Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài: Một số kinh nghiệm làm đồ dùng
LQVT cho trẻ lứa tuổi MGL
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, môn học làm quen
với toán ( LQVT ) ở lớp mẫu giáo lớn ( MGL ) đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp những kiến thức ban đầu cho trẻ trước khi vào trường tiểu học. Nếu ngay
từ khi học mẫu giáo, trẻ đã nắm vững các khái niệm đơn giản về số lượng, kích
thước, hình dạng, định hướng không gian, thì sau này trẻ sẽ vững vàng, tự tin khi
tiếp nhận những kiến thức của môn toán học ở lớp một.
Trong quá trình cho trẻ làm quen với toán ở lớp mẫu giáo, giáo viên là
người hướng dẫn, gợi mở, tổ chức cho trẻ làm quen và thực hành trên các đồ dùng
học tập nhằm hình thành và phát triển các thao tác của tư duy như: so sánh, phân
tích, tổng hợp…góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Bên cạnh đó,giáo
viên cần thực hiện nguyên tắc dạy học theo phương pháp đổi mới: lồng ghép, tích
hợp các nội dung giáo dục một cách phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất trong
học tập.
Trong quá trình hướng dẫn trẻ MGL LQVT, tôi nhận thấy: muốn cho trẻ
học tập đạt kết quả cao thì vấn đề đồ dùng đồ chơi trong tiết học hay trong giờ
chơi ở góc toán phải được coi trọng vì đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo mang tính
trực quan hành động hay nói cách khácmuốn tiếp thu được kiến thức thì trẻ phải
được thực hành, hoạt động với các đồ vật, đồ chơi. Việc trẻ tự tay biết làm ra
những sản phẩm cho giờ học sẽ giúp trẻ biết trân trọng, giữ gìn, yêu quí đồ dùng,
đồ chơi và càng hứng thú khi tham gia vào các tiết học. Như vậy, đồ dùng đồ chơi
có ý nghĩa rất quan trọng trong giờ học LQVT của trẻ.Tôi đã đọc tài liệu, học hỏi,
suy nghĩ và tìm tòi để làm và khai thác được nhiều ưu thế của đồ dùng dạy toán
cho trẻ MGL. Sau đây, tôi xin trình bày kinh nghiệm của mình với đề tài: “ Một số
kinh nghiệm làm đồ dùng LQVT cho trẻ lứa tuổi MGL ”. Phạm vi thực hiện đề tài
này là lớp mẫu giáo số 9 trường mầm non Mai Dịch.
Như chúng ta đã biết, đặc trưng của môn toán là tính chính xác và khoa học.
Mỗi tiết học cung cấp cho trẻ một kiến thức khác nhau và đòi hỏi phải có những
đồ dùng đồ chơi khác nhau, phù hợp với nội dung và hình thức tổ chức tiết học.
Ví dụ: Trong bài dạy các khối vuông, chữ nhật, cầu,trụ, tôi đã đưa ra trò
chơi “ Tìm nhà ” ở phần luyện tập. Để đáp ứng nôi dung trò chơi này, trước đó tôi
phải sưa tầm một số nguyên vật liệu có dạng các khối cần dạy như vỏ hộp, thùng,
lon bia, bóng nhựa… rồi làm những ngôi nhà có gắn các khối để trẻ chạy về nhà.
Trẻ chơi rất hứng thú.
2.2: Khi làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ LQVT phục vụ cho một nội dung
dạy,giáo viên phải suy nghĩ, tìm tòi để làm ra các cặp đồ dùng đồ chơi có mối
quan hệ lôgíc, hợp lý.
Như vậy, giáo viên mới có thể cung cấp được kiến thức chính xác, khoa
học, phù hợp với chủ điểm.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Số 6 – tiết 1 ” trong chủ điểm “ Thế giới động vật ”, tôi
đã chọn cặp đối tượng thỏ và cà rốt để dạy trẻ lập số. Tôi chọn cặp đối tượng trên
vì những lí do sau:
- Đúng chủ điểm đang thực hiện.
- Thỏ và cà rốt có quan hệ lôgíc với nhau: Cà rốt là thức ăn mà thỏ rất ưa thích.
