Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Công nghệ sinh học là một khái niệm hoàn toàn mới xuất hiện đầu thế kỷ
XX. Tuy nhiên các ứng dụng của nó thì rất lớn và đã được ứng dụng rộng rãi trong
hầu hết các lĩnh vực của đời sống sinh hoạt và sản xuất của loài người.
Thật ra các ứng dụng của công nghệ sinh học ra đời từ rất sớm, đó là việc con
người sử dụng các phương pháp lên men vi sinh vật để chế biến và bảo quản thực
phẩm. Ví dụ: sản xuất phomát, dấm ăn, làm bánh mì, nước chấm, sản xuất rượu bia…
Nhưng thuật ngữ CNSH thì chỉ mới ra đời đầu thế kỷ XX. Đến những năm 50 của thế
kỷ này, CNSH mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ nhờ một loạt các phát minh quan trọng
trong nghành sinh học nói chung và nghành sinh học phân tử nói riêng. Đó là việc
đầu tiên xác định được cấu trúc của protein(insulin), xây dựng mô hình cấu trúc xoắn
kép cảu phân tử DNA (1953). Tổng hợp thành công protein(1963 –1965) và đặc biệt
là việc tổng hợp thành công gen và buộc nó thể hiện trong tế bào vi sinh vật (1980).
Chính những phát minh này đã tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của các
nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thực tế sau đó trong lĩnh vực CNSH hiện đại.
Dưới đây là một số thành tựu trong ứng dụng thực tế của CNSH hiện đại trong
nước và nước ngoài trong các lĩnh vực dựa trên đối tượng phục vụ:
Công nghệ sinh học trong nông nghiệp:
Nhật: Tạo giống lúa giàu chất sắt và đạt năng suất cao
Theo tạp chí PNAS của Mỹ, các nhà
nghiên cứu Nhật Bản đã thành công trong
việc tạo một giống lúa gạo giàu chất sắt nhờ
bổ sung một enzym và tăng năng suất của
cây nhờ trồng trên đất vôi.
Chất sắt được biết là cần thiết cho sự
sống và các loài cây thường áp dụng những
chiến lược khác nhau để hấp thu chất này từ
đất.
Cây lúa thường không hấp thu hiệu quả
không có chọn lựa thứ hai ngoài việc xịt
glyphosate trên đất canh tác các loại cây
mẫn cảm. Mô hình thứ hai thuốc diệt cỏ
dicamba-gene kháng dicamba ra đời để giải
quyết vấn đề này.
Dicamba là loại thuốc diệt cỏ đã
được sử dụng trong khoảng 40 năm và được ghi nhận là tạo ra rất ít giống kháng.
Phổ tác dụng của dicamba là các loại cây dại lá rộng nhưng không diệt cây họ cỏ,
do đó người ta thường dùng cho bắp hoặc kết hợp với một số loại thuốc khác để
phát quang đất.
Một ưu điểm của dicamba là an toàn và ít gây ô nhiễm môi trường do thời
gian bán hủy rất ngắn (từ 1 đến 6 tuần). Khi bị phóng thích vào đất, thuốc có thể tự
hủy trong vài tháng hoặc là nguồn cơ chất của nhiều loại vi sinh
vật khác nhau. Dicamba tan trong nước nhưng chỉ gây độc trên
các loại cá nước lạnh và hầu như không độc với các loại cá
nước ấm và các loài động vật còn lại. Thử trên chuột mang thai
cho thấy ở một số nồng độ chuột mẹ có triệu chứng nhiễm độc
và chuột con bị giảm nhẹ khối lượng. Ở chuột bình thường có
dấu hiệu sưng gan, tuy nhiên không có biến đổi tương tự nào được tìm thấy ở
người.
Don Weeks và công sự đã dòng hóa một gene từ vi khuẩn Pseudomonas
maltophilia giúp phân giải dicamba, sau đó chuyển vào thuốc lá, đậu nành, cà chua
và cả cây mô hình Arabidopsis thaliana, trong tất cả các trường hợp, cây mang
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang2
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
gene chuyển đều có khả năng kháng dicamba. Nghiên cứu được công bố trên tạp
chí Science tuần qua.
Thế hệ cây chuyển gene mới này sẽ giúp làm nhẹ bớt sự phụ thuộc vào
thế như đất ở sườn đồi. Những chiếc giá đơn giản, khá gọn nhẹ
và có thể di chuyển khiến người ta liên tưởng và ví nó như
những chiếc "vườn treo".
