Hướng đi nào cho đổi mới quản trị đại học việt nam - Pdf 16

HƯỚNG ĐI NÀO CHO ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC VIỆT NAM?
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khá nhiều văn bản pháp luật liên
quan đến đổi mới giáo dục đại học (ĐH) Việt Nam được ban hành.
Trong số đó, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính
phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn
2006 - 2020 được xem là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển
toàn diện của giáo dục ĐH nước nhà.
Gần đây nhất là Chỉ thị số 296/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về đổi mới quản lý giáo dục ĐH giai đoạn 2010-2020. Theo đó, Bộ Giáo
dục-Đào tạo đã triển khai chương trình hành động của Bộ về đổi mới quản
lý giáo dục ĐH giai đoạn 2010-2012. Tất cả cho thấy quyết tâm của các cấp
lãnh đạo đối với đổi mới quản lý ĐH. Tuy nhiên, vẫn còn đó rất nhiều việc
phải làm.
Bài viết này sẽ phân tích một số mô hình và xu hướng quản trị ĐH
thế giới, đồng thời đề xuất một số hướng đi cho việc đổi mới quản trị giáo
dục ĐH Việt Nam.
Trường ĐH và sứ mạng của trường ĐH
Để có thể đổi mới quản trị và quản lý ĐH, trước tiên chúng ta cần
hiểu rõ trường ĐH là gì và sứ mạng của nó như thế nào.
Theo định nghĩa, trường ĐH là một cơ sở giáo dục được Nhà nước,
các tổ chức xã hội, cá nhân hoặc nhóm cá nhân thành lập với sứ mạng đào
tạo, nghiên cứu khoa học, truyền bá kiến thức, chuyển giao công nghệ và
trên hết là phục vụ sự phát triển của xã hội và cộng động.
Theo ý kiến thống nhất của nhiều học giả quốc tế, trường ĐH là
một tổ chức phức tạp nhất trong tất cả các loại hình tổ chức trên thế giới
bởi nó là sự kết hợp của rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau như các tổ
chức chính trị nhà nước, công ty, tập đoàn, bệnh viện, công sở…
Khác với công ty/ tập đoàn kinh doanh mà đối tượng phục vụ của nó
chủ yếu là khách hàng, trường ĐH phục vụ rất nhiều nhóm đối tác liên đới
(stakeholders) từ chính phủ, các tổ chức xã hội/nghề nghiệp, giới công
nghiệp, cán bộ nhà trường, cộng đồng, sinh viên, phụ huynh…Việc điều

thuật” (Braun and Murien, 1999:17).
Theo Neave và van Vught (1994:9), Nhà nước đóng vai trò quan
trọng trong việc quyết định hệ thống giáo dục ĐH học, tức Nhà nước “kiểm
soát gần như tất cả các hoạt động của hệ thống giáo dục ĐH. Bộ Giáo dục
qui định các điều kiện cần thiết, chương trình giảng dạy, bằng cấp, hệ
thống thi cử, tuyển dụng/bổ nhiệm nhân sự. Mục đích quan trọng từ các qui
định chi tiết của Nhà nước là nhằm tiêu chuẩn hóa bằng cấp quốc gia mà
chủ yếu là do Nhà nước cấp thay vì cơ sở giáo dục ĐH”. Pháp là một thí dụ
điển hình của mô hình này[1].
Ngược với mô hình “kiểm soát nhà nước” là mô hình “giám sát nhà
nước”. Mô hình này thể hiện rõ ở các nước Anh, Mỹ, Úc, nơi mà sự can
thiệp của nhà nước đối với các trường là khá thấp. Vai trò của nhà nước là
giám sát hệ thống ĐH thay vì kiểm soát bởi nhà nước muốn đảm bảo chất
lượng học thuật và duy trì mức độ chịu trách nhiệm cao của các trường.
Neave và van Vught (1994:11) đã miêu tả: “Trong mô hình này, sự
tác động/can thiệp của nhà nước thường không cao. Nhà nước không can
thiệp sâu vào cơ sở giáo dục ĐH thông qua các qui định chi tiết và kiểm
soát chặt chẽ như mô hình nhà nước kiểm soát mà tôn trọng quyền tự chủ
của các trường và khuyến khích khả năng tự quản lý và chịu trách nhiệm”.
Theo đó, nhà nước đóng vai trò là người giám sát và quản lý từ xa
và dùng các hành lang và khuôn khổ pháp lý để điều tiết. Mô hình này, theo
Neave và van Vught cũng như của các học giả về quản trị ĐH thế giới được
xem là mô hình phù hợp nhất trong giai đoạn khủng hoảng giáo dục ĐH
hiện nay bởi nó có khả năng tạo nên sự đột biến sáng tạo trong các cơ sở
giáo dục ĐH.
Một số quan điểm/ xu hướng về ĐH và quản trị ĐH
Có khá nhiều quan điểm/ xu hướng khác nhau về ĐH và quản trị ĐH.
Giống như các tổ chức nhà nước và tư nhân, trường ĐH không thể đứng
ngoài những thay đổi lớn của xã hội (Bargh và các cộng sự, 1996). Các tác
động bên ngoài như sự chuyển hướng từ đào tạo tinh hoa sang đại trà, sự

