nêu và phân tích một số biện pháp khuyến khích đầu tư theo quy định của luật đầu tư. tại sao nhà nước lựa chon tiêu chí lĩnh vực và địa bàn đầu tư làm cơ sở để khuyến khích đầu tư - Pdf 24

Đề bài: Nêu và phân tích một số biện pháp khuyến khích đầu tư theo quy định của
Luật đầu tư. Tại sao Nhà nước lựa chon tiêu chí: lĩnh vực và địa bàn đầu tư làm cơ sở để
khuyến khích đầu tư.
Pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư có vai trò quan trọng trong sự nghiệp
đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững. Thu hút
đầu tư không chỉ đòi hỏi sự vận động nội tại của nền kinh tế trong nước mà còn đòi hỏi một
cơ chế chính sách, pháp luật đồng bộ theo hường ngày càng hoàn thiện để đáp ứng đòi hỏi
phát triển kinh tế đất nước, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Do đó, việt Nam đã đưa
ra một số biện pháp khuyến khích đầu tư theo luật đầu tư 2005, với tiêu chí: lĩnh vực và địa
bàn đầu tư là cơ sở để khuyến khích đầu tư.
I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ.
I.1 Khái niệm:
Các biện pháp khuyến khích đầu tư được hiểu là tất cả những quy định do nhà nước
ban hành, nhằm tạo những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư, khi tiến hành đầu tư vào nền
kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích của nhà nước, nền kinh tế xã hội và của nhà đầu tư.
Các biện pháp đó chứa đựng những ưu đãi hoặc tạo ra điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư.
I.2 các biện pháp khuyến khích đầu tư chủ yếu.
Có hai biện pháp đầu tư chủ yếu: ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư
• Ưu đãi đầu tư.
Ưu đãi đầu tư mang tính chất là một sự khẳng định đã được luật hóa, đồng thời ưu đãi
đầu tư cũng có những cấp bậc và mức độ khác nhau. Ngành nghề nào, lĩnh vực nào đòi hỏi
nhiều vốn, nhiều sự đầu tư cần thiết cho sự phát triển thì được hưởng ưu đãi nhiều hơn và
ngược lại. Bên cạnh đó, ngành nghề nào mà nhà nước hạn chế đầu tư thì sẽ có những điều
kiện khi đầu tư vào đó.
Ưu đãi đầu tư thì bao gồm có các biện pháp cơ bản: ưu đãi về tài chính, các biện pháp
ưu đãi trong chính sách ngoại hối; ưu đãi đối với việc sử dụng đất;
Luật đầu tư 2005 tập trung ưu đãi đầu tư vào các chính sách thuế, chính sách sử dụng
đất, khấu hao tài sản cố định, và ưu đãi đối với nhà đầu tư khi đầu tư vào khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao.
• Hỗ trợ đầu tư:

kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí) áp dụng mức phổ thông là 28%,, còn đối với các dự án
khuyến khích đầu tư và đặc biệt khuyến khích đầu tư được áp dụng ở mức 20%, 15%, 10%.
Thời hạn áp dụng mức thuế suất ưu đãi được pháp luật quy định: thuế suất 10% được áp
dụng trong 15 năm, thuế suất 15% được áp dụng trong 12 năm; thuế suất 10% được áp dụng
20% được áp dụng trong 10 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động. Đối với các dự án đầu tư
vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, nhà đầu tư được hưởng
ưu đãi thuế suất trong toàn bộ thời gian thực hiện dự án.
Một số địa bàn, lĩnh vực đầu tư được coi là địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư
(Điều 27, 28 Luật đầu tư) nếu các chủ đầu tư tiến hành vào đó sẽ được hưởng những ưu đãi
về thuế theo quy định của thuế thu nhập doanh nghiệp (Điều 17). Có thể nêu ra một vài ví dụ
như: dự án đầu tư thành lập cơ sở kinh doanh mới thuộc ngành nghề, lĩnh vực khuyến khích
đầu tư và cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm theo quy hoạch cơ sở kinh doanh di chuyển
đến địa bàn khuyến khích đầu tư được miễn thuế tối đa là 4 năm kề từ khi có thu nhập chịu
thuế và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa là 9 năm tiếp theo.
2
Việc ưu đãi thuế TNDN góp phần kích thích tăng trưởng, phát triển hoạt động sản
xuất, kinh doanh: Nhờ vào các quy định của pháp luật thuế TNDN trong việc khuyến khích
đầu tư, các cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế 2 năm đầu, được giảm 50% hai năm
tiếp theo hoặc nếu đầu tư vào những lĩnh vực, ngành nghề, vùng kinh tế được ưu đãi đầu tư
sẽ hưởng mức thuế suất thấp hơn các dự án khác. Thời gian được miễn giảm cao nhất là 13
năm (4 năm miễn, 9 năm giảm). Ngoài ra còn khuyến khích miễn, giảm thuế đối với các
trường hợp đầu tư dây chuyền sản xuất mới mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện
môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di chuyển cơ sở kinh doanh, khuyến khích
đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết luật thuế thu nhập doanh nghiệp, và nghị
định số 152/2004/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ 164 quy định một số ưu đãi
cụ thể về thuế thu nhập doanh nghiệp
Trên thực tế, vấn đề ưu đãi miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp còn tùy thuộc vào
chính sách của từng địa phương. Tuy nhiên thực hiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đã
đem lại hiệu quả hết sức tích cực: Việc điều chỉnh giảm mức thuế đối với doanh nghiệp trong

phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất. Đặc biệt
nhà nước danh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách tín dụng hoặc ưu đãi để đầu tư phát triển hệ
thống kết cấu hạ tầng, kĩ thuật xã hội trong khu. Nhà nước cũng nâng cao chất lượng các dự
án vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thông qua việc chọn
lọc , khuyến khích và thu hút dự án có sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững. Bên cạnh
đó nhà nước có biện pháp triệt để trong việc xử lý môi trường, tăng cường đào tạo và sử
dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ cho các KCN,
KCX,KCNC,KKT. Nhà nước tập trung giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân, xây dựng đời
sống, văn hóa cho người lao động tại các khu vực trên.
Thực tế tính đến tháng 8-2011, cả nước đã có 260 KCN,KCX,KCNC,KKT được thành
lập; trong đó, có 78 KCN, KCX,KCNC,KKT được đặt trên địa bàn các địa phương đang có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Cho đến nay, tất cả 78 khu ở các địa phương khó khăn
đã thu hút được hơn 220 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đăng ký
khoảng 3 tỉ USD và 1.700 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn trên 81 nghìn tỉ đồng. Tất
cả những thành tựu đó một phần lớn là nhờ sự hỗ trợ từ nguồn vốn của nhà nước. Năm 2010,
tổng vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 613 tỉ đồng. Đến năm 2011, các số liệu đó theo thứ
tự là 495 tỉ đồng, và 295 tỉ đồng. Nguồn vốn hỗ trợ từ nhà nước đã kịp thời giải quyết một
phần khó khăn cho các địa phương trong việc huy động nguồn vốn xây dựng hạ tầng khu.
Nhờ nguồn vốn hỗ trợ đó và nỗ lực của các địa phương, một số KCN, KCX,KCNC, KKT
mới thành lập cũng đã hoàn thành sớm hệ thống kết cấu hạ tầng, đi vào vận hành và đạt tỷ lệ
diện tích đất lấp đầy cao
Có thể nói, sự hỗ trợ của nhà nước có vai trò hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy
khuyến khích đầu tư vào các KCN, KCX, KCNC, KKT, góp phần giúp cho các địa phương
khó khăn thu hút vốn, nâng cao kinh tế của địa phương mình.
III. TẠI SAO NHÀ NƯỚC LỰA CHỌN TIÊU CHÍ: LĨNH VỰC VÀ ĐỊA BÀN ĐẦU TƯ
LÀM CƠ SỞ ĐỂ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ?
Nhà nước lựa chòn tiêu chí: lĩnh vực và địa bàn đầu tư làm cơ sở khuyến khích đầu tư
vì mục đích:
Phát triển đồng đều, nhưng có trọng điểm giữa các ngành nghề, địa phương. Hướng
các nhà đầu tư tập trung nguồn vốn vào những ngành mà Việt Nam còn thiếu và yếu. Đó là lí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status