Phần trên của "vườn treo" là những miếng nhựa xốp có khoét nhiều lỗ nhỏ để
làm hốc trồng cây. Phía dưới, đáy được làm bằng những vật liệu có khả năng giữ cho
nước có pha dung dịch nuôi cây (phân bón đa, vi lượng) không bị thấm như nhựa, tôn
lá hay fibrô xi măng…
Riêng với "vườn treo" ở tư thế dốc thì ở phía thấp cần có dụng cụ hứng nước và đem
tưới trở lại bằng phương pháp thủ công hoặc hoàn lưu bằng máy nếu có điều kiện.
Đây là công nghệ cao để sản xuất rau sạch, được nghiên cứu ở Mỹ trong
thời gian dài và nay được ứng dụng và Việt hóa cho phù hợp với điều kiện nước
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang3
(Ảnh: TTO)
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
ta. Theo công nghệ này, gieo hạt và trồng rau hoàn toàn không cần đất. Để cây phát
triển, phân bón (ở thể dung dịch do trường Đại học Nông nghiệp I sản xuất) sử dụng
trên 10 nguyên tố đa, vi lượng là những nguyên tố tối cần thiết, cùng với nguồn nước
sạch như nước giếng… đủ đảm bảo cho cây phát triển như trong điều kiện bình
thường. Với công nghệ này, người trồng rau quả có thể hoàn toàn kiểm soát được,
không để cho rau quả bị nhiễm kim loại nặng, và các độc tố khác.
Công nghệ này có phạm vi ứng dụng khá rộng rãi. Nó có thể áp dụng cho
những cơ sở trồng rau quả quy mô lớn, có mái che hay ngoài trời, cũng có thể dùng
cho từng hộ gia đình thậm chí ngay trên ban công, sân thượng của các khu nhà cao
tầng ở đô thị. Đặc biệt, với những nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc
trồng trọt như nhân dân và chiến sĩ huyện đảo Trường Sa, các đồn biên phòng… công
nghệ này sẽ mở ra một khả năng tốt để khắc phục tình trạng thiếu rau quả trong bữa ăn
hàng ngày.
Con bò “kỳ diệu” đầu tiên trên thế giới: Sản xuất ra được
xuất ra sữa gầy.
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
nữa sữa nguyên chất có thể được làm thành sữa chỉ chứa các chất béo không bão hòa
- loại sữa tốt cho sức khỏe – điều đó nghĩa là, người ta sẽ quay lại sử dụng các sản
phẩm sữa nguyên chất. Một vấn đề quan trọng đối với các sản phẩm sữa là mùi vị, vì
vậy đây sẽ là một cách đem lại những ích lợi về mùi vị mà không gặp phải các vấn đề
về chất béo bão hòa,” theo ông Komorowski.
Điều này còn giải quyết được vấn đề lãng phí. “Nếu sau đó bạn sản xuất ra sữa
không có chất béo bằng cách biến đổi gen thì điều đó có thể sẽ là một giải pháp rất tốt
cho vấn đề loại bỏ chất béo sau đó” ông Komorowski nói. Sản xuất ra sữa gầy và sữa ít
béo (sữa tách bơ một phần) có nghĩa là loại bỏ đi rất nhiều chất béo.
Thanh Vân (Theo SCI, Sở KH & CN Đồng Nai)
Tạo phôi bò từ tiêm tinh trùng vào trứng - 23/5/2007
Ngày 22/5, một nhóm các nhà
khoa học thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học
động vật, ĐH Tự nhiên TP.HCM, đã tạo ra 3
phôi bò sữa trong ống nghiệm bằng phương
pháp vi tiêm.
Các nhà khoa học đã tiêm tinh trùng
đông lạnh vào trực tiếp bào tương trứng tươi
(IntraCytoplasmic Sperm Injaction - ICSI).
Trong vòng một tháng qua, nhóm nghiên cứu đã
tạo ra được 3 phôi bò sữa. Ba phôi này sẽ được
mang đông lạnh hoặc cấy truyền cho những con
bò nhận.
Nhóm nghiên cứu đã lấy nguồn tinh trùng giống bò sữa Hostein mua ở Trung
tâm Chuyển giao Công nghệ của Viện Chăn nuôi. Còn trứng thu nhận từ các bò sữa
cái giết mổ ở các lò mổ. Trứng được chọc hút từ các buồng trứng và nuôi trưởng thành
trước khi sử dụng cho vi tiêm.
