Tìm hiểu tính thời vụ của du lịch nghỉ biển ở Hải Phòng, thực trạng & Một số kiến nghị giải pháp - Pdf 16

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến. Hội
đồng lữ hành và du lịch quốc tế (WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành
kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông
nghiệp. Đối với một số quốc gia du lịch là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng
nhất trong ngoại thương. Tại nhiều quốc gia khác du lịch là một trong những
ngành kinh tế hàng đầu. Du lịch đã nhanh chong trở thành một ngành kinh tế
mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Và ở nước ta du lịch ngày càng
khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong sự phát triển kinh tế đất nước.
Du lịch là ngành kinh doanh dịch vụ, hoạt động kinh doanh ở đây chủ yếu là
phục vụ chứ không phải là sản xuất. Do tác động của nhiều nhân tố khác nhau
mà hoạt động du lịch mang tính thời vụ. Tính thời vụ đó đã gây những tác động
nhất định đến hoạt động kinh doanh du lịch. Nghiên cứu tính thời vụ của du lịch
luôn là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà kinh doanh thuộc lĩnh vực
này.
1
Đối với riêng em, được sinh ra trên mảnh đất thành phố Hoa Phượng Đỏ,
nơi mà du lịch có thể nói là khá phát triển. Tuy nhiên trước thực trạng của du
lịch Hải Phòng hiện nay, bên cạnh những nét khởi sắc thì vẫn còn những tồn tại
và khó khăn, điều quan trong ở đây là mình nhận thức nó ra sao và tìm cách
khắc phục nó để hướng tới đích cuối cùng là phát triển du lịch thành phố Hải
Phòng nói riêng, ngành du lịch cả nước nói chung. Em lớn lên trên mảnh đất thị
xã Đồ Sơn, đó là một khu du lịch biển, được thiên nhiên ban tặng cho một tiềm
năng du lịch đa dạng phong phú và đầy hấp dẫn. Đồ Sơn và Cát Bà là hai trọng
điểm du lịch của thành phố Hải Phòng. Thật đáng tiếc khi mà phải chứng kiến
một nghịch cảnh mà bao nhiêu năm qua vẫn diễn ra: mùa hè thì rất đông khách
du lịch, nhưng mùa đông lại vô cùng vắng vẻ. Vậy thì nguyên nhân tại sao? Đó
là điều đáng buồn mà em vẫn thường băn khoăn. Nhưng khi được học môn Kinh
Tế Du Lịch, em đã có thể tự mình trả lời câu hỏi đó, lí do rất đơn giản: chính tại
ảnh hưởng của tính thời vụ trong du lịch biển. Vì vậy em dã chọn đề tài: “Tìm

pháp hạn chế nhũng dao động thời vụ trong hoạt dộng kinh doanh của các trung
tâm du lịch .
Thời gian gần đây tuy vẫn quan tâm đến khía cạnh lý thuyết của vấn đề
này, song các tổ chức quốc gia và quốc tế về du lịch tập trung nhiều hơn vào
việc soạn thảo, thực nghiệm và ứng dụng những kế hoạch tổng hợp nhằm hạn
chế những tác động bất lợi của tính thời vụ trong du lịch, kéo dài đáng kể thời
vụ trong du lịch.
Cho đến nay, nhiều tác giả có chung quan điểm về tính thời vụ du lịch như
sau:
♦ Tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại đối với cung và cầu của
dịch vụ và hàng hoá du lịch. Nó xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định.
3
♦ Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kỳ kinh doanh mà tại
đó có sự tập trung cao nhất của cung và cầu du lịch.
Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng: Việc xác định thời vụ của từng loại hình
du lịch -du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, chữa bệnh và du lịch hội thảo… được thực
hiện dễ hơn, bởi các dao động ở mỗi một loại hình du lịch thường chỉ diễn ra
một lần trong năm. Trên thực tế, tính thời vụ du lịch của một trung tâm, một đất
nước nào đó là tập hợp và sự tác động tương hỗ giữa các dao động theo mùa của
cung và cầu của các loại hình du lịch được kinh doanh tại đó.
Thời gian của mùa du lịch chính là đại lượng thay đổi chứ không phải là bất
biến. Nó phụ thuộc vào tính chất và xu hướng phát triển của hoạt động du lịch.
Ví dụ: ở Vịnh Hạ Long những năm trước đây người ta đi du lịch Hạ Long chủ
yếu là tắm biển vào mùa hè, nhưng hiện nay không chỉ tắm biển mùa hè mà
người ta đến Hạ Long quanh năm để du thuyền trên vịnh, tham quan hang
động…
2.Các đặc điểm của thời vụ du lịch.
Như đã nêu trên, thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không phải là cố
định, mà chúng biến đổi dưới tác động của nhiều nhân tố. Dưới sự tác động của
nhân tố khác nhau thời vụ du lịch có nhiều đặc điểm riêng. Những đặc điểm

