thương mại điện tử (e-commerce hay e-business) - Pdf 16

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
A.ĐỊNH NGHĨA
Định nghĩa
Thương mại điện tử (còn gọi là E-Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua
các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt làtrực tuyến qua máy tính và mạng Internet.
Thương mại điện tử (Electronic Commerce), một yếu tố hợp thành của nền "Kinh tế số hóa", là hình thái hoạt động
thương mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công
nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn
gọi là "Thương mại không có giấy tờ").
"Thông tin" trong khái niệm trên được hiểu là bất cứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ,
các tệp văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử, các hình đồ họa, quảng
cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn, biểu giá, hợp đồng, các mẫu đơn, các biểu mẫu, hình ảnh động, âm thanh, v.v
"Thương mại" (commerce) trong khái niệm thương mại điện tử được hiểu (như quy định trong "Đạo luật mẫu về
thương mại điện tử" của Liên hiệp quốc) là mọi vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại
(commercial), dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm bất cứ giao dịch
thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ; thoả thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại;
ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân
hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp
hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt, đường bộ; và
v.v Như vậy, phạm vi của thương mại điện tử(E-commerce) rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thái hoạt động
kinh tế, mà không chỉ bao gồm buôn bán hàng hóa và dịch vụ; buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một trong hàng
nghìn lĩnh vực áp dụng của thương mại điện tử.
Các khái niệm khác nhau
Hai khái niệm phổ biến nhất là "Thương mại điện tử" (tiếng Anh là E-Commerce) và "Kinh doanh điện tử" (tiếng Anh
là E-Business). Nếu thương mại điện tử chủ yếu bao hàm các hoạt động tiếp thị (marketing), bán hàng, phân phối và
thanh toán có ứng dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông trong giao dịch, thì kinh doanh điện tử bao hàm
phạm vi rộng hơn của ứng dụng các phương tiện điện tử, mạng viễn thông vào các khía cạnh của hoạt động kinh
doanh. Đặc biệt là ba hoạt động chính: Quản lý chuỗi cung ứng (SCM), quản lý nguồn lực doanh nghiệp (ERP)
và quản lý quan hệ khách hàng (CRM).
Nhìn một cách tổng quát, các định nghĩa thương mại điện tử được chia thành hai nhóm tùy thuộc vào quan điểm:
Hiểu theo nghĩa hẹp

thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế. Theo ước tính đến nay, thương mại
điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.
Các điểm đặc biệt của thương mại điện tử so với các kênh phân phối truyền thống là tính linh hoạt cao độ về mặt
cung ứng và giảm thiểu lớn phí tổn vận tải với các đối tác kinh doanh. Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện thoại
và đi lại để thu nhập khác hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được giảm xuống. Mặc dầu vậy, tại các dịch vụ
vật chất cụ thể, khoảng cách không gian vẫn còn phải được khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp vận phù
hợp nhất định.
Ngày nay người ta hiểu khái niệm thương mại điện tử thông thường là tất cả các phương pháp tiến hành kinh doanh
và các quy trình quản trị thông qua các kênh điện tử mà trong đó Internet hay ít nhất là các kỹ thuật và giao thức
được sử dụng trong Internet đóng một vai trò cơ bản và công nghệ thông tin được coi là điều kiện tiên quyết. Một
khía cạnh quan trọng khác là không còn phải thay đổi phương tiện truyền thông, một đặc trưng cho việc tiến hành
kinh doanh truyền thống. Thêm vào đó là tác động của con người vào quy trình kinh doanh được giảm xuống đến
mức tối thiểu. Trong trường hợp này người ta gọi đó là Thẳng đến gia công (Straight Through Processing). Để làm
được điều này đòi hỏi phải tích hợp rộng lớn các các tính năng kinh doanh.
Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT), nhưng hiểu một cách tổng quát, TMĐT là việc tiến hành một
phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử. TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt
động thương mại truyền thống. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại được
thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh.
TMĐT càng được biết tới như một phương thức kinhdoanh hiệu quả từ khi Internet hình thành và phát triển. Chính vì
vậy, nhiều người hiểu TMĐT theo nghĩa cụ thể hơn là giao dịch thương mại, mua sắm qua Internet và mạng (ví dụ
mạng Intranet của doanh nghiệp).
B. CÁC PHƯƠNG TIỆN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ
CÁC PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Posted by admin on Nov 22, 2010 | Leave a Comment
Thương mại điện tử được thực hiện qua các phương tiện như điện thoại, máy fax, truyền hình, các hệ
thống ứng dụng thương mại điện tử và các mạng máy tính kết nối với nhau. Thương mại điện tử phát
triển chủ yếu qua Internet và trên các hệ thống cung ứng dịch vụ hỗ trợ giao dịch thương mại điện tử
(như mạng giá trị gia tăng, hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng hàng hoá, dịch vụ)
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ không dây, các thiết bị không dây tích hợp đa

nguyên bao gồm đĩa cứng, ổ đĩa CD-ROM, máy in, modern … Tuỳ theo tính mở rộng của mạng mà
người ta chia thành các mạng cục bộ (LAN), mạng diện rộng (WAN) và Internet. Theo phạm vi cung cấp
dịch vụ, người ta phân thành các mạng nội bộ (Intranet) và mạng ngoại bộ (Extranet).
Internet được định nghĩa là tập hợp bao gồm các mạng máy tính thương mại và phi thương mại được kết
nối với nhau nhờ có đường truyền viễn thông và cùng dựa trên một giao thức truyền thông tiêu chuẩn –
đó là giao thức TCP/IP, trong đó TCP (Transmission Control Protocol) chịu trách nhiệm đảm bảo việc
truyền gửi chính xác dữ liệu từ máy người sử dụng đến máy chủ, còn IP (Internet protocol) có trách
nhiệm gửi các gói dữ liệu từ nút mạng này sang nút mạng khác theo địa chỉ Internet.
Như vậy, Internet là mạng toàn cầu hình thành từ những mạng nhỏ hơn, kết nối hàng triệu máy tính trên
toàn thế giới thông qua hệ thống viễn thông. Internet mang lại cơ sở hạ tầng giúp các công ty phổ biến
các địa chỉ trên mạng của mình, hiển thị nội dung thông tin để mọi người có thể truy cập. Internet bao
gồm các thông tin đa phương tiện như số liệu, văn bản, đồ hoạ, phim ảnh … là một hình thức mạng với
những chức năng phong phú để kết nối thông tin trên toàn thế giới.
Các mốc quan trọng hình thành và phát triển mạng Internet có thể kể đến là:
1962: ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính với nhau (J.C.R. Licklider)
1965: Mạng gửi các dữ liệu được chia nhỏ thành từng gói tin, đi theo các tuyến đường khác nhau và kết
hợp lại tại điểm đến (Donald Dovies); Lawrence G. Roberts đã kết nối một máy tính ở Massachussetts
với một máy tính khác ở California qua đường dây điện thoại.
1967: Lawrence G. Roberts đề xuất ý tưởng mạng ARPANET – Advanced Research Project Agency
Network tại một hội nghị ở Michigan; Công nghệ chuyển gói tin (packet switching technology) đem lại lợi
ích to lớn khi nhiều máy tính có thể chia sẻ thông tin với nhau; Phát triển mạng máy tính thử nghiệm của
Bộ quốc phòng Mỹ theo ý tưởng ARPANET
1969: Bộ Quốc phòng Mỹ tiến hành dự án nghiên cứu cao cấp ARPA (Advanced research project
agency). Mục tiêu dự án là nghiên cứu các tiêu chuẩn và công nghệ – thiết bị truyền gửi dữ liệu thiết lập
hệ thống mạng toàn quốc cho phép trao đổi thông tin nhanh chóng, kịp thời, đồng thời đảm bảo cho sự
hoạt động liên tục của mạng máy tính, kể cả trong trường hợp một phần hay một bộ phận của mạng
thông tin bị phá huỷ. Dự án thành công ngoài sức tưởng tượng, hệ thống mạng đã được các nhà khoa
học, các kỹ sư, các ngành công nghiệp, các trường đại học ủng hộ và đã trở thành mạng thông tin khổng
lồ, có tên là Internet (mạng của các mạng).
1972: Thư điện tử bắt đầu được sử dụng (Ray Tomlinson)