Vaccin sởi và phòng chống bệnh sởi(ThS.BS. Phạm Anh
Tuấn)
Bệnh sởi là một bệnh sốt phát ban cấp tính, dễ lây và
có những biến chứng nguy hiểm. Chính vì vậy, bệnh sởi
vẫn còn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong ở trẻ em. Bệnh sởi tuy nguy hiểm song có thể phòng
được bằng vaccin sởi
Bản chất vaccin sởi và các loại vaccin hiện đang
được sử dụng vaccin sởi là vaccin sống, giảm độc lực. Điều
đó tức là trong vaccin có chứa virut sởi sống, đã được
làm yếu đi. Khi tiêm vaccin, một lượng tương đối nhỏ
virut được đưa vào cơ thể, sau đó nhân lên trong cơ thể
và tăng lên tới mức đủ lớn để kích thích gây đáp ứng miễn dịch. Do đó, tất cả các yếu
tố gây tác hại do virut sởi trong lọ vaccin (ví dụ nhiệt độ, ánh sáng) hoặc các yếu tố
cản trở sự nhân lên của virut trong cơ thể (ví dụ sự lưu hành của kháng thể) có thể làm
cho vaccin mất tác dụng. Chính vì vậy, cán bộ y tế cần lưu ý đặc biệt khi bảo quản các
vaccin này, tránh để tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng và nhiệt độ cao. Trước khi tiêm
phải đợi cồn khô tại nơi tiêm, không sát khuẩn lại sau khi tiêm.
Hiệu quả tiêm phòng và tính an toàn Vaccin sởi là một vaccin an toàn và có
hiệu quả cao. Sau khi tiêm một mũi vaccin, miễn dịch chủ động sẽ được tạo ra cho >
95% số người được tiêm nếu tiêm mũi 1 lúc trên 1 tháng tuổi, có thể có tác dụng bảo
vệ kéo dài suốt đời. Tiêm thêm mũi vaccin sởi thứ 2 có tác dụng chủ yếu để bảo vệ
những người tiêm lần một bị thất bại, nâng mức độ bảo vệ lên trên 99%.
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang6
Cấu trúc paramyxovirus gây
bệnh sởi
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Phản ứng phụ sau tiêm vaccin sởi thường nhẹ. Chúng thường xảy ra từ 5 - 12
Hơn nữa, thử nhiệm hoạt tính luciferase đôi cho thấy sự phân phối của Akt WT
tăng cường sự dịch mã protein phụ thuộc yếu tố nón, trong khi đó quá trình giảm sự
dịch mã protein phụ thuộc yếu tố nón bởi Akt KD được mô tả. Những kết quả trên cho
thấy rõ ràng Akt có thể là một chiến lược tốt cho phòng bệnh cũng như điều trị ung thư
phổi”
Trần Thị Thuý Hằng
Nguồn: www.newsrx.com
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang7
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Liệu pháp gen - triển vọng mới chữa điếc
Các nhà khoa học Mỹ vừa phát triển thành công
tế bào lông thính giác - loại tế bào có vai trò quan trọng
trong khả năng nghe của con người và động vật bậc cao.
Nếu kỹ thuật này có thể ứng dụng trên người, nó sẽ mở
ra triển vọng về một phương pháp mới điều trị bệnh điếc
và các chứng suy thính giác ở tuổi già.
Đây là thành quả của một nhóm nghiên cứu của Đại
học Tổng hợp Michigan, do giáo sư Yehoash Raphael đứng đầu. Các nhà khoa học đã
cấy gen Math1 vào tai trong của 14 con chuột lang. Sau từ 30 đến 60 ngày quan sát
bằng kính hiển vi điện tử, nhóm nghiên cứu nhận thấy các tế bào lông thính giác mới
bắt đầu phát triển ở những nơi thường không có loại tế bào này. Như vậy, việc cấy gen
Math1 đã giúp các tế các biểu mô thường sản sinh ra các tế bào lông thính giác.
Hiện tại, việc cấy gen Math1 gây ra một số tốn thương mô nhỏ trong tai chuột.
Tuy nhiên, các nhà khoa học hy vọng rằng việc cấy gen vào tai người sẽ ít gây tổn
thương hơn, vì tai người lớn hơn nhiều so với tai chuột. Còn theo giáo sư Raphael, tai
trong là một mục tiêu lý tưởng để sử dụng liệu pháp gen, vì dù đóng kín, nhưng nó lại
tương đối biệt lập với các cơ quan khác. "Thêm nữa, do lượng gen cấy vào tai trong rất
nhỏ, nên cũng không gây ảnh hưởng nhiều đến các cơ quan khác", ông khẳng định.
thính giác mới kích thích sự phát triển của các sợi thần kinh thính giác nối với chúng.