2.4. Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào
mức độ phát triển và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của các quốc gia du lịch,
điểm du lịch và các nhà kinh doanh du lịch.
Cùng kinh doanh một loại hình du lịch, với các điều kiện về tài nguyên du
lịch tương đối như nhau thì ở các nước, các vùng, các cơ sở kinh doanh du lịch
phát triển hơn, có kinh nghiệm kinh doanh tốt hơn thì thời vụ du lịch thường kéo
dài hơn và cường độ của mùa du lịch yếu hơn. Ngược lại, các nước, vùng, cơ sở
du lịch mới phát triển, chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh thường có mùa du
lịch ngắn hơn và cường độ của mùa du lịch chính thể hiện mạnh hơn.
2.5. Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào cơ cấu của
khách đến vùng du lịch.
Các trung tâm dành cho du lịch thanh, thiếu niên thường có mùa ngắn hơn
và có cường độ mạnh hơn so với những trung tâm đón khách ở độ tuổi trung
niên . Nguyên nhân chính ở đây là do thanh, thiếu niên thường hay đi theo đoàn,
hội và vào các dịp nghỉ hè, nghỉ tết ngắn hạn.
2.6. Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào số lượng các cơ
sở lưu trú chính.
Ở đâu có chủ yếu là các cơ sở lưu trú chính – khách sạn, hotel, nhà nghỉ,
khu điều dưỡng, mùa du lịch kéo dài hơn và cường độ của mùa chính là yếu hơn
so với nơi sử dụng nhiều nhà trọ và camping. Ở đó mùa du lịch thường ngắn hơn
và cường độ thường mạnh hơn.
► Một vài đặc điểm về tính thời vụ du lịch của Việt Nam:
♦ Việt Nam là một nước có tài nguyên du lịch thuận lợi cho việc phát triển
kinh doanh du lịch quanh năm .
♦ Trong giai đoạn hiện nay đối tượng khách du lịch Việt Nam có động cơ
và mục đích rất khác nhau:
Khách du lịch nội địa đi du lịch chủ yếu là để nghỉ biển, nghỉ dưỡng, lễ hộ,
tham quan hoặc họ đi du lịch chủ yếu vào các tháng hè và các tháng đầu năm.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hiện nay chủ yếu với mục đích kết hợp
kinh doanh sau đó với mục đích tham quan ,tìm hiểu và họ đến Việt Nam chủ