đoán ra được đây là email từ công ty IBM và Website của công ty này là . Dựa trên nguyên tắc địa chỉ website gắn
liền với tên thương hiệu, trong nhiều trường hợp có thể đoán ra địa chỉ website của doanh nghiệp một cách dễ dàng.
Tuyệt đại đa số website của doanh nghiệp đều có phần đầu là www. và phần sau là .com hoặc .com.vn. Chúng ta chỉ
cần đặt tên thương hiệu của doanh nghiệp vào giữa hai phần trên là xong.
Để tăng tính đồng nhất giữa địa chỉ website và địa chỉ email, doanh nghiệp cần lấy ngay địa chỉ website làm phần
gốc (phần sau dấu @). Rất nhiều doanh nghiệp hiện đã có website, nhưng l?i không biết là họ có quyền dùng địa chỉ
website đó cho địa chỉ email của mình nên vẫn phải dùng địa chỉ email đăng ký tại các nhà cung cấp dịch vụ Internet
như VDC, FPT …
1.3.2. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange – EDI) là việc trao đổi trực tiếp các dữ liệu dưới dạng “có cấu
trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã
thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người. Trao
đổi dữ liệu điện tử có vai trò quan trọng đối với giao dịch thương mại điện tử quy mô lớn giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp. Với việc hình thành những hệ thống ứng dụng thương mại điện tử kỹ thuật cao như mạng giá trị gia
tăng (VAN), hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng (SCM), mạng của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian …, có sự
tham gia của nhiều doanh nghiệp sử dụng dịch vụ áp dụng những tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu thống nhất tạo thuận lợi
cho các giao dịch thương mại điện tử. Sử dụng EDI, doanh nghiệp sẽ giảm được lỗi sai sót do con người gây nên,
giảm thời gian xử lý thông tin trong các giao dịch kinh doanh, tiết kiệm thời gian và chi phí trao đổi dữ liệu. Hiện nay,
sự xuất hiện của các ngôn ngữ lập trình hiện đại như XML làm cho EDI trở nên dễ thiết kế và dễ sử dụng hơn, do đó
EDI được ứng dụng rất phổ biến trong nhiều ngành trên thế giới.
1.3.3. Quảng cáo trực tuyến
Có nhiều hình thức để tiến hành quảng cáo trực tuyến. Doanh nghiệp có thể hình thành một website riêng, đặt
đường dẫn website của mình tại những trang web có nhiều người xem, đăng hình quảng cáo tại những trang web
thông tin lớn hay trực tiếp gửi thư điện tử tới từng khách hàng, đối tác tiềm năng… Chi phí quảng cáo trên các trang
web rất thấp so với việc quảng cáo trên các phương tiện truyền hình, đài phát thanh. Vì vậy, việc tiến hành quảng
cáo trên những website có số lượng truy cập lớn cũng đang trở thành một chiến lược quan trọng của nhiều doanh
nghiệp. Những công ty có trang web riêng hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sản xuất hàng hoá, dịch vụ
công nghiệp tới những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày. Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng chi phí thấp của các hình
thức quảng cáo bằng thư điện tử bằng cách mua hoặc liệt kê danh sách khách hàng tiềm năng có địa chỉ email từ
những nhà cung cấp dịch vụ Interner như FPT, VDC … rồi gửi thư điện tử quảng cáo. Ví dụ về các loại quảng cáo

dàng.
• Bố trí tốt nhân lực để nhận, phản hồi các đơn đặt hàng, cập nhật thông tin trên website, nhận hàng
từ nhà sản xuất và giao hàng cho người mua.
• Cung cấp nhiều loại hình thanh toán.
• Làm tốt công tác quảng cáo website, chăm sóc khách hàng.
• Bán lẻ hàng hoá hữu hình (retail of tangible goods).
Trong các hình thức trên, trao đổi dữ liệu điện tử (dưới dạng các dữ liệu có cấu trúc) là hình thức chủ yếu.
D.CÁCH GIAO TIẾP
Cách giao tiếp
Thương mại điện tử bao gồm bốn loại giao tiếp:
1. Người với người (qua điện thoại, thư điện tử, fax);
2. Người với máy tính điện tử (qua các mẫu biểu điện tử, qua Website);
3. Máy tính điện tử với người (qua fax, thư điện tử);
4. Máy tính điện tử với máy tính điện tử (qua trao đổi dữ liệu có cấu trúc, thẻ thông minh, mã vạch).
E. CÁCH GIAO DỊCH
Giao dịch thương mại điện tử tiến hành:
1. Giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng;
2. Giữa các doanh nghiệp với nhau;
3. Giữa doanh nghiệp với Chính phủ;
4. Giữa người tiêu thụ với Chính phủ;
5. Giữa các cơ quan Chính phủ.
6. giữa con người với con người thông qua công cụ máy tính
Trong các quan hệ giao dịch nói trên, giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau là quan hệ chủ yếu.
F.TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT
Tiêu chuẩn kỹ thuật
 eBXML – XML cho quy trình kinh doanh điện tử
 XBEL – XML dùng trong kế toán
 BMECat – XML dùng trong trao đổi dữ liệu danh mục hàng hóa, thông tin giá cả,
 WClass – Hệ thống nhóm hàng hóa của công nghiệp điện
 UNSPSC - Tiêu chuẩn phân loại hàng hóa