(theo BBC News)
Nhiễm sắc thể nhân tạo sửa chữa khuyết tật gen
(21/08/2006)
Lấy một nhiễm sắc thể nhân tạo có chứa gen để
chữa một căn bệnh nguy hiểm, đưa nhiễm sắc thể đó vào
tế bào gốc rồi cấy vào trong cơ thể người. Theo nhận
định của Mitsuo Oshimura thuộc trường Đại học Tottori,
Nhật Bản, đó sẽ là tương lai của liệu pháp gen. Nhóm
nghiên cứu của Oshimura hiện đã chứng minh được ý
tưởng này khi tiến hành chữa một khuyết tật gen trong
các tế bào gốc của chuột
Các tế bào gốc có tiềm năng lớn như là một công cụ đối với liệu pháp gen bởi
vì chúng có thể phân chia và nhân lên thành các mô mới ngay khi được cấy vào trong
cơ thể người. Điều này có nghĩa là chúng có thể chữa các cơ quan bị phá hủy do bệnh
về gen gây ra cũng như thực hiện chức năng của một phương tiện chứa các gen sửa
chữa. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp truyền thống về công nghệ gen chỉ có thể đưa
một số lượng hạn chế các ADN bổ sung vào các tế bào gốc . Một số kỹ thuật như vậy
còn có thể đưa ADN vào hệ gen một cách ngẫu nhiên và gây nguy cơ phá vỡ các gen
quan trọng khác, thậm chí còn có thể gây bệnh ung thư.
Đây là điểm mà các nhiễm sắc thể nhân tạo có ưu điểm hơn. Các nhiễm sắc thể
này có thể mang một lượng lớn các ADN, thậm chí là các gen đa bội, nhưng lại không
tự gắn chúng vào hệ gen đang có. Thay vào đó, các nhiễm sắc thể nhân tạo nằm trong
nhân tế bào thể hiện gen của chúng cùng với hệ gen gốc.
Các nhà nghiên cứu trước đó thuộc Công ty Chromos Molecular Systems tại Burnaby,
British Columbia (Canađa), đã sử dụng các nhiễm sắc thể nhân tạo để đưa một gen
ngoài vào các tế bào ở trong phòng thí nghiệm, và họ cho biết gen này hoạt động khi
các tế bào được cấy trên chuột. Giờ đây, Oshimura đã thực sự chữa được khuyết tật
gen trong các tế bào gốc. Nhóm của Oshimura đã nghiên cứu các tế bào gốc lấy từ tinh
hoàn của chuột sơ sinh trong đó gen p53 đã bị chết – p53 tạo ra protein ngăn chặn sự
mắc phải bệnh về gan ở giai đoạn cuối, một giải
pháp mới thay vì phải chờ đợi lấy gan từ người
chết mà đôi khi là vô vọng.
Theo báo cáo của Tổ chức Mạng lưới trao đổi nội tạng (UNOS), số năm thọ của
người được ghép gan lấy từ người sống cao hơn 5 năm so với người được ghép gan lấy
từ người chết.
Tại Singapore, Bệnh viện thuộc đại học quốc gia là bệnh viện duy nhất tiến
hành ghép gan, lấy gan hiến từ tử thi ghép cho bệnh nhân là người lớn. Tại đây cũng
có thể tiến hành lấy một phần nhỏ gan người lớn còn sống để ghép cho trẻ em. Tuy
nhiên, bệnh viện Gleneagle mới là nơi duy nhất mà một bệnh nhân có thể nhận gan
hiến từ người còn sống với kỹ thuật LDLT.
Đây là một kỹ thuật có phạm vi rộng, liên quan đến 2 ca đại phẫu khác nhau. Ca
phẫu thuật đầu tiên được tiến hành là cắt một phần gan từ người hiến và ca thứ hai là
ghép phần gan đó cho người nhận kết hợp với quá trình bình phục và phục hồi chức
năng cho cả hai.
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang10
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Các bác sĩ sẽ phải cắt bỏ gan bị bệnh và thay thế vào đó một phần của gan lấy
từ người khoẻ mạnh (thường là cha mẹ, anh chị em ruột hoặc người thân trong gia
đình).
Có ít nhất 20 bác sĩ chuyên khoa được huy động trước, trong và sau phẫu thuật
để chăm sóc cho người cho và nhận.
TS Tan Kai Chah, người đi tiên phong trong chương trình LDLT cho biết: “Đây
là một ca phẫu thuật lớn và bệnh nhân sẽ trong tình trạng yếu sau phẫu thuật. Vì vậy
mà không ai muốn thậm chí một chiếc răng sâu sẽ huỷ hoại đi tất cả. Người nhận gan
phải được kiểm tra và chữa trị từ những căn bệnh nhỏ nhất. Ví như cần phải được một
nha sĩ kiểm tra răng chẳng hạn, nếu có bất kỳ chiếc răng nào bị sâu hoặc lung lay thì
cần phải nhổ đi hoặc hàn ngay. Hay với bệnh nhân có gan bị bệnh thì khả năng đông
Kỹ thuật cấy ghép gan nhân tạo sử dụng tế bào tủy lấy từ rau thai của các nhà
khoa học Anh được giới chuyên môn đánh giá là có nhiều điểm ưu việt hơn kỹ thuật
tương tự sử dụng tế bào gốc từ phôi dễ bị hư hỏng trong quá trình xử lý.