sáng, độ ẩm, độ mạnh và hướng của gió, nhiệt độ, cộng với một số đặc điểm
khác của biển và bờ biển tài nguyên tự nhiên du lịch như: Độ sâu của bờ biển,
kích thước của bãi tắm v.v… quyết định mức độ tiện nghi phù hợp với việc tắm
và phơi của khách từ đó dẫn đến việc xác định giới hạn của thời vụ du lịch. Tuy
nhiên giới hạn đó có thể mở rộng ra hoặc thu hẹp lại tuỳ thuộc vào đòi hỏi của
khách du lịch và tiêu chuẩn của họ khi sử dụng tài nguyên du lịch.
Ví dụ: Đối với khách du lịch Bắc Âu, nhiệt độ nước biển từ 15-16 độ C là
phù hợp để tắm hoăc mùa du lịch có thể kéo dài hơn.
Đối với các đối tượng khách du lịch khác thì nhiệt độ nước biển phải
từ 20-25 độ C (hoặc cao hơn nữa) mới là phù hợp nên mùa du lịch bị co ngắn
lại.
► Đối với các thể loại du lịch khác (du lịch chữa bệnh, du lịch văn hoá, du
lịch công vụ v.v…):
Khí hậu không ảnh hưởng trực tiếp lên tài nguyên du lịch. Khí hậu lại có
ảnh hưởng trực tiếp lên cầu du lịch (măc dù ảnh hưởng có điều kiện khí hậu
không khắt khe như đối với du lịch nghỉ biển). Khách du lịch của các thể loại du
lịch này thường chọn khi thời tiết thuận lợi (vào mùa xuân, mùa thu hay mùa
khô) để thực hiện các cuộc hành trình du lịch. Do đó, biểu hiện cường độ khách
tập trung chủ yếu vào một số thời gian trong năm.
Hoặc nhân tố khí hậu đóng vai trò chính, hạn chế sự cân bằng của các cuộc
hành trình du lịch và việc sử dung các tài nguyên du lịch theo thời gian.
2. Nhân tố mang tính kinh tế- xã hội.
6
● Ở những quốc gia có thời gian nghỉ phép của năm ngắn thì người dân
thường chỉ có thể đi du lịch một lần trong năm. Khi đó họ sẽ có xu hướng chọn
thời gian chính vụ để nghỉ. Do vậy sự tập trung của cầu du lịch sẽ thường cao
vào thời vụ du lịch chính. Tuy nhiên theo xu hướng ngày nay thì số ngày nghỉ
phép năm của người dân tại nhiều nước trên thế giới naỳ càng tăng lên. Do đó
con người có thể đi du lịch nhiều lần hơn trong năm và từ đó thì tỉ trọng tương
đối của nhu cầu du lịch tập trung vào thời vụ chính sẽ giảm trong tổng số nhu

Khi những trường hợp nêu trên là khá phổ biến thì có thể sẽ tạo sự căng
thẳng nhân tạo của thời vụ tại một điẻm thời gian nào đó.
Tuy nhiên nhân tố chủ yếu ảnh hưởng lên cường độ biểu hiện của thời vụ
du lịch, ít ảnh hưởng lên độ dài của thời vụ. Mức độ ảnh hưởng là ít và bất biến.
* Các nhân tố đặc biệt:
7
Một số khách sạn phục vụ chính là đối tượng khách công vụ thì thời vụ của
các khách sạn này phụ thuộc lớn vào thời gian họp tổng kết của các doanh
nghiệp.
Phần 2: Phân tích tác động của thời vụ du lịch đến hoạt động kinh doanh
du lịch nghỉ biển tại Hải Phòng.
I. Tiềm năng để phát triển loại hình du lịch nghỉ biển của Hải Phòng.
1. Điều kiện về tài nguyên du lịch.
Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội phát
triển cao song nếu không có được các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát
triển được du lịch. Tiềm năng về kinh tế là vô hạn song tiềm năng về tài nguyên
du lịch là có hạn, nhất là đối với tài nguyên thiên nhiên -những cái mà thiên
nhiên chỉ ban cho một số vùng và một số nước nhất định. Riêng thành phố Hải
Phòng được thiên nhiên vô cùng ưu đãi, ban tặng cho 1 tiềm năng lớn về con
người, môi trường, cảnh quan thiên nhiên, có rừng có biển, có nền văn hoá đặc
trưng của vùng ven biển bắc Bộ để phát triển du lịch. Vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên thuận lợi, Hải Phòng được biết đến với vị thế của một thành phố Cảng,
một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, du lịch của cả nước, có nhiều điểm
du lịch nổi tiếng được phân bố trên toàn thành phố với đa dạng các loại hình như
rừng, biển, đảo, di tích văn hoá và nhiều thắng cảnh danh lam thu hút khách
trong nước và quốc tế. Bất cứ du khách nào đến Hải Phòng cũng nghĩ ngay tới
các địa danh du lịch biển nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà.
1.1. Thắng cảnh Đồ Sơn.
Có 2.450m bờ biển đầy cát mịn làm bãi tắm lý tưởng, từ lâu Đồ Sơn đã là
một trong số những khu nghỉ mát nổi tiếng của nước ta. Bán đảo Đồ Sơn nằm