• Củng cố quan hệ khách hàng: thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ với trung gian
và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng
góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành.
• Thông tin cập nhật: mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá cả… đều có thể được cập
nhật nhanh chóng và kịp thời.
• Chi phí đăng ký kinh doanh: một số nước và khu vực khuyến khích bằng cách giảm hoặc không thu
phí đăng ký kinh doanh qua mạng và trên thực tế, do đặc thù riêng biệt nên việc thu phí đăng
ký kinh doanh qua mạng cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
• Các lợi ích khác: nâng cao uy tín, cải thiện hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lượng dịch vụ
khách hàng; tìm kiếm các đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy trình giao
dịch; tăng năng suất, tăng khả năng tiếp cận thông tin; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt
động kinh doanh.
1.5.1.2. Đối với người tiêu dùng :
• Vượt giới hạn về không gian và thời gian: thương mại điện tử cho phép khách hàng mua sắm mọi
nơi, mọi lúc trên khắp thế giới.
• Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ:thương mại điện tử cho phép người mua có nhiều lựa chọn
hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn.
• Giá thấp hơn:do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách hàng có thể so sánh giá
cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất.
• Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: đối với các sản phẩm số hóa được như phim,
nhạc, sách, phần mềm…. việc giao hàng được thực hiện dễ dàng thông qua Internet.
• Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: khách hàng có thể dễ dàng tìm được thông
tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm kiếm (search engines); đồng thời các thông
tin đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh).
• Đấu giá: mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thể tham gia mua và bán trên
các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm những món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên
thế giới.
• “Đáp ứng mọi nhu cầu”: khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận các đơn hàng khác nhau từ mọi
khách hàng.
• Thuế: trong giai đoạn đầu của TMĐT, nhiều nước khuyến khích bằng cách miÔn thuế đối với các

1. An toàn
2. Sự tin tưởng và rủi ro
3. Thiếu nhân lực về TMĐT
4. Văn hóa
5. Thiếu hạ tầng về chữ ký số hóa (hoạt động của các tổ chức chứng thực còn hạn chế)
6. Nhận thức của các tổ chức về TMĐT
7. Gian lận trong TMĐT (thẻ tín dụng…)
8. Các sàn giao dịch B2B chưa thực sự thân thiện với người dùng
9. Các rào cản thương mại quốc tế truyền thống
10.Thiếu các tiêu chuẩn quốc tế về TMĐT
Biểu 1. Thách thức của thương mại điện tử
Cản trở về kỹ thuật Cản trở về thương mại
Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an
toàn và độ tin cậy.
An ninh và riêng tư là hai cản trở về tâm lý đối
với người tham gia TMĐT
Tốc độ đường truyền Internet vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu của người sö dông, nhất là trong
thương mại điện tử.
Thiếu lòng tin vào TMĐT và người bán hàng
trong TMĐT do không được gặp trực tiếp
Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn trong giai
đoạn đang phát triển
Nhiều vấn đề về luật, chính sách, thuế chưa
được làm rõ
Khó khăn khi kết hợp các phần mềm TMĐT với
các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu
truyền thống
Một số chính sách chưa thực sự hỗ trợ tạo điều
kiện để TMĐT phát triển

dịch vụ tốt nhất, phân phối nhanh nhất, việc định vị sản phẩm ngày nay còn được bổ sung thêm
những tiêu chí riêng của thương mại điện tử như nhiều sản phẩm nhất, đáp ứng nhu cầu của cá
nhân và doanh nghiệp nhanh nhất …
• Các chiến lược marketing hỗn hợp: Bốn chính sách của marketing là sản phẩm, giá, phân phối, xúc
tiến và hỗ trợ kinh doanh cũng bị tác động của TMĐT. Việc thiết kế sản phẩm mới hiệu quả hơn,
nhanh hơn, nhiều ý tưởng mới hơn nhờ sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa nhà sản xuất, nhà
phân phối, nhà cung cấp và khách hàng.Việc định giá cũng chịu tác động của Thương mại điện tử
khi doanh nghiệp tiếp cận được thị trường toàn cầu, đồng thời đối thủ cạnh tranh và khách hàng
cũng tiếp cận được nguồn thông tin toàn cầu đòi hỏi chính sách giá toàn cầu và nội địa cần thay đổi
để có sự thống nhất và phù hợp giữa các thị trường. Việc phân phối đối với hàng hóa hữu hình và
vô hình đều chịu sự tác động của TMĐT, đối với hàng hóa hữu hình quá trình này được hoàn thiện
hơn, nâng cao hiệu quả hơn; đối với hàng hóa vô hình, quá trình này được thực hiện nhanh hơn
hẳn so với thương mại truyền thống. Đặc biệt hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có sự tiến bộ
vượt bậc nhờ tác động của TMĐT với các hoạt động mới như quảng cáo trên website, quảng cáo
bằng e-mail, diễn đàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7…
b) Thay đổi mô hình kinh doanh
Việc xuất hiện thương mại điện tử đã dẫn đến trào lưu hàng loạt doanh nghiệp phát triển các mô hình kinh doanh từ
truyền thống sang mô hình kinh doanh thương mại điện tử như các Công ty Ford Motor, Dell Computer Corp… Bên
cạnh đó cũng đã hình thành các sàn giao dịch điện tử dạng B2B.
Với Ford, việc áp dụng TMĐT vào các hoạt động sản xuất kinh doanh đã giúp công ty giảm lượng hàng lưu kho và
độ trễ trong phân phối hàng hoá. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các
showroom trên mạng, tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho.
• Với Dell Computer Corp, áp dụng TMĐT trong các chiến lược thúc đẩy hoạt động kinh doanh của
công ty như lôi kéo các khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của
khách hàng, sản xuất hàng theo yêu cầu (được biết đến dưới tên gọi “chiến lược kéo”), v.v
• Với mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn
giao dịch B2B là điển hình của những thành công từ việc tạo ra các lợi thế và giá trị mới cho khách
hàng bằng TMĐT.
c) Tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Các hãng sản xuất lớn nhờ ứng dụng TMĐT có thể giảm chi phí sản xuất đáng kể. Có thể phân tích một số mô hình