Các nhà khoa học hy vọng trong vài năm tới, những bệnh nhân bị tổn thương
gan do tai nạn, nhiễm bệnh, uống rượu, hoặc lạm dụng chất gây nghiện sẽ được điều
trị bằng phương pháp ghép gan nhân tạo này.
(Theo Vietnamnet)
CÔNG NGHỆ SINH HỌC MÔI TRƯỜNG:
Thu chất thải nguy hại từ thuộc da
Các nhà khoa học thuộc ĐH Bách Khoa TP.HCM vừa đề xuất một phương pháp
nhằm tách những chất độc hại từ da thuộc.
Theo thống kê, mỗi năm ngành thuộc da Việt Nam thải ra 4.000 tấn chất thải
rắn. Trong quá trình thuộc da, phần lớn người ta phải cho muối crôm vào để thay đổi
cấu trúc da động vật, tránh nhăn nheo khi thay đổi thời tiết và ẩm mốc khi gặp nước
Vì thế, khoảng 1% khối lượng của da phế thải có chứa crôm và một khối lượng
lớn chứa chất gelatin. Crôm khi gặp điều kiện thuận lợi dễ chuyển hóa thành crôm IV
và crôm VI, những chất có thể gây tử vong, ung thư cho người và động vật khi tiếp
xúc.
Nghiên cứu của kỹ sư Huỳnh Khánh An và các cộng sự thuộc Khoa Môi
trường, Trường ĐH Bách khoa TPHCM, đã tìm ra phương pháp để thu hồi những chất
độc này.
Theo đó, tác giả đã dùng Ca(OH)2 dưới tác dụng nhiệt 800C sẽ thu hồi được
87,3% gelatin và 90% crôm.
(Theo NLĐ)
Dùng vi khuẩn chống động đất - 1/3/2007 9h:41
Loài vi khuẩn Bacillus pasteurii có khẳ năng biến cát thành xi-măng.
Các nhà nghiên cứu Mỹ đã có sáng kiến dùng chúng để làm cho một vùng đất tơi
xốp trở nên rắn chắc, bảo vệ các toà nhà chống động đất.
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang12
cho đất
Viện Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam) đã nghiên cứu và sản xuất thành công
chế phẩm sinh học giữ ẩm cho đất có tên là
Lipomycin-M.
Thành phần chính là của Lipomycin-M là chủng nấm men Lipomyces PT7.1
được phân lập từ vùng đất trống đồi trọc ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, có ưu điểm là
có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn, giúp giảm thoát nước nên hỗ
trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc. Đây được xem là một giải pháp bền vững
cho môi trường sinh thái.
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang13
Vi khuẩn
Bacillus pasteurii (Ảnh:
playfuls)
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Phó Giáo sư Tống Kim Thuần, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, sử dụng chế
phẩm này rất đơn giản, chỉ cần bón Lipomycin- M quanh gốc cây với liều lượng vừa
phải, rồi lấp một lớp đất lên. Đối với vùng khô hạn không có nước tưới thì phải bón
chế phẩm vào cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa. Trong điều kiện không mưa, nấm
men sinh trưởng chậm và có thể tồn tại suốt mùa khô dưới dạng nang bào tử. Khi mùa
mưa đến, bào tử nảy chồi và sinh sôi nảy nở tạo màng nhày có tác dụng làm giảm sự
bốc thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước của đất, duy trì độ ẩm cho đất trong điều
kiện địa hình không có nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây
trồng. Việc bón Lipomycin-M tương tự như cho cây uống thuốc, tức là phải bón nhắc
lại sau một thời gian nhất định.
Theo Tiến sĩ Thuần, hiện nay nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, trong
khuôn khổ trang trại thí nghiệm tại Mê Linh (Vĩnh Phúc), nhưng đã cho kết quả rất tốt.
Khả năng giữ nước từ 8 đến 12% đối với một số loại cây nhỏ như cây thuốc nam, cây
mùn bón ruộng
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Dự án do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nam Định đầu tư kinh phí, được bắt đầu từ
cuối năm 2004, cho tới nay đã được triển khai thành công trên 75 ha mỗi vụ tại 5
huyện Xuân Trường, Nam Trực, Ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc. Theo TS Trần Đình Mấn,
Phó Viện trưởng Viện CNSH, Dự án không chỉ giúp nông dân giữ độ phì cho đất mà
còn giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường bức xúc bấy lây nay.
