Lời mở đầu
***
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, kế toán là một công cụ quan
trọng phục vụ cho việc quản lý nền kinh tế cả về mặt vi mô và vĩ mô, một công cụ không thể
thiếu trong quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và điều đó còn quan trọng hơn
khi đất nước đang trong quá trình mở cửa hợp tác và hội nhập với xu thế phát triển của toàn
thế giới. Những năm gần đây chúng ta có thể thấy được sự thay đổi từng ngày trên mọi miền
đất nước. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
hàng năm được đánh giá là cao trong khu vực. Các thành phần kinh tế trong nước tăng nhanh
cả về số lượng và khả năng kinh doanh. Điều đó làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong nước trở nên hết sức sôi động. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng muốn thắng
lợi trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Một trong những biên pháp giúp cho doanh
nghiệp đó là phải làm thế nào để tạo ra sản phẩm với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng và đặc biệt sản phẩm đó phải có giá thành hạ. Khi doanh nghiệp
có thể tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá cả thấp thì đây sẽ là vũ khí cho doanh nghiệp
nhanh chóng tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường cũng như khẳng định được uy tín
chất lượng của sản phẩm.
Nhận thức được tầm quan trọng của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, các
doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để giảm chi phí về hạ giá thành sản phẩm. Nhưng làm thế
nào để có được điều đó trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt thì không phải
doanh nghiệp nào cũng làm được. Nó đòi hỏi sự cố gắng của từng cá nhân trong doanh
nghiệp và tài năng của nhà quản lý.
Gía thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động
sản xuất kinh doanh, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn trong quá
1
trình sản xuất, các biện pháp kỹ thuật mà doanh nghiệp thực hiện nhằm tiết kiệm chi phí và
hạ giá thành sản phẩm.
Xét dưới góc độ kinh tế, việc hạ giá thành góp phần tiết kiệm của cải cho xã hội, tăng tích
luỹ cho nền kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nhanh chóng hoàn thành sự
nghiệp công nghiêph hoá hiện đại hoá đất nước.
Trên cơ sở lý luận được học tập tại nhà trường và thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất
8-TK Tài khoản
9-CP NVLTT Chi phi nguyên vật liệu trực tiếp
10-CP NCTT Chi phí nhân công trực tiếp
11-CP SXC Chi phí sản xuất chung
12-CP DD Chi phí dở dang
13-TSCĐ Tài sản cố định
14-PX Phân xưởng
15-GTGT Giá trị gia tăng
Phần I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT.
3
1.1.Sự cần thiết phải tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
1.1.1. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Tại các doanh nghiệp sản xuất điều quan trọng nhất trước hết là giá thành sản phẩm, vì
giá thành sản phẩm là sự biểu hiện bằng tiền của các chi phí sản xuất cho một khối lượng
sản phẩm nhất định. Trong cơ chế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh nào cũng đều ý thức được tầm quan trọng của một nguyyen tắc hết sức cơ bản
trong chế đọ hạch toán kinh doanh là: “ Làm thế nào để chi phí bỏ ra ít nhất nhưng phải
đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất “. Nghĩa là khi lấy thu bù chi phải có lãi. Hiện nay hầu
như không có sự độc quyền về giá dưới mọi hình thức mà ngược lại trong cơ chế thị
trường các doanh nghiệp còn phải dùng giá bán như một vũ khí để cạnh tranh. Do vậy
một doanh nghiệp muốn có chỗ đứng trên thị trường thì phải luôn tìm cách nâng cao chất
lượng sản phẩm và phải hạ đựoc giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, quản lý chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được các nhà doanh nghiệp quan tâm và đó là nội
dung quan trọng hàng đầu trong bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất nào. Quản lý chi phí
không khoa học, không chặt chẽ dẫn tới việc lãng phí NVL … làm tăng chi phí, tăng giá
thành sản xuất và có thể đẩy doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản.
- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng
trách nhiệm từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế
toán các yếu tố chi phí và tính giá thành sản phẩm.
5
- Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toán phù
hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng yêu cầu thu nhận, xử
lý hệ thống hoá thông tin về chi phí, giá thành sản phẩm.
-Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, của
các bộ phận kế toán có liên quan và bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm.
-Tổ chức lập và phân tích báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm, cung cấp những
thông tin cần thiết về chi phí, giá thành giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được
các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm.
1.2. Lý luận chung về chi phí sản xuất.
1.2.1. Khái niệm và bản chất của chi phí sản xuất.
1.2.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tính trong thời kỳ nhất định ( tháng, quý, năm )
1.2.1.2. Bản chất của chi phí sản xuất.
Qúa trình hoạt động kinh doanh là quá trình kết hợp của 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối
tượng lao động và sức lao động của con người. Trong đó người lao động với sức lao động
của mình sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm
cho xã hội. Vì vậy quá trình hoạt động của kinh doanh cũng là quá trình tiêu hao của các
yếu tố trên. Nghĩa là sự hình thành nên các chi phí kinh doanh để tạo ra giá trị sản phẩm
là một yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà sản xuất.
Do đó, quá trính hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể khái quát với 3
giai đoạn cơ bản:
+ Qúa trình mua sắm, chuẩn bị các yếu tố đầu vào của quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh.
+ Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến phục vụ và quản
lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất. Bao gồm các yếu tố chi phí sản
xuất sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả, các
khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản xuất.
- Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với
mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất.
- Chi phí dụng cụ: Bao gồm chi phí về CCDC dùng ở phân xưởng để phục vụ sản xuất
và quản lý phân xưởng.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các
phân xưởng sản xuất.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung cho
hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất.
- Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và
quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất.
( b) Chi phí ngoài sản xuất:
+ Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và
quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn donh nghiệp.
* Chi phí khác:
Là các khoản chi phí liên quan đến các hoạt động ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh
chức năng của doanh nghiệp. Bao gồm:
8
+ Chi phí hoạt động tài chính.
+ Chi phí bất thường.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Chi phí khác bằng tiền.
1.2.2.2.Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất.
tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận trong kỳ mà chúng phát sinh.
Bao gồm: chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí thời kỳ phát sinh ở
thời kỳ nào thì tính ngay vào kỳ đó và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận mà chúng phát
sinh, được ghi nhận trên báo cáo kết quả kinh doanh.
1.2.2.4. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khả năng quy nạp chi phí vào các
đối tượng kế toán chi phí ( Theo phương pháp quy nạp)
* Chi phí trực tiếp:
Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí ( như
từng loại sản phẩm, công việc đơn đặt hàng….) Chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho
từng đối tượng chịu chi phí. Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi
phí, chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác.
* Chi phí gián tiếp:
10
Là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau, nên
không thể quy nạp trực tiếp được mà phải tập hợp, quy nạp cho từng doanh thu theo
phương pháp phân bổ gián tiếp.
1.2.2.5. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh.
* Chi phí cơ bản:
Là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm như:
Chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí khấu hao TSCĐ dùng trực tiếp
vào sản xuất sản phẩm.
* Chi phí chung:
Là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý sản xuất có tính chất chung như: Chi
phí quản lý ở các phân xưởng sản xuất, chi phí quản lý doanh nghiệp.
1.3. Gía thành sản phẩm và các loại giá thành sản phẩm.
1.3.1. Khái niệm và bản chất của giá thành sản phẩm.
1.3.1.1. Khái niệm giá thành sản phẩm.
Gía thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống cần
thiết và lao động vật hoá được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm , lao vụ, dịch
1.4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chi phí sản
xuất chính là cơ sở để tính giá thành sản phẩm.
12
Bởi vì ta thấy rằng đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xet thì quá trình sản
xuất là một quá trình sản xuất liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một
điểm cắt có tính chất chu kỳ, để so sánh chi phí với khối lượng hoàn thành.