là các công ty/ tổ chức tư nhân sản xuất ra các loại hàng hóa dịch vụ thông
thường. Mặc dù mức độ hỗ trợ tài chính của chính phủ ở từng giai đoạn có
thể khác nhau nhưng cũng không thể xem trường ĐH là nơi mua bán hàng
hóa.
Trường ĐH được thành lập và hoạt động trong khuôn khổ pháp lý
qui định nhằm sản xuất ra nhiều loại hàng hóa công và tư với chức năng
chính của nó là giảng dạy và nghiên cứu. Vì vậy, trường ĐH là một phần
quan trọng của hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia với trách nhiệm chính là
tạo ra những sản phẩm công phục vụ xã hội”.
Một vấn đề tiếp theo đối với quản trị ĐH là hình thức “quản trị chia
sẻ” (shared governance) từ giới học thuật. “Quản trị chia sẻ” hay còn được
gọi là “quản trị tập thể” chiếm vị trí quan trọng bởi trường ĐH là một tập thể
phức hợp được cấu thành chủ yếu từ các giáo sư, cán bộ giảng dạy và sinh
viên.
Trong những thập niên vừa qua, tiếng nói của các nhóm đối tượng
trên là quan trọng[2]. Tuy nhiên, vai trò của nhóm học thuật này ngày nay có
vẻ yếu đi vì họ có xu hướng chống lại các thay đổi, đặc biệt là sự chuyển
hướng từ “quản trị chia sẻ” sang quản trị theo mô hình công mới (new
public management), nơi quyền lực thường tập trung vào hội đồng quản
quản trị và giám đốc điều hành[3].
Trong bối cảnh đó, quyền lực của của Hội đồng trường (đối với
trường công) và hội đồng quản trị (đối với trường tư) và giám đốc điều
hành (tức hiệu trưởng) ngày càng tăng cao nhằm đối phó với những biến
động của xã hội, khan hiếm các nguồn kinh phí và trên hết là thích ứng với
kinh tế thị trường. Hầu hết các học giả về quản trị ĐH tiên tiến trên thế giới
đồng ý rằng xu hướng trường ĐH hoạt động như một doanh nghiệp/ công ty
(để đảm bảo hiệu quả đầu tư) kết hợp với hương vị “cận thị trường” (để
thích ứng với nền kinh tế thị trường nhưng tránh thương mại hóa) dưới sự
hỗ trợ, giám sát và điều tiết (state supervision) của nhà nước là mô hình
hoạt động tối ưu nhất của các trường ĐH trên thế giới hiện nay.

Như đã đề cập, do đặc trưng của trường ĐH là phải thỏa mãn nhu
cầu của tất cả các nhóm liên đới, việc quản trị và quản lý nhà trường cũng
cần phải có những khác biệt. Tuy nhiên, sự khác biệt này không nằm ngoài
hai nguyên lý cơ bản nhất và tiên quyết nhất của quản trị, tức quyền tự chủ
thể chế (institutional autonomy) và chịu trách nhiệm thể chế (institutional
accountability)[5]. Hai nguyên lý này cần phải hoạt động song song và
không thể thiếu một trong hai vì tự chủ giúp các trường độc lập và chủ động
trong việc xây dựng qui hoạch chiến lược, tài chính, chương trình đào tạo,
tuyển dụng sinh viên, nhân sự… trong khi đó chịu trách nhiệm thể chế là
sợi dây pháp lý ràng buộc khiến các trường không thể “xé rào” hoặc mua
bán bằng cấp.
Trong số 20 quốc gia được khảo sát, Anderson và Johnson (1998)
cho thấy nhóm các nước Anh-Mỹ có mức độ tự chủ cao nhất, tiếp đó là các
nước Châu Âu lục địa và cuối cùng là nhóm các nước Châu Á. Đây là điều
dễ hiểu bởi sự khác biệt đặc trưng về lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa
giữa ba nhóm quốc gia. Tuy nhiên, gần đây với sự chuyển hướng từ đào
tạo tinh hoa (elite) sang đào tạo đại trà (mass education) cùng với sự khan
hiếm của các nguồn tài chính, vai trò của Nhà nước trong việc quản lý và
điều phối nguồn lực ở nhóm các nước Anh/ Mỹ/ Úc ngày càng tăng cao.
Mặc dù vậy, điều này không có nghĩa là Nhà nước can thiệp sâu
vào công việc nội bộ của các trường mà để cho các trường tự quyết định
trên cơ sở của trách nhiệm xã hội/ giải trình và trách nhiệm thể chế mà các
trường phải tuân thủ. Theo đó, Nhà nước cấp kinh phí trên cơ sở của kết
quả hoạt động và cạnh tranh. Các trường ĐH vì thế ngày càng phải gấp rút
nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và đẩy mạnh hợp tác để có thể
duy trì hoạt động[6]. Các trường có chất lượng yếu kém sẽ dần dần bị đào
thải và đóng cửa. Điều này có vẻ trái ngược so với ở Việt Nam khi ngày
càng có nhiều ĐH “trường làng” được thành lập mới hoặc nâng cấp từ các
trường cao đẳng.
Chính Bộ GD-ĐT đã thừa nhận: “Giáo dục ĐH đang đứng trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status