Nếu được triển khai trên diện rộng, khi những đống rơm nói trên mọc lên cũng là lúc
sẽ không còn cảnh khói bụi do đốt rơm ngay tại ruộng. Việc vứt rơm rạ bừa bãi xuống
kênh mương do có quá nhiều rơm cũng sẽ giảm hẳn.
Để biến rơm thành mùn bón ruộng, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Lý Kim Bảng đứng
đầu, đã sử dụng một loại chế phẩm sinh học do Viện CNSH sản xuất. Chế phẩm dạng
bột chứa 12-15 loại vi sinh vật được phân lập tại Việt Nam, trong đó có các chủng
Bacillus, xạ khuẩn có khả năng sinh ra các enzyme khác nhau để phân hủy chất hữu cơ
trong rác và rơm rạ. Ngoài ra, còn có một số vi sinh vật chức năng như các vi sinh vật
đối kháng với một số bệnh của cây trồng, vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân huỷ
phốtphát khó tan giúp cho cây trồng dễ dàng hơn trong việc hấp thụ dinh dưỡng.
Sau vụ gặt, nông dân thu gom rơm rạ vào góc ruộng, hoà chế phẩm cùng với
nước và phân NPK rồi tưới lên rơm rạ. Sau đó họ phủ ni-lông bình thường lên đống
rơm để giữ ẩm hoặc trát bùn. Cứ một cân chế phẩm cần hoà với 1 cân NPK và tưới
vào rơm rạ từ một sào ruộng. 1 tấn rơm rạ cần khoảng 5 -10 cân chế phẩm, tuỳ thuộc
vào thời gian nông dân muốn rơm mủn nhanh hay chậm. Giá của chế phẩm là 13.000-
15.000 đ/kg.
TS Mấn cho biết Dự án cung cấp toàn bộ chế phẩm, hỗ trợ ni-lông, tiền công
thu gom rơm rạ cho nông dân và tập huấn kỹ thuật. Tuy nhiên, về sau, khi thấy rõ lợi
ích của việc làm này, nhiều nông dân đã hỏi mua chế phẩm. Hiện công nghệ biến rơm
thành chất mùn bón ruộng đã được hoàn thiện và chế phẩm chuẩn bị được thương mại
hoá. Khi kết thúc dự án, Viện CNSH dự kiến sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất chế
phẩm cho Nam Định và triển khai mở rộng công nghệ xử lý tới miền Nam, nơi có rất
liệu sinh học mới từ dăm bào trộn với dầu diesel
sinh học và dầu hỏa dành cho các loại động cơ cổ
điển.
“Điều thú vị là phương pháp của chúng tôi rất dễ
thực hiện”, nhà nghiên cứu Tom Adams thuộc
trường Đại học Georgia cho biết.
Các nhà nghiên cứu trường Đại học Georgia có
khả năng sản xuất dầu từ gỗ nhưng họ không thể thực hiện một cách hiệu quả với chi
phí thấp đối với các động cơ cổ điển. Họ đã phát triển một phương pháp hóa học mới
nhằm xử lý dầu để sử dụng trong các loại động cơ diesel không sửa đổi hay trộn chất
dầu này với ethanol hoặc dầu hỏa.
Dăm bào và cặn gỗ được đun ở nhiệt độ cao và không oxy, kỹ thuật này được gọi là sự
hóa phân. Các nhà khoa học hiện đang nghiên cứu kỹ thuật này nhằm sản xuất nhiều
dầu hơn từ dăm bào. Theo Tiến sĩ Adams, loại nhiên liêu sinh học mới này được thuận
lợi về mặt môi trường vì chứa rất ít carbon.
Mặc dù nhiên liệu sinh học này tỏ ra hiệu quả nhưng các nhà nghiên cứu sẽ còn
thực hiện nhiều thử nghiệm bổ sung nhằm kiểm tra các hậu quả lâu dài đối với các
động cơ cũng như đặc điểm của các chất thải và biện pháp tốt nhất để vận chuyển và
dự trữ.
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang16
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Sản xuất diesel sinh học từ phụ phẩm động vật
[04/12/2005 - Sinh học Việt Nam]
Một công ty Canada đã đưa ra giải pháp cho những lái xe hay
lo lắng về sự ấm lên của Trái đất: dùng phụ phẩm của động
vật làm nhiên liệu.
Cách đây 2 tuần, công ty Rothsay đã khai trương nhà máy trị giá
14 triệu đôla Canada, nằm gần Montreal.