1.6.1.2. Vấn đề bảo đảm tính riêng tư:
Thông tin cá nhân được luật pháp tôn trọng. Cá nhân được quyền đảm bảo bí mật các thông tin về đời
tư. Khi thực hiện các giao dịch trong môi trường Internet, các chủ thể tham gia giao dịch thường được
yêu cầu phải khai báo các thông tin cá nhân ví dụ như số thẻ tín dụng, địa chỉ, ngày tháng năm sinh, địa
chỉ nhà riêng, số điện thoại cá nhân để phục vụ cho mục đích xác nhận, kiểm tra. Sở dĩ có điều đó là do
các bên tham gia giao dịch không quen biết nhau. Các thông tin về đời tư này dễ bị bên thứ ba lấy cắp và
sử dụng vào mục đích khác, gây phương hại đến người tham gia giao dịch TMĐT. Do đó, trong TMĐT
cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia giao dịch đối với các thông tin của các chủ thể.
1.6.1.3. Bảo vệ người tiêu dùng:
Do trong TMĐT cả người mua lẫn người bán không cần gặp nhau, biết nhau nên dễ xảy ra các rủi ro và
người bị thiệt thường là người tiêu dùng bởi vì họ phải trả tiền trước cho các sản phẩm, dịch vụ mà họ
mua qua mạng song lại chưa biết được chất lượng sản phẩm và việc giao hàng có diễn ra đúng như
người bán đã cam kết không. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn khi hai chủ thể ở hai quốc gia khác nhau,
chịu các luật điều chỉnh khác nhau, thẩm quyền tài phán khác nhau. Do vậy trong quy định pháp lý cho
các bên tham gia TMĐT, các quốc gia đều bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, do luật pháp các nước là
không giống nhau nên nếu hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau thì hai bên cần thoả thuận trước về
luật sẽ áp dụng.
1.6.1.4. Các vấn đề về hợp đồng
Theo pháp luật, hợp đồng được xác lập khi các bên đạt được sự nhất trí về các điều kiện ghi trong hợp
đồng bất kể là thoả thuận miệng hay bằng văn bản. Vấn đề nảy sinh là xác định nơi giao kết hợp đồng để
xác định luật giải quyết khi có tranh chấp. Trong hầu hết các trường hợp thì quốc gia nơi đặt webserver
không hề được quan tâm và không phải lúc nào vị trí của webserver cũng rõ ràng. Domain name cũng
không phải là căn cứ để xác định nơi giao kết hợp đồng. Có nhiều doanh nghiệp Việt Nam buôn bán qua
domain name nước ngoài và ngược lại.
Nói chung các loại hợp đồng đều có thể giao kết qua mạng, tuy nhiên cũng có một số loại hợp đồng theo
quy định của pháp luật phải thể hiện bằng văn bản, có công chứng, đăng ký. Luật pháp các nước đều
không phủ nhận giá trị pháp lý của hợp đồng ảo chỉ vì nó là dạng dữ liệu (bản ghi điện tử).
Có nhiều loại hợp đồng trong không gian ảo, đó là hợp đồng hàng hoá, dịch vụ và các dịch vụ số hoá.
Hàng hoá khi chào bán trên mạng phải đảm bảo chất lượng. phù hợp với mục đích sử dụng, an toàn và
không có khuyết điểm nhỏ. Sẽ không được coi là có khuyết điểm nhỏ nếu như người bán chỉ ra cho

a/ Nếu người nhận chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thì thời gian nhận là khi thông điệp điện tử
nhập vào hệ thống thông tin đó hoặc khi nhập vào hệ thống thông tin khác nhưng người nhận đang làm
việc để truy lục thông điệp điện tử.
b/ Nếu người nhận không chỉ định hệ thống thông tin thì tính thời điểm nhận là thời điểm thông điệp điện
tử truy nhập vào hệ thống thông tin của người nhận.
1.6.2. Pháp luật về thương mại điện tử trên thế giới
1.6.2. Pháp luật về thương mại điện tử trên thế giới
* Các tổ chức Quốc tế
• UNCITRAL – Ủy ban của LHQ về Luật Thương mại Quốc tế: đưa ra Luật mẫu về Thương
mại điện tử vào năm 1996 làm khung hướng dẫn cho các nước xây dựng các đạo luật về
thương mại điện tử.
• OECD – Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế: nghiên cứu, điều tra một số lĩnh vực của
Thương mại điện tử như thuế, bảo vệ người tiêu dùng và riêng tư cá nhân, tác động của
ICT đến tăng trưởng kinh tế
• WIPO – Tổ chức Bảo vệ Sở hữu trí tuệ: về các lĩnh vực bản quyền, nhãn hiệu thương mại
và các vấn đề liên quan đến tên miền
• ICANN – giải quyết các tranh chấp về tên miền quốc tế
• WTO – giải quyết các vấn đề liên quan đến rào cản thương mại điện tử quốc tế
* Các nước trên thế giới và khu vực
• EU: Năm 2000 đưa ra hướng dẫn chung về thương mại điện tử “Directive on electronic
commerce”
• US: UETA – Luật giao dịch điện tử thống nhất (Uniform Electronic Transactions Act)
• Canada: Luật giao dịch điện tử
• Australia: Luật giao dịch điện tử các bang
• Singapore: Luật giao dịch điện tử, năm 1998
1.6.2.1. Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử
Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế
của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những
quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho
những tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử. Luật mẫu có thể được sử dụng như

nhận tính hiệu lực của việc chuyển các văn bản bằng phương tiện điện tử. Luật về
chữ ký điện tử và tổ chức chứng thực điện tử của Nhật Bản cũng được ban hành
ngày 25/5/2000.
Trung Quốc Luật hợp đồng thừa nhận tính hiệu lực của các hợp đồng điện tử
Đặc khu Hongkong Ngày 7/1/2000, Hồng Kông đã ban hành pháp lệnh giao dịch điện tử. Văn bản này
có quy định về chữ ký điện tử, bản ghi điện tử và được áp dụng rộng rãi cho mọi
hoạt động truyền thông, công nhận tính pháp lý của các giao dịch điện tử.
Hàn Quốc Hàn Quốc có Luật Chữ ký điện tử vào năm 1999 và sửa đổi vào năm 2001
Mehico Nghị định về TMĐT được thông qua năm 2000
New Zealand Luật Giao dịch điện tử (căn cứ vào luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL) ban hành
năm 1998, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào một giao dịch điện
tử. Luật cũng quy định việc cấp phép qua thiết bị điện tử đối với khu vực công cộng
và trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ thuộc bên thứ ba. Cơ chế giải quyết
tranh chấp điện tử qua Internet được sử dụng để giải quyết tranh chấp
Thái Lan Luật Giao dịch điện tử của Thái Lan được thông qua vào tháng 10/2000 đã bao quát
cả chữ ký điện tử.
Mỹ Áp dụng Luật thương mại chung
Áp dụng Luật Chuyển tiền điện tử đối với các sản phẩm lưu trữ giá trị dưới sự kiểm
soát của Cục Dự trữ Liên bang.
Luật Giao dịch điện tử thống nhất thông qua năm 1999 thừa nhận tính bình đẳng
của chữ ký điện tử và chữ ký viết tay. Các bang ban hành luật riêng dựa trên luật
giao dịch điện tử thống nhất.
Malaysia Ngày 1/10/1998, Luật về chữ ký điện tử của Malaysia đã có hiệu lực.
Singapore Ngày 29/6/1998, Luật giao dịch điện tử của Singapore đã ra đời quy định về chữ ký
điện tử, chữ ký số cũng như bản ghi điện tử.
Philipines Luật Thương mại điện tử của Philipines ban hành ngày 14/6/2000 đã điều chỉnh về
chữ ký điện tử, giao dịch điện tử và tội phạm liên quan tới thương mại điện tử.
Brunei Luật Giao dịch điện tử của Brunei được ban hành tháng 11/2000 bao quát đến vấn
đề hợp đồng điện tử cũng như chữ ký điện tử và chữ ký số.
Ấn Độ Luật về công nghệ thông tin của Ấn Độ được thi hành từ tháng 10/2000 quy định về

