Đa dạng Sinh học của rừng Việt Nam doc - Pdf 16

Đa dạng Sinh học
của rừng Việt Nam Việt Nam được coi l
à
một trong những
nước thuộc vùng
Đông nam Á giàu về
đa dạng sinh học. Ở
Việt Nam do sự khác biệt lớn về
khí hậu từ vùng gần Xích đạo tới
giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo n
ên
sự đa dạng về thiên nhiên và
cũng do đó mà Việt Nam có tính
đa dạng sinh học cao. Một dải
rộng các thảm thực vật bao gồm
nhiều kiểu rừng phong phú đã
được hình thành ở các độ cao
khác nhau như các rừng thông
chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và

chưa biệt công dụng của chúng.
Cũng có thể có rất nhiều loài có
tiềm năng như một nguồn cung cấp
dược liệu hết sức quan trọng.

Hệ thực vật Việt Nam có mức độ
đặc hữu cao. Tuy rằng hệ thực vật
Việt Nam không có các họ đặc hữu
và chỉ có khoảng 3% số chi là đặc
hữu (như các chi Ducampopinus,
Colobogyne) nhưng số loài đ
ặc hữu
chiếm khoảng 33% số loài thực vật
ở miền Bắc Việt Nam và hơn 40%
tổng số loài thực vật toàn quốc
(Thái Văn Trừng, 1970). Phần lớn
số loài đặc hữu này tập trung ở bốn
khu vực chính: khu vực núi cao
Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu
vực núi cao Ngọc Linh ở miền
Trung, cao nguyên Lâm Viên ở
phía Nam và khu vực rừng mưa ở
phần Bắc Trung Bộ. Nhiều loài là
đặc hữu địa phương chỉ gặp trong
một vùng rất hẹp với số cá thể rất
thấp. Các loài này thường rất hiếm
vì các khu rừng ở đây thường bị
chia cắt thành nh
ững mảnh nhỏ hay
bị khai thác một các mạnh mẽ.

loài cá nước ngọt, khoảng 2.000
loài cá biển v
à thêm vào đó có hàng
chục ngàn loài động vật không
xương sống ở cạn, ở biển và nước
ngọt (Đào Văn Tiến, 1985; Võ
Quý, 1997; Đặng Huy Huỳnh,
1978). Hệ động vật Việt Nam
không những giàu về thành phần
loài mà còn có nhiều nét độc đáo,
đại diện cho vùng Đông nam á.
Cũng như thực vật giới động vật
giới Việt Nam có nhiều dạng đặc
hữu: hơn 100 loài và phân loài
chim và 78 loài và phân loài thú là
đặc hữu. Có rất nhiều loài dộng vật
có giá trị thực tiễn cao và nhiều lo
ài
có ý nghĩa lớn về bảo vệ như: Voi,
Tê giác Giava, Bò rừng, Bò tót,
Trâu rừng, Bò xám, Nai cà tông,
Hổ, Báo, Cu ly, Vượn, Voọc vá,
Voọc xám, Voọc mũi hếch, Sếu cổ
trụi, Cò quắm cánh xanh, Cò quắm
lớn, Ngan cánh trắng, nhiều loài tr
ĩ,
cá sấu, trăn, rắn và rùa biển

Theo tài liệu (Review of the
Protected Areas System in the Indo

trong hai năm 1992 và 1994 đã
phát hiện được ba loài thú lớn,
trong đó có hai loài thuộc vùng
rừng Hà Tĩnh là loài Sao la
(Pseudoryx nghetinhensis) và loài
Mang lơn hay còn gọi là Mang b
ầm
(Megamuntiacus vuquangensis),
nơi mà trước đây không lâu đ
ã phát
hiện loài trĩ cuối cùng trên thế giới,
loài Gà lam đuôi trắng hay còn gọi
là Gà lừng (Lophura hatinhensis).

Ngày 21 tháng 10 năm 1994 một
loai thú lớn mới thứ ba là loài
(Pseudonovibos spiralis) ở Tây
Nguyên, tạm gọi là loài Bò sừng
xoắn được công bố và năm 1997
một loài thú lớn mới nữa cho khoa
học được mô tả đó là loài Mang
Trường Sơn (Caninmuntiacus
truongsonensis) tìm thấy lân đầu
tiên ở vùng Hiên, thu
ộc tỉnh Quảng
Nam. ở khu vực Vũ Quang trong
những năm gần đây phát hiện được
thêm một loài cá mới cho khoa
học: Opsarichthys vuquangensis.
Chúng ta tin rằng ở Việt Nam chắc

nhưng nguồn tài nguyên này đang
suy thoái nhanh chóng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status