
thuốc alendronate thì có hiệu quả
cao trong những người có biến thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status