sự đưa ra quy định cụ thể về các trường hợp giao kết, sửa đổi, thực hiện, huỷ bỏ hợp đồng. Theo đó,
thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Địa điểm
giao kết hợp đồng dân sự do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp
đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.
Đây là những khái niệm quan trọng cần tính đến khi xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến giao
kết và thực hiện hợp đồng trong môi trường điện tử.
1.6.3.4. Luật Hải quan
Luật Hải quan (sửa đổi) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực
từ ngày 1/01/2006 có bổ sung một số quy định về trình tự khai hải quan điện tử, địa điểm khai, hồ sơ hải
quan điện tử, thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu bằng Thương mại điện tử.
1.6.3.5. Luật sở hữu trí tuệ
Luật sở hữu trí tuệ được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ
ngày 1/07/2006 thể hiện một bước tiến trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ có một số điều khoản liên quan đến thương mại điện tử như quy định
về các hành vi bị xem là xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường điện tử như cố ý huỷ
bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm, dỡ bỏ hoặc thay đổi thông
tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan. Tuy
không có quy định cụ thể liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng các nguyên tắc trong Luật
Sở hữu trí tuệ có thể áp dụng đối với lĩnh vực này.
1.6.3.6. Một số văn bản pháp luật khác
Bên cạnh Luật Thương mại, Luật Giao dịch điện tử và Bộ luật Dân sự, có một số văn bản khác cũng đề
cập đến thương mại điện tử như :
• Quyết định số 27/2005/QĐ-BBCVT do Bộ trưởng Bộ Bưu chính – Viễn thông ký và ban
hành ngày 11/08/2005 quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
• Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT ngày 14/07/2006 về quản lý đại lý
Internet.
Ngoài ra, Luật Công nghệ thông tin và Nghị định về thương mại điện tử cũng đang khẩn trương được xây
dựng, tạo cơ sở pháp lý cho thương mại điện tử phát triển.
L. QUY TRÌNH KINH DOANH
1.4.QUY TRÌNH KINH DOANH TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Internet .Đối với các hàng hoá phải chuyển theo các kênh truyền thống như đường biển,
đường hàng không … Internet vẫn giúp các đối tác theo dõi được tình trạng cũng như vị trí
của hàng hoá trên đường vận chuyển. Các công ty vận tải biển, các công ty phát chuyển
nhanh thường cung cấp các dịch vụ này cho khách hàng của mình như một công cụ
marketing hiệu quả.
M.PHAN LOẠI THUONG MAI DIEN TU
Thương mại điện tử có thể được phân loại theo tính cách của người tham gia:
 Người tiêu dùng
 C2C (Consumer-To-Comsumer) Người tiêu dùng với người tiêu dùng
 C2B (Consumer-To-Business) Người tiêu dùng với doanh nghiệp
 C2G (Consumer-To-Government) Người tiêu dùng với chính phủ
 Doanh nghiệp
 B2C (Business-To-Consumer) Doanh nghiệp với người tiêu dùng
 B2B (Business-To-Business) Doanh nghiệp với doanh nghiệp
 B2G (Business-To-Government) Doanh nghiệp với chính phủ
 B2E (Business-To-Employee) Doanh nghiệp với nhân viên
 Chính phủ
 G2C (Government-To-Consumer) Chính phủ với người tiêu dùng
 G2B (Government-To-Business) Chính phủ với doanh nghiệp
 G2G (Government-To-Government) Chính phủ với chính phủ
. MỘT SỐ MÔ HÌNH GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Posted by admin on Nov 22, 2010 | Leave a Comment
Các giao dịch của thương mại điện tử diễn ra bên trong và giữa ba nhóm chủ thể tham gia chủ yếu là:
doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước (Chính phủ) và người tiêu dùng. Dựa vào các chủ thể tham gia
giao dịch thương mại điện tử người ta phân thành các loại mô hình giao dịch thương mại điện tử
bao gồm doanh nghiệp với doanh nghiệp (business to business - B2B); doanh nghiệp với cơ quan nhà
nước (business to government -B2G); doanh nghiệp với người tiêu dùng (business to consumer – B2C);
cơ quan nhà nước với cơ quan nhà nước (Government to Government G2G); cơ quan nhà nước với
người tiêu dùng ( Government to consumer G2C); người tiêu dùng với người tiêu dùng (consumer to
comsumer – C2C). Trong chương này chỉ nêu những mô hình có tính chất phổ biến đối với các doanh

