Tiểu luận " Chọn và phân tích một số sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ " - Pdf 15

z


ĐỀ TÀI
Chọn và phân tích một số sự kiện tiêu biểu trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ
Giáo viên h
Giáo viên h
ướng dẫn
ướng dẫn
:
:
Sinh viên thực hiện
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Văn Hoàng
: Nguyễn Văn Hoàng
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng, cao đẹp của một
người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc,
đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công
lý trên thế giới. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vì sự nghiệp giải phóng dân
tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều sự kiện tiêu biểu đáng lưu ý. Trước khi
tìm hiểu về các sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời hoạt động của Bác, chúng ta cùng
tìm hiểu khái quát về tiểu sử cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
1. Khái quát về chủ tịch Hồ Chí Minh và các hoạt động của Người
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là
Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái
Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác), Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở
Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà

của Người đã được đưa vào như tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản
năm l925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân,
thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Tháng 6
năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế
Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất Nguyễn
Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất
của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự
Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ
IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Ngườil kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư
tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc
tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên thường
trực Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng
sản.
Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chọn
một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống ở Quảng Châu, trực tiếp mở lớp
huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam Các bài giảng của Người được tập hợp in
thành cuốn sách “Đườg Kách mệnh" - một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư
tưởng cho dường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên ra báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của
Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên
Xô), sau đó đi Berlin (Đức), đi Bruxell (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại
hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về Châu Á.
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng
Từ tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt đông trong phong trào
vận Đảng Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu
Long gần Hương Cảng, thông qua Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ

Quân đội nhân dân Việt Nam.
Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng
lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao
Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn
quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã họp quyết định tổng khởi nghĩa. Đại hội
Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời)
do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử,
Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một
lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên
bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ
nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi
xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân
Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức
mình là chính, từng bước giành thắng lợi.
Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng
Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thưc dân Pháp
xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết húc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo
nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc.
Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960,
Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội, Người được bầu
lại làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.

2.1 Sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng
Sự kiện tiêu biểu trước tiên là vào năm 1911 người đã ra đi tìm đường cứu
nước. Sau một thời gian ngắn ở Sài Gòn, ngày 5 tháng 6 năm 1911, lấy tên là Ba,
chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm phụ bếp dưới tau buôn Đô đốc Latutso Têrevilo
của Pháp. Từ đó, người đi rất nhiều trước hết là sang Pháp. Nhưng người không
dừng lại ở nước Pháp mà còn đi nhiều nước khác ở Châu Âu, Châu Phi và Châu
Mĩ như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Anh, Mĩ…Với lòng yêu nước nồng
nàn và căm thù sâu sắc bọn thực dân cướp nước và bè lũ tay sai bán nước, Người
kiên trì chịu đựng mội gian khổ, chú ý xem xét tình hình và suy nghĩ về những
điều mắt thấy tai nghe, mong sao thực hiện được hoài bão cao cả của mình. Ở
Pháp, Người lao động chân tay để sống: nấu bếp, làm vườn ở Xanhtơ Ađơret. Ở
Anh, Người đi quét tuyết cho một trường học, đốt lò và phục vụ khách sạn ở Luân
Đôn. Tại đây, Người đã hăng hái tham gia những cuộc diễn thuyết ngoài trời của
nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia hội những người lao động hải ngoại, ủng
hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Airơlen, liên hệ với một số người Việt
Nam yêu nước ở Pháp như cụ Phan Châu Trinh…Trong những năm sống và hoạt
động ở Anh, Người đa học được những bài học đầu tiên về chống chế độ thực dân
Anh. Người còn đến Mĩ, sống và hoạt động ở nước Mĩ không bao lâu nhưng
Người đã sớm nhận ra bộ mặt thật của bọn đế quốc. Đằng sau khẩu hiệu “cộng hòa
dân chủ” của giai cấp tư sản Mĩ là những thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động rất
tàn bạo. Người thông cảm sâu sắc với đời sống cơ cực của những người lao động
da đen và rất căm giận bọn phân biệt chủng tộc đã hành hình người da đen một
cách man rợ.
Trải qua những năm lăn lộn trong quần chúng lao động ở nhiều nước trên
thế giới, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ cảnh bất công, tàn bạo của xã hội tư bản.
Người vô cùng xúc động trước đời sống cực khổ của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động các nước, không kể là da trắng, da vàng hay da đen. Đến một số
nước thuộc địa Châu Phi, Người thấy rõ đâu đâu người dân mất nước cũng khổ
nhục như nhau. Bước đầu, người rút ra kết luận quan trọng là ở đâu chủ nghĩa tư