Khoa Công Nghệ Trang17
Các bộ phận của bò mà con người không
ăn sẽ được dùng để sản xuất diesel sinh
học
(Ảnh: Physorg.com)
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Để xem xét liệu nấm men có tác dụng phát hiện được thuốc nổ hay không, họ
đã bổ sung thêm một gien nữa và chính gien thứ hai này đã làm cho nấm men đổi màu
khi tiếp xúc với DNT.
DNT là sản phẩm phụ trong công nghiệp chế biến thuốc nổ TNT và thường được sử
dụng làm mẫu vật trong quá trình huấn luyện chó nghiệp vụ phát hiện các loại chất nổ.
Nhóm tác giả của công trình nuôi cấy loại nấm men mới, gồm các nhà nghiên
cứu của Trường Y thuộc Đại học Temple, thành phố Philadelphia, Mỹ do nhà khoa
học Danny Dhanasekaran đứng đầu, cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm tác dụng của
loại nấm men này và hy vọng sẽ sớm đưa vào ứng dụng trong thực tiễn. Nấm men
saccharomyces cerevisiae là một trong những đối tượng thí nghiệm được sử dụng phổ
biến nhất. Bộ gien của loại nấm này đã được giải mã từ năm 1996.
Theo TTXVN, Tuổi trẻ
Sản phẩm công nghê sinh học Thực phẩm (Pocket No 2)Cập nhật:
21/03/2006
Hiện nay, những sản phẩm lương thực, thực phẩm do Công nghệ Sinh học (CNSH) tạo
ra đã có mặt trên thị trường. Những cây trồng chuyển gen vẫn giống những cây trồng
truyền thống nhưng chúng có thêm một số đặc điểm được cải thiện. Chúng không
những có lợi cho nông dân mà còn cho cả người tiêu dùng. Người nông dân thì gặt hái
được những vụ mùa bội thu, trong khi người tiêu dùng quanh năm lại có nhiều loại sản
phẩm để lựa chọn. Ngoài ra những giống mới được tạo ra bằng CNSH cũng còn có
tiềm năng bảo vệ môi trường.
Trên thị trường hiện nay, đã có một số loại sản phẩm của CNSH thực phẩm được cải
tiến tính trạng và chất lượng như:
thông thường có thành phần axit oleic là 24%, trong khi đó với những giống đậu tương
mới này thành phần axit oleic lên tới trên 80%. Các giống đậu tương này được trồng
tại Ôxtralia, Canada, Nhật Bản và Mỹ.
Ví dụ về sản phẩm công nghệ sinh học thực phẩm hiện nay.
Ngô CNSH
Ngô là một trong 3 loại cây cho hạt quan trọng nhất trên thế
giới.
Ngô chống chịu thuốc diệt cỏ
Giống ngô này cũng tương tự như đậu tương chống chịu thuốc
diệt cỏ, cho phép người nông dân linh hoạt hơn trong việc sử
dụng thuốc diệt cỏ dại phá hoại mùa màng. * Được trồng ở
Achentina, Ôxtralia, Canada, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine, Nam
Phi, Thụy Sĩ và Mỹ.
Ngô kháng sâu
Loại ngô chuyển gen này chứa một protein có nguồn gốc từ vi sinh vật đất tự nhiên
(Bt). Protein này đem lại cho cây ngô khả năng kháng ổn định đối với sâu đục thân.
Protein Bt này đã được sử dụng làm thuốc trừ sâu sinh học an toàn trong hơn 40 năm
qua. Điều này đồng nghĩa với việc người nông dân sẽ không phải phun thuốc trừ sâu
để bảo vệ mùa màng khỏi sự phá hoại nghiêm trọng dẫn tới làm giảm năng suất. Ngô
Bt cũng làm giảm sự nhiễm độc do nấm trên những vết thương hở. *Được trồng ở
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang19
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Achentina, Ôxtralia, Canada, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Mêxicô, Philippine, Nga, Nam Phi, Thụy Sĩ, Đài Loan, Anh Quốc, Uruguay và Mỹ.
Cây cải dầu CNSH
Giống cải dầu chuyển gen được phát triển rộng rãi nhờ những nhà tạo
giống người Canada, đặc trưng của chúng là chất lượng dinh dưỡng, cụ
thể là chúng có hàm lượng thấp các axit béo no.
Khoai tây CNSH
Khoai tây kháng côn trùng
Công nghệ Sinh học đối với cây khoai được tiến hành tương tự như ở ngô kháng sâu. Loại
khoai này mang một protein kháng sâu tạo cho nó khả năng tự bảo vệ trước bọ khoai tây
Colorado. Do vậy, không cần đến biện pháp
chống sâu nào khác và mang lọi cho nông dân, cho người tiêu dùng và môi trường.