Trong vài năm qua, số lượng website thương mại điện tử B2C ở Việt Nam không ngừng tăng. Báo cáo
Thương mại điện tử Việt Nam năm 2004 ước tính có 17.500 website doanh nghiệp vào thời điểm cuối
tháng 12/2004, trong số này rất nhiều website theo định hướng B2C. Ngoài số lượng đơn hàng, mức độ
thích ứng của người tiêu dùng đối với phương thức giao dịch thương mại điện tử B2C còn thể hiện ở giá
trị trung bình của các đơn hàng trên mạng. Theo số liệu thống kê chi tiết, giá trị trung bình của giao dịch
thương mại điện tử B2C trên các website VDC tăng khá nhanh trong vòng 3 năm qua, từ mức 760.000
đồng/giao dịch trong năm 2003 lên đến 2.300.000 đồng/giao dịch trong năm 2005. Điều này cho thấy
người tiêu dùng ngày càng tự tin hơn khi tiến hành giao dịch trên mạng và sẵn sàng mua những mặt
hàng có giá trị tương đối lớn dựa vào các thông tin cung cấp trên website thương mại điện tử của doanh
nghiệp.
Thành công của các công ty theo mô hình B2C là nhờ vào những thuận lợi trong việc mua hàng mà họ
có thể cung cấp cho khách hàng. Quá trình này có phần tương tự với dịch vụ khách hàng kiểu cũ. Các
công ty như Amazon.com … đã thu hút được đông đảo khách hàng trực tuyến chủ yếu là nhờ vào việc
đáp ứng một cách hoàn hảo nhu cầu của họ.
Một kinh nghiệm đối với khách hàng trực tuyến chính là giao diện: được hiểu là từ ngữ và hình ảnh mà
người mua hàng sẽ tiếp xúc, thay vì người bán hàng thực sự (mặc dù những công nghệ mới như VoIP
có thể cho phép khách hàng đàm thoại trực tiếp với các nhân viên bán hàng khi họ thực hiện mua hàng).
Nếu người mua hàng đưa các mục hàng vào một chiếc giỏ mua hàng ảo và trình ra thẻ tín dụng, các
công ty có thể đáp ứng các đơn đặt hàng mà hầu như không cần có sự tham gia xử lý của con người.
Cuối cùng, các hệ thống như màn hình trợ giúp theo tình huống (context-sensitive) và quảng cáo phù
hợp với sở thích từng cá nhân đã ra đời. Mặc dù, ban đầu công chúng có một số lo ngại về độ bảo mật
của các giao dịch bằng thẻ tín dụng nhưng TMĐT B2C giờ đang bắt đầu bùng phát.
Ngoài ra, các công ty theo mô hình B2C còn có những cách khác để thu lợi. Họ có thể bán chỗ quảng
cáo trên trang web của mình hoặc bán quyền truy cập tới một nội dung đặc biệt tính trên cơ sở trả tiền
theo sử dụng (pay-per-use) hay trả tiền theo lần xem (pay-per-view). Với cách bán quyền truy cập, các
công ty sẽ chia nhỏ thông tin trên trang web của mình và bán cho khách hàng của mình theo từng lần sử
dụng hoặc là theo một khoảng thời gian sử dụng nhất định. Chẳng hạn, Nhật báo Wall Street
( cho phép khách hàng quyền truy cập có thời hạn 1 ngày tới một phiên bản báo trực
tuyến của công ty với giá không đầy 50 cent. )
Trong chương 5 sẽ hướng dẫn chi tiết hơn việc xây dựng một website bán lẻ.

Nam Định. Đại lý LG tại Nam Định sẽ thực hiện và cuối kú hai đại lý sẽ thanh toán bù trừ cho nhau. Các
dữ liệu về hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống đại lý này sẽ được cập nhật vào CSDL chung để LG
có thể căn cứ vào đó điều chỉnh kế hoạch giao hàng, bổ sung cho kế hoạch tiếp thị cũng như hoạch định
các phương án kinh doanh.
Về mặt công nghệ, thực chất của mô hình này là doanh nghiệp xây dựng một catalogue chung, các
thành viên của doanh nghiệp theo chức năng của mình sẽ được chia sẻ một phần catalogue chung đó,
phần catalogue mà một thành viên được chia sẻ sẽ được doanh nghiệp áp dụng chính sách riêng, không
phụ thuộc vào các chính sách áp dụng cho các thành viên khác. Như vậy tuy cùng một loại hàng nhưng
các thành viên khác nhau sẽ được doanh nghiệp dành cho các giá bán buôn khác nhau, thời hạn thanh
toán, số lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau, lãi suất quá hạn khác nhau, hỗ trợ khác nhau…
và các thông tin này là thông tin bí mật giữa doanh nghiệp và đại lý, các đại lý khác không được biết.
Mô hình này, trong thực tế rất phong phú và không chỉ cho hệ thống đại lý, có thể vận dụng cho cả kiểu
mua đứt, bán đoạn nhưng nhiều lần. Hai điều kiện để áp dụng cho mô hình này là các thành viên chia sẻ
thông tin chung theo những quy định riêng của doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh có tính chất
lâu dài.
c) Mô hình mua hàng thông qua tập hợp các nhà cung cấp
Về công nghệ, mô hình mua hàng qua các nhà cung cấp là mô hình ngược với mô hình bán hàng qua hệ
thống đ¹i lý. Mô hình bán hàng qua hệ thống đại lý doanh nghiệp xây dựng catalogue và thông tin chung
rồi sau đó cho phép các thành viên tham gia được chia sẻ. Mô hình mua hàng qua các nhà cung cấp thì
doanh nghiệp không xây dựng catalogue mà các thành viên xây dựng các catalogue riêng của mình sau
đó đặt vào “chợ chung” để tạo nên catalogue chung.
Mô hình này được sử dụng để kiên kết các nhà cung cấp riêng lẻ thành một nhà cung cấp lớn và tạo nên
sức mạnh xâm nhập thị trường. Ví dụ một làng nghề có nhiều cơ sở sản xuất với nhiều mặt hàng khác
nhau. Mỗi cơ sở sản xuất xây dựng một catalogue sản phẩm riêng của mình và đặt tại site chung (chợ
chung) của cả làng. Chợ chung sẽ có hàng nghìn sản phẩm và sẽ đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu của
khách hàng khi họ ghé thăm. Tuy nhiên mô hình vẫn đảm bảo là khách lựa chọn sản phẩm của cơ sở
nào thì khách sẽ làm việc với cơ sở đó một cách riêng tư. Ở đây các cơ sở đóng vai trò các nhà cung
cấp.
d) Mô hình hỗn hợp mở rộng extended site (XS)
Do trong thực tế một doanh nghiệp thường có nhiều khách hàng với các tính chất công việc khác nhau,