Trẻ đang lập số với cặp đối tượng Thỏ và Cà rốt
2.3: Khuyến khích trẻ làm một số đồ dùng học tập cùng cô.
Công việc này tuy đơn giản nhưng có giá trị rất lớn:
-Khắc sâu kiến thức toán mà trẻ đã học trên tiết học.
-Củng cố kĩ năng tạo hình của trẻ.
-Tạo hứng thú cho trẻ khi được sử dụng những đồ dùng do mình làm ra
trong tiết học.
-Giáo dục trẻ ý thức biết trân trọng và giữ gìn sản phẩm do chính mình làm
ra.
-Dạy trẻ về hình dạng.
-Dạy trẻ về kích thước.
2.5: Tận dụng các nguyên liệu dễ kiếm, rẻ tiền để làm các đồ dùng học
tập.
Việc tận dụng các nguyên liệu dễ kiếm, rẻ tiền để làm các đồ dùng giúp
giáo viên vừa có điêù kiện tiết kiệm chi phí làm đồ dùng đồ chơivừa có thể phối
hợp cùng phụ huynh trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. ( Phụ huynh đóng góp, ủng
hộ giáo viên các nguyên liệu cũ ).
Tuy nhiên khi lựa chọn vật liệu làm đồ dùng đồ chơi cần chú ý:
- Lựa chọn các vật liệu sạch, đảm bảo an toàn.
- Tận dụng các vật liệu phổ biến, rẻ tiền.
- Nguyền vật liệu dễ huy động được từ phụ huynh học sinh.
- Vật liệu có màu sắ đẹp, kích thước vừa phải với tầm tay trẻ.
Ví dụ: Tôi dùng lịch cũ để cho trẻ làm quen với các khái niệm về thời gian
và các số tự nhiên; dùng bìa, cốc nhựa, giấy màu, bút màu, vải vụn để làm búp bê
các loại cho trẻ học về số lượng, chiều cao, kích thước…
Một số đồ dùng, đồ chơi tự tạo của môn làm quen với toán
2.6: Các đồ dùng cho trẻ LQVT do giáo viên làm phải đảm bảo tính
thẩm mỹ, an toàn trong sử dụng và có độ bền cao.
Như chúng ta đã biết, đặc trưng của trẻ mầm non là thích khám phá.Vì thế
các đồ dùng đồ chơi làm ra phải đảm bảo an toàn, không gây thương tích cho trẻ,
không bị biến hình, hư hỏng khi trẻ sử dụng.Và đặc biệt nếu các đồ dùng đồ chơi
đẹp mắt thì trẻ sẽ rất hứng thú với tiết học.
Khi làmđồ dùng học tập, tôi thường phối kết hợp nhiều màu sắc để tạo ra
đồ dùng đẹp, sinh động, hợp với sở thích của trẻ. Chất liệu tôi thấy bền, đẹp và giá
thành thấp là xốp màu. Chính vì vậy, tôi thường sử dụng xốp màu để tạo ra đồ
dùng đồ chơi phong phú cho trẻ.
-Có đồ dùng, đồ chơi phong phú, hấp dẫn, trẻ được nâng cao hơn về kiến
thức, giờ học, giờ chơi diễn ra thuận lợi, thích thú, đã bổ sung và củng cố kiến
thức cho trẻ một cách nhẹ nhàng, đạt hiệu quả cao.
-Với những kiến thức hấp thu được qua hoạt động làm đồ dùng đồ chơi
môn LQVT và hoạt động học trên lớp, trẻ MGL lớp tôi phụ trách đã phát triển tốt
về tư duy, tự tin, thông minh hơn khi nhận xét, phát biểu và giao tiếp với mọi
người.
Kết quả được thể hiện rất rõ qua việc đánh giá nhận thức của trẻ về môn
LQVT đầu năm và cuối nặm học 07 – 08 như sau:
Kết
quả
Giai
đoạn
Tốt Khá
Trung
bình
Yếu
I/năm
học 07- 08:
44 trẻ
16/44
= 36,4%
20/44
= 45,4%
5/44
= 11,4%
3/44
= 6,8%
trong lớp, trong trường mầm non Mai Dịch, rất mong được sự góp ý của chị em
đồng nghiệp và các đồng chí lãnh đạo.