♦ Cát Bà là đảo lớn nhất trong số 1.969 hòn đảo của quần thể danh thắng
vịnh Hạ Long. Đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải cách thành phố Hải Phòng 30
hải lý. Phần đảo nổi Cát Bà có diện tích khoảng 200km2 gồm 2 dạng cấu trúc cơ
bản là hệ thống đảo và bãi chiều. Hệ thống đảo gồm 366 đảo lớn nhỏ, nằm rải
rác trên vùng biển giáp vịnh Hạ Long nổi tiếng ở phía Đông Nam. Cát Bà là hệ
thống đảo đá vôi, núi đá vôi có độ cao trung bình từ 50m đến 200m.
♦ Quần đảo Cát Bà với hơn 172 bãi cát nhỏ nằm rải rác trên các đảo, trong
đó có rất nhiều bãi có thể dùng làm bãi tắm như: Cát Cò I, Cát Cò II, Cát Dứa,
Cát Quyển … Những bãi cát này ẩn mình dười chân các đảo nhỏ có nhiều hệ
sinh thái tự nhiên, ít sóng gió. Bãi tắm ở đây đẹp, nhiều hòn đảo chưa đặt tên,
thuận lợi cho việc du lịch mạo hiểm, khám phá… Thiên nhiên ở đây hoang sơ,
rừng, biển, sông, suối, núi, đồi, thung lũng, bãi cát, hang động, xen kẽ gắn kết
với nhau tạo nên nhiều cảnh đẹp kỳ thú. Rừng Quốc gia Cát Bà rộng 15.200ha
có khu rừng nguyên sinh nhiệt đới rộng 570ha với hệ thống động thực vật vô
cùng phong phú va quý hiếm đặc trưng là loài Voọc đầu trắng và cây Kim Giao.
♦ Hiện Cát Bà có 620 loài thực vật thuộc 438 chi, 123 họ, trong đó có 357
loài có thể làm thuốc chữa bệnh, có 350 loài đã được ghi trong sách đỏ của Việt
Nam cần được bảo vệ. Rừng Cát Bà có nhiều loài cây lấy gỗ như trai lý, mấn
mái, chò dãi, lát hoa, gội nếp, lim giao… Về động vật, các kết quả điều tra thống
kê được 28 loài thú, 59 loài chim, 20 loài bò sát, có 10 loài thú và 6 loài chim
quý hiếm cần được bảo vệ như: voọc đầu trắng, mèo rừng, nhím, khỉ vàng, khỉ
đuôi lợn, nai, khỉ mặt đỏ, sơn dương, cầy giông, chim cu gáy, hoẵng, chim đa
đa, chim cu xanh, chim ngói, vịt trời, sâm cầm.
♦ Với vẻ đẹp quyến rũ do thiên nhiên ban tặng, Cát Bà đang được coi là
một trong những trung tâm du lịch sinh thái cấp quốc gia rất hấp dẫn du khách
trong và ngoài nước. Đi từ thành phố ra đảo bằng tàu thuỷ cao tốc khoảng hơn
một giờ đồng hồ, đi bằng đường bộ khoảng 60km qua 2 phà, bạn sẽ dễ dàng tiếp
cận đảo Ngọc. Giữa sóng nước mênh mông của biển khơi, ta bỗng gặp một khu
rừng nhiệt đới. Rừng ở đây có diện tích hơn 17.300ha, trong đó có 570ha là rừng
nguyên sinh. Dưới tán rừng già có hàng trăm cây thuốc quí, đặc biệt có cây

nuôi động vật biển như trai, đồi mồi, cá cảnh.
Đảo Cát Bà một tấm thảm xanh khổng lồ chứa đựng nhiều bí ẩn, hấp dẫn. Cát
Bà xứng đáng là khu dự trữ sinh quyển thứ ba của Việt Nam.
2.Điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch.
2.1. Các điêù kiện về kỹ thuật.
● Sự tận dụng hiệu quả các tài nguyên du lịch và việc thỏa mãn các nhu cầu
của du khách phụ thuộc 1 phần lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Nó đóng
vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch, bao
gồm: toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật. Ở Hải Phòng có một hệ thống
các khách sạn nhà hàng, khu giải trí, cửa hàng, sân thể thao… có thể kể đến các
địa chỉ tiêu biểu như:
STT Hạng Tên khách sạn Địa chỉ Số ĐT Số phòng
1 4 sao Khách sạn Hữu Nghị 60 Điện Biên Phủ
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status