5. Site chuyên cho xuất khẩu
6. Site chuyên giới thiệu sản phẩm mới …
Tuy mở nhiều site, nhưng DN sản xuất ô tô chỉ cần dùng 1 catalogue chung, các site tuỳ theo yêu cầu mà
sử dụng một phần tài nguyên của catalogue chung này. Khi sử dụng chung catalogue, doanh nghiệp có
thể khai báo để các site mở thêm này (site phụ) phù hợp với yêu cầu kinh doanh. Ví dụ có thể đưa thêm
vào site cho tổng đại lý các chính sách, giá cả, khuyến mãi, lịch trình cấp hàng cũng như các yêu cầu
riêng về kinh doanh, các hỗ trợ về kỹ thuật … để hỗ trợ cho quản lý, kinh doanh một cách tích cực. Thực
chất doanh nghiệp khi thực thi XS có thể kiến tạo site theo yêu cầu riêng của mình và cấp quyền cho các
site con do mình tạo ra.
Mô hình kinh doanh theo kiểu XS là một mô hình cho phép DN sử dụng tối đa cơ sở vật chất của nhà
cung cấp dịch vụ nhưng vẫn đảm bảo được bí mật kinh doanh của mình như trường hợp đầu tư xây
dựng mạng kết nối Internet riêng. Điều này cho phép tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả. Ngoài ra nó có
tác dụng thúc đẩy nhanh phát triển của thương mại điện tử do những đòi hỏi về xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật (phần cứng, phần mềm, thiết bị đầu nối…) đã có những đơn vị chuyên đảm nhận, doanh nghiệp
có điều kiện tập trung cho công việc kinh doanh.
e) Mô hình bán đấu giá
Bán đấu giá nhằm xác định tiềm năng của thị trường đối với một mặt hàng hoặc xác định mức giá đối với
một sản phẩm. Đôi khi nó còn dùng như một công cụ xúc tiến thương mại cho sản phẩm mới.
Có nhiều kiểu bán đấu giá:
• Open cry – tất cả các bidder (người tham gia đấu giá) biết các thông tin của nhau.
• Sealed bid – thông tin của các bidder chỉ người quản trị được biết, tất cả các bidder
không biết các thông tin về giá của nhau.
• Dutch – Không yêu cầu bidder đặt giá khởi điểm mà người quản trị đặt giá và thông báo
tới các thành viên tham gia đấu giá để xem ai chấp thuận giá này không. Thông thường sẽ
đặt ra một giá cao sau đó giảm dần tới khi có bidder đồng ý mua.
f) Mô hình gọi thầu
Việc tổ chức đấu thầu là một quá trình công phu đòi hỏi phải chuẩn bị kỹ càng và có sự tham gia của Nhà
nước. Các văn bản pháp quy về đấu thầu còn phải được cụ thể hoá trong trường hợp đấu thầu qua
mạng. Đó là điều kiện và cũng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả của đấu thầu qua mạng. Hàn Quốc là nước
có kinh nghiệm trong tổ chức đấu thầu mua sắm công. Hàng năm họ thẩm định và phân loại các công ty

nghiệp, quốc gia và quốc tế. Những đòi hỏi của thương mại điện tử là một tổng thể của hàng chục vấn đề phức tạp
đan xen vào nhau trong một mối quan hệ hữu cơ; và bao gồm:
Hạ tầng cơ sở công nghệ
Chỉ có thể tiến hành thực tế và một cách có hiệu quả thương mại điện tử khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ
thông tin đủ năng lực, bao gồm hai nhánh: tính toán (computing) và truyền thông (communications), hai nhánh này
ngoài công nghệ thiết bị còn cần phải có một nền công nghiệp điện tử vững mạnh làm nền; và hiện nay đang có xu
hướng đưa cả công nghệ bảo mật và an toàn vào cơ sở hạ tầng công nghệ của thương mại điện tử. Đòi hỏi về hạ
tầng cơ sở công nghệ bao gồm hai mặt: một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiết bị, hai là tính phổ cập về
kinh tế (đủ rẻ tiền để đông đảo con người có thể thực tế tiếp cận được).
Hạ tầng cơ sở nhân lực
Hoạt động thương mại, theo đúng nghĩa của chữ "thương mại" trong "thương mại điện tử", liên quan tới mọi người,
từngười tiêu dùng đến doanh nghiệp, phân phối, Chính phủ, các nhà công nghệ, nên việc áp dụng thương mại điện
tử tất yếu đòi hỏi đa số con người phải có kỹ năng thực tế ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả, có
thói quen làm việc trên máy tính, trên mạng máy tính, và cần phải có một đội ngũ chuyên gia thông tin đủ mạnh.
Bảo mật, an toàn
Giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử, trong đó mọi dữ liệu (kể cả chữ ký) đều ở dạng số hoá, đặt ra
yêu cầu nghiêm ngặt về tính bảo mật, an toàn, tránh mất tiền, lừa gạt, thay đổi thông tin, xâm nhập dữ liệu, v.v là
các rủi ro ngày một lớn, không chỉ với người buôn bán, mà cả với người quản lý, với từng quốc gia, vì các hệ thống
điện tử có thể bị kẻ xấu (thường gọi là "hacker") xâm nhập, đòi hỏi phải có các hệ thống bảo mật, an toàn được thiết
kế trên cơ sở kỹ thuật mã hóa hiện đại, và một cơ chế an ninh hữu hiệu (nhất là đối với các hệ thống có liên quan tới
an ninh quốc gia). Ngoài ra, còn có nhu cầu ngày càng tăng vì giữ gìn bí mật riêng tư.
Hệ thống thanh toán tự động
Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế và có hiệu quả khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính ở
mức độ phát triển đủ cao, cho phép tiến hành thanh toán tự động (trong đó "thẻ thông minh") có vai trò đặc biệt quan
trọng trong kinh doanh bán lẻ; khi chưa có hệ thống này, thì thương mại điện tử chỉ giới hạn trong khâu trao đổi tin
tức, còn việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc qua các phương tiện thanh
toán truyền thông; hiệu quả sẽ thấp, rất có thể không đủ bù đắp chi phí trang bị phương tiện thương mại điện tử.
Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Giá trị của sản phẩm ngày nay tập trung ở "chất xám"; tài sản của con người, của quốc gia, đang quy dần về "tài sản
chất xám", thông tin trở thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ trở thành bảo vệ sở hữu trí tuệ. Vì thế trong

có tính kinh tế, và việc làm thương mại điện tử với nước ngoài sẽ bị hạn chế).
Lệ thuộc công nghệ
Hoa Kỳ đang khống chế toàn bộ công nghệ thông tin trên thế giới, cả phần cứng cũng như phần mềm (bao gồm
phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng), chuẩn công nghệ Internet, các phần mềm tìm kiếm và trình duyệt chủ
yếu cũng là của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đã đi đầu và có nhiều thực tiễn về kinh tế số hóa và thương mại điện tử. Một khi
thương mại được số hóa thì toàn thế giới sẽ chịu sự khống chế công nghệ Hoa Kỳ và các nước tiên tiến gần với Hoa
Kỳ, là điều có thể đưa tới nhiều hệ quả.
Thương mại điện tử bao trùm một phạm vị rộng lớn các hoạt động kinh tế xã hội, và hạ tầng cơ sở của nó là một
tổng hòa phức hợp của hàng chục mặt vấn đề; cho nên,tuyệt đối không nên nhìn nhận thương mại điện tử đơn thuần
chỉ là việc dùng phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi buôn bán truyền thống, mà nên hiểu rằng một khi chấp
nhận và áp dụng thương mại điện tử thì toàn bộ hình thái hoạt động của một đất nước sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo
dục, cả tập quán làm việc và sinh hoạt hàng ngày.
O.VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TMDT
Các vấn đề pháp lý trong TMĐT liên quan đến nhiều chế định pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch hoặc là những
người đã quen biết nhau từ trước. Còn trong TMĐT, các chủ thể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và
không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
Các giao dịch thương mại truyền thống được phân định rõ ràng về ranh giới quốc gia, trong khi đó TMĐT
lại được thực hiện trong môi trường hay thị trường phi biên giới. Tuy nhiên TMĐT không thể thực hiện
được nếu không có người thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng. Nếu như trong thương mại truyền
thống mạng lưới là phương tiện để trao đổi thông tin thì trong TMĐT mạng Internet chính là một thị
trường. Do vậy các vấn đề pháp lý nảy sinh trong thị trường ảo là hoàn toàn khác.
1.6.1. Các vấn đề pháp lý trong TMĐT
1.6.1.1. Trước hết là vấn đề pháp lý trong đảm bảo an toàn và độ tin cậy cho các giao dịch TMĐT.
An toàn và tin cậy là các yếu tố mà người tham gia TMĐT phải cân nhắc trước khi quyết định tham gia.
Nếu người sử dụng cảm thấy thông tin về giao dịch của họ không được đảm bảo an toàn, có thể bị sửa
đổi, có thể bị khám phá trái phép họ sẽ không tham gia TMĐT. Do đó, cần phải có hạ tầng viễn thông an
toàn, trên đó có các phương tiện để bảo vệ thông tin, tránh khám phá, sử dụng trái phép và một hành
lang pháp lý đầy đủ phân định rõ ràng trách nhiệm của các chủ thể tham gia TMĐT ở tất cả các công
đoạn của giao dịch thương mại mà tính an toàn, độ tin cậy bị đe doạ như máy trạm, máy chủ, đường

