HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH
(Kỳ 2)
BS LÊ TỰ PHƯƠNG THẢO
II. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CÁC KHẢO SÁT
1/ Triệu chứng chủ quan:
Chóng mặt là triệu chứng chủ yếu. BN có cảm giác bị dịch chuyển, mọi
vật xung quanh xoay tròn, hoặc chính bản thân BN xoay tròn so với những vật
xung quanh. Trong những trường hợp rõ ràng, cảm giác bị dịch chuyển rất rõ, có
thể xảy ra trên mặt phẳng đứng dọc hoặc mặt phẳng đứng ngang.
Tuy nhiên trong một vài trường hợp chóng mặt không rõ ràng, BN chỉ có
cảm giác dịch chuyển hoặc lắc lư thân mình, hoặc cảm giác bay lên, rớt xuống
hoặc cảm giác mất thăng bằng.
Các dấu hiệu đi kèm thường hằng định : BN thường có cảm giác khó chịu,
thường là sợ hãi, mất thăng bằng. Té ngã có thể xảy ra lúc chóng mặt, lúc này BN
không thể đứng được.
Ngoài ra BN có thể có rối loạn dáng đi. Buồn nôn, ói mửa xuất hiện khi làm
những cử động nhẹ nhàng và thường đi kèm các rối loạn vận mạch như da tái
xanh, vã mồ hôi, giảm nhịp tim.
Chúng ta cần lưu ý tất cả những đặc điểm của chóng mặt:
· Kiểu xuất hiện của chóng mặt: có thể xuất hiện đột ngột và có
tính chất xoay tròn, hoặc có thể xuất hiện từ từ với những cơn chóng mặt
nhỏ nối tiếp nhau hoặc chỉ mất thăng bằng nhẹ lúc đi lại và sau đó triệu
chứng này trở thành mãn tính.
· Chóng mặt xảy ra lúc thay đổi tư thế từ nằm sang ngồi không,
chóng mặt có lệch về một bên nào không?
· Các dấu hiệu đi kèm: quan trọng nhất là các dấu hiệu về thính
lực (giảm thính lực, ù tai, cảm giác tai bị đầy, điếc đặc), kế đến là các dấu
hiệu về thần kinh thực vật (buồn nôn, nôn ói, lo lắng). Lưu ý là bệnh nhân
hoàn toàn không mất ý thức.
cảm giác cần thiếtđến hệ thống bù trừ trung ương kèm với rối loạn
chức năng của hệ tiền đình hoặc hệ thị giác.
- Chóng mặt do rối loạn chức năng hệ tiền đình là
nguyên nhân thường gặp nhất, chóng mặt thường kèm theo buồn
nôn, rung giật nhãn cầu, thất điều dáng đi. Do chóng mặt tăng lên
khi cử động đầu nhanh, bệnh nhân thường có khuynh hướng giữ đầu
nằm yên không nhúc nhích.