*Được trồng ở Ôxtralia, Canada, Nhật Bản, Philippine và Mỹ
Trường CĐ Lương Thực Thực Phẩm
Khoa Công Nghệ Trang20
Môn Nhập Môn Công Nghệ Sinh Học SV tổng hợp:Phan Thị Thảo Hiếu
GVHD:Bùi Thái Hằng Lớp :06S
Khoai tây kháng Virus
Đã có một vài giống khoai tây được chuyển gen nhằm kháng virus xoăn lá khoai tây
(PLRV) và virut khoai tây Y (PVY). Loại khoai tây này được chuyển gen của virus để
tự kháng lại virus. *Được trồng ở
Ôxtralia, Canada, Philippine, Nam Phi, và Mỹ.
Bí đỏ kháng vi rút
Một loại bí “cổ gà” màu vàng áp dụng CNSH hiện đã có trên
thị trường. Nó có khả năng kháng Virus khảm dưa hấu và
virus khảm vàng zucchini. Giống mới này chứa gen mã hóa
Protein vỏ của cả hai virus. Phương pháp CNSH này tiết kiệm
được việc chống rệp cây và từ đó làm giảm hoặc hạn chế hoàn toàn việc sử dụng thuốc
trừ sâu.* Được trồng ở Canada và Mỹ.
Cà Chua CNSH
Cà chua chin chậm
Cà chua chin chậm là loại thực phẩm chuyển gen đầu tiên được
sản xuất ở các nước phát triển. Giống cà chua này có thời gian
lưu trên giá bán hàng dài hơn. Nó mang một gen làm chậm quá
trình mềm quả tự nhiên khi quả chin.
khả năng giúp người thi hành công vụ giám sát được vệ sinh an toàn thực phẩm mà
không tốn nhiều thời gian. Quy trình kỹ thuật sinh học của PGS-TS Trần Linh Thước
(trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. Hồ Chí Minh) hiện được ứng dụng rộng rãi tại
nhiều cơ sở sản xuất với giá thành rất rẻ.
Ở Việt Nam, việc tiến hành xét nghiệm vi sinh vật trong thực phẩm (nguyên nhân gây
ra ngộ độc thực phẩm) hầu hết chỉ dựa trên phương pháp truyền thống: nuôi cấy kết
hợp với các thử nghiệm sinh hóa, miễn dịch. Các quy trình này rất phức tạp, cần có kỹ
thuật viên kinh nghiệm về vi sinh vật và đặc biệt là tốn ít nhất từ 2 đến 6 ngày. Đó
cũng là lý do vì sao một vụ ngộ độc phải mất cả tuần mới tìm được nguyên nhân gây
bệnh. Mặt khác, phương pháp nuôi cấy kết hợp hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu
kiểm tra, giám sát và kiểm dịch của các cơ quan quản lý.
Trước đây, “Kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) đã được ứng dụng thành công để chẩn
đoán sớm mầm bệnh trên người, vật nuôi và cây trồng” – PGS-TS Trần Linh Thước
cho biết như vậy và bằng cách tiếp cận tương tự, ông đã xây dựng được quy trình PCR
để xét nghiệm nhanh vi sinh vật gây bệnh trong thực phẩm. Thực chất, đây là kỹ thuật
nhân số lượng bản sao gien của những vi khuẩn cần tìm lên hàng triệu lần, đến mức có
thể phát hiện được chúng. Vì vậy, với phương pháp PCR chỉ cần khoảng 20 giờ là có
thể tìm ra nguyên nhân của một vụ ngộ độc.
Một con vi khuẩn cũng phát hiện được
Cùng với quy trình mới này là một bộ công cụ dùng trong quy trình xét nghiệm để
phát hiện nhanh vi khuẩn gây ngộ độc, từ chuyên môn gọi là bộ kít PCR, có độ nhạy
đối với các vi khuẩn rất cao. Với quy trình xét nghiệm và bộ kít này, hễ cứ trong 25 g
mẫu thực phẩm có một con vi khuẩn cần tìm thì sẽ phát hiện được chúng. Điều đặc
biệt là các bộ kít không chỉ gọi tên một loại vi sinh vật gây ngộ độc thực phẩm mà
chúng có thể phát hiện ra 12 loại vi khuẩn khác nhau. PGS-TS Lê Hoàng Ninh, Viện
trưởng Viện Vệ sinh Y tế công cộng, một trong những đơn vị tham gia đánh giá
phương pháp này, cho biết: “So với phương pháp nuôi cấy truyền thống, phương pháp
này cho hiệu quả chính xác. Và hay hơn ở chỗ, nó phát hiện nhiều vi khuẩn gây bệnh