Nói chung các loại hợp đồng đều có thể giao kết qua mạng, tuy nhiên cũng có một số loại hợp đồng theo
quy định của pháp luật phải thể hiện bằng văn bản, có công chứng, đăng ký. Luật pháp các nước đều
không phủ nhận giá trị pháp lý của hợp đồng ảo chỉ vì nó là dạng dữ liệu (bản ghi điện tử).
Có nhiều loại hợp đồng trong không gian ảo, đó là hợp đồng hàng hoá, dịch vụ và các dịch vụ số hoá.
Hàng hoá khi chào bán trên mạng phải đảm bảo chất lượng. phù hợp với mục đích sử dụng, an toàn và
không có khuyết điểm nhỏ. Sẽ không được coi là có khuyết điểm nhỏ nếu như người bán chỉ ra cho
người mua trước khi ký kết hợp đồng. Cung cấp dịch vụ chính là cung cấp sức lao động, kỹ năng. Việc
mua một phần mềm tại cửa hàng thì phần mềm là hàng hoá, còn hợp đồng với một công ty tin học thuê
viết một phần mềm thì đó là hợp đồng cung cấp dịch vụ. Dịch vụ số hoá là người bán có thể gửi cho
người mua các loại sản phẩm như băng video, âm nhạc, sách báo, phần mềm… qua mạng Internet.
1.6.1.5. Các yêu cầu hình thức văn bản, chữ ký, văn bản gốc
Có một số loại giao dịch pháp luật quy định phải thực hiện bằng văn bản. Các loại giao dịch này thường
là giao dịch về tài sản có đăng ký. Các loại giao dịch mà pháp luật đòi hỏi hình thức văn bản phải là văn
bản trên giấy sẽ không tiến hành qua mạng. Giống như các văn bản trên giấy, các giao dịch TMĐT khi
cần phải có chữ ký để ràng buộc chủ thể với nội dung tài liệu. Chữ ký điện tử sẽ được sử dụng trong
những trường hợp như vậy. UNCITRAL đã nêu luật khung về chữ ký điện tử để các nước tham chiếu khi
xây dựng luật của mình.
Đảm bảo tính nguyên vẹn (bản gốc) của tài liệu trong TMĐT là một nhu cầu. Đối với những tài liệu về
quyền sở hữu hay giấy tờ có giá (như vận đơn) khi quyền đi liền với việc chiếm hữu tài sản đó, thì điều
cơ bản là đảm bảo rằng bản gốc phải ở trong tay người có quyền sở hữu tài sản mà giấy tờ thể hiện.
Trong TMĐT con người có thể tạo được các bản sao giống hệt như bản gốc một cách dễ dàng. Điều
quan trọng là tập dữ liệu do một người khởi tạo không bị thay đổi về nội dung, hay nói cách khác là đảm
bảo sự nguyên vẹn của dữ liệu.
1.6.1.6. Thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp điện tử
Thời gian giao kết rất quan trọng để xác định thời điểm bắt đầu nghĩa vụ của các bên. Do các bên trong
TMĐT không quen biết nhau, ở xa nhau, liên lạc với nhau qua mạng nên xác định thời điểm giao kết
thương mại là khó khăn và các bên rất dễ hiểu khác nhau về thời điểm giao dịch. Điều đó dễ dẫn đến các
tranh chấp.
Người được chào hàng có thể chấp nhận lời chào hàng và theo đó tạo ra một hợp đồng trực tiếp. Sự
phản hồi của khách hàng chấp nhận đơn chào hàng là sự trả giá. Trường hợp này người mua là người

• Singapore: Luật giao dịch điện tử, năm 1998
1.6.2.1. Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử
Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế
của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những
quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho
những tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử. Luật mẫu có thể được sử dụng như
một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật về thương mại điện tử của mình.
Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý
và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao
dịch bằng phương tiện điện tử. Luật mẫu được soạn thảo dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
• Tài liệu điện tử có thể được coi là có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạng văn bản nếu thoả
mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;
• Tự do thoả thuận hợp đồng;
• Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;
• Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợp
đồng; những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng được thi hành
phải được tôn trọng;
• Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung : luật chỉ áp dụng đối với hình
thức hợp đồng mà không đề cập nội dung, trên cơ sở phải thoả mãn những đòi hỏi pháp
lý nhất định;
• Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước. Nhiều quốc gia đã thể hiện các nguyên
tắc và nội dung của luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật quốc gia của nước mình.
1.6.2.2. Luật thương mại điện tử của một số nước trên thế giới
Xây dựng khung pháp lý cho TMĐT là việc rất cấp thiết. Để hỗ trợ các hoạt động TMĐT, nhiều nước trên
thế giới đều đã xây dựng khung pháp lý riêng, dựa trên những khái niệm và những nguyên tắc cơ bản
của bộ luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ Ban Pháp luật thương mại quốc tế – Liên hợp quốc (UN
Commision on International Trade Law – UNCITRAL) soạn thảo năm 1996. Bộ luật mẫu này cung cấp
các nguyên tắc có tính quốc tế, giải quyết một số trở ngại, nhằm tạo ra môi trường an toàn về pháp lý
cho các hoạt động thương mại điện tử.
Biểu 2.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status