điểm khó khăn, phức tạp ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện như một vị cứu
tinh của cách mạng và phong trào cộng sản Việt Nam. Lịch sử đòi hỏi phải có một
lãnh tụ có đầy đủ uy tín và năng lực để thống nhất các tổ chúc cộng sản ở Việt
Nam. Và chủ tịch Hồ Chí Minh là người đáp ứng yêu cầu đó.
Vào cuối thu năm 1929, đang hoạt động ởThái Lan, được sự ủy nhiệm của
quốc tế cộng sản, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở lại Hồng Công, triệu tập hội nghị
đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất các tổ chức công sản, thành lập đảng
cộng sản Việt Nam.
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng
Dưới sự chủ tọa của Người, hội nghị đã họp từ ngày mùng 3 đến ngày mùng
7 tháng 2 năm 1930, trong căn phòng hẹp của một người công nhân ở Cửu Long,
gần Hồng Công. Sau 5 ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, hội
nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng cộng sản
chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, do chủ tịch
Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, sách lược vắn tắt của
Đảng, điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Lời kêu gọi của
Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gởi đến
công nhân, nông dân, đồng bào, đồng chí cả nước nhân dịp thành lập Đảng. Các
văn kiện quan trọng trên là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đã đặt ra và giải quyết
những vấn đề cơ bản, cần thiết và định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình
phát triển của cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Đó
cũng là kết quả của sự phát triển cao và thống nhất của phong trào công nhân và
phong trào yêu nước. Chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là hệ tư tưởng lý luận của
giai cấp công nhân, phong trào công nhân mà còn là vũ khí giải phóng giai cấp
công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách
mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức

quan hệ với phương Bắc như “áng
thơ thần bên sông Như Nguyệt”
gắn với cuộc kháng chiến chống
Tống của Lý Thường Kiệt, như
“Hịch tướng sĩ văn” thời Trần
Hưng Đạo thống lĩnh ba quân đánh
bại giặc Nguyên-Mông, hay “Đại
cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi
tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc
Minh đô hộ, dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi
Nhưng với Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa lịch sử
đối với toàn thế giới khi cuộc Đại chiến lần thứ hai kết thúc, lại mang một giá trị
đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân
tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc, mà còn khẳng định được với toàn thế
giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly khỏi chế độ
thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng

trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự
thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Hơn thế nữa, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lại là thành quả của
“một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay” do
vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”. Và trên thực
tế nhà nước này đã được ra đời đúng với nguyên lý mà những người lãnh đạo
cuộc cách mạng đã xác định ngay từ rất sớm là “đem sức ta giải phóng cho ta”.
Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo văn kiện này vào
đêm 28/8/1945, ngay sau khi Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là
chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ
Dân chủ Cộng hoà chính thức”. Và ai cũng biết rằng chính phủ lâm thời này được

thảo ngay giữa lòng thành phố Hà
Nội, ngôi nhà phố 48 Hàng Ngang
của một nhà tư sản dân tộc. Văn
bản này đã được tác giả trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong
đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng
mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về
một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi
với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc
lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hoà
Chúng ta cũng biết rằng từ 20 năm trước đó (1925) trên báo “Thanh Niên”
xuất bản ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dịch văn kiện này khi viết bài giảng
về “Lịch sử Cách mạng Hoa Kỳ”. Và trước khi về Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn
Độc lập của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ của OSS thả dù
xuống chiến khu Việt Bắc văn kiện lịch sử này để tham khảo.
Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (6/2005), tại
cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng
nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ. Đó là nguyên Thượng nghị sĩ
Mc Govern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với R.Nixon. Ông đã đưa ra nhận
xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn
thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với Bản Tuyên ngôn của
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng

Thomas. Jefferson. Câu “chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người
đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: ”Mọi dân tộc sinh
ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”
Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “suy
rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng;
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tự do- Hạnh phúc” mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng
một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại.
3. Kết luận chung
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vân
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
sáng lập Đảng Mác- Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt
Nam, sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn
kết hợp chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương
đạo đức cao cả, cần, kiệm,liêm, chính, chí công. vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị
Với những công lao vô cùng to lớn của Người, cùng với sự ngưỡng mộ
không chỉ của nhân dân trong nước mà cả của nhân dân trên toàn thế giới vào
năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã
công nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng
Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường
cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
SVTH: Trần Thị Khuyên- Lớp: 07CVH1- Khoa Ngữ Văn- ĐHSP Đà Nẵng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status