Tại thời điểm tính giá thành, có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành,
chứa đựng một chi phí cho nó, đó là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
Tương tự như vậy, đầu kỳ có thể có một khối lượng chưa hoàn thành, chứa đựng một
lượng chi phí cho nó. Đó là chi phí dở dang đầu kỳ. Như vậy giá thành sản phẩm hoàn
thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ trước chuyển sang và một phần
chi phí phát sinh trong kỳ:
Gía thành
Sản phẩm
= CPSXdở
dang đầu kỳ
+ CPSXphát
sinh trong kỳ
- CPSX dở dang
cuối kỳ
Trong nhiều trường hợp, chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm là một. Như trường
hợp doanh nghiệp sản xuất loại sản phẩm không có sản phẩm dở đầu kỳ và cuối kỳ, kỳ
hạch toán với chu kỳ sản xuất phù hợp với nhau. Trong hạch toán không phải trích trước
chi phí, không có những chi phí phát sinh một lần quá lớn phải phân bổ dần. Ví Dụ như: (
Điện, bưu chính viễn thông…..)
1.5. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp ban đầu.
1.5.1. Hạch toán ban đầu ( chứng từ ban đầu )
+ Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01- VT )
+ Phiếu xuất kho ( Mẫu số 02- VT )
14
Kết cấu:
+ Bên nợ: Tổng hợp các chi phí phát sinh trong kỳ.
+ Bên có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất.
Tổng giá thành thực tế đã hoàn thành.
+ Dư nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, dở dang chưa hoàn thành.
1.5.3. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
1.5.3.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Xác định kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc kế toán tổ chức chi phí
sản xuất. Thực chất của việc xác đinh đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi
gây ra chi phí ( Phân xưởng, bộ phận sản xuất….) hoặc đối tượng chịu chi phí sản xuất
( sản phẩm, đơn đặt hàng….)
Khi xác định đôíư tượng kế toán chi phí sản xuất, trước hết các nhà quản trị căn cứ vào
mục đích sử dụng của chi phí, sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh
doanh, quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản
xuất sản phẩm, khả năng trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong
các doanh nghiệp sản xuất có thể là:
+ Từng sản phẩm , chi phí sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn dặt hàng.
+ Từng phân xưởng, từng giai đoạn công nghệ sản xuất.
+ Toàn bộ quy trình sản xuất toàn doanh nghiệp.
+ Xác định đối tượng chi phí một cách khoa học, hợp lý lè cơ sở để tổ chức kế toán chi
phí sản xuất, từ việc tổ chưc ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài
khoản, sổ chi tiết….
Các chi phí phát sinh, sau khi đã tập hợp xác định theo các đối tượng kế toán chi phí
sản xuất, sẽ là cơ sở tính giá thành sản phẩm theo đối tượng đã xác định.
15
1.5.3.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất được sử dụng trong kế toán chi phí sản xuất để
tập hợp và phân bổ cho từng đối tượng kế toán chi phí đã xác định.
kho, các chứng từ khác có liên quan để xác định giá vốn của số NVL dùng cho sản xuất.
Trên cơ sở đó, kế toán tập hợp chi phí NVL trực tiếp cho từng đối tượng kế toán chi
phí sản xuất cũng như từng đối tượng sử dụng trong doanh nghiệp, công việc này được
thực hiện trong bảng “ Bảng phân bổ NV
17
Sơ đồ 1: Trình tự hạch toán chi phí NVL trực tiếp
TK152 TK621 TK152
Xuất NVL để sản xuất NVL sử dụng không hết
Chế tạo sản phẩm nhập lại kho
TK111,112,331 TK154
Mua NVL chuyển
Ngay vào sản xuất Cuối kỳ kết chuyển chi phí
Thực tế tính giá thành SP
TK133
VAT đầu vào
18
1.5.4.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất sản phẩm ( hay trực tiếp thực hiện các công việc ở các phân xưởng như: Tiền lương
chính, lương phụ , các khoản phụ cấp có tính chất lương, các khoản BHXH,
BHYT,KPCĐ do người sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí sản xuất kinh
doanh, theo một tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất.
Theo quy định hiện nay, tỷ lệ trích theo lương tính vào chi phí nhân công trực tiếp
được áp dụng như sau:
+ BHXH: Nhà nước quy định doanh nghiệp phải trích bằng 20% mức lương tối thiểu
và hệ số lương của người lao động.
TK334,TK338 TK627 TK154
Chi phí nhân viên Kết chuyển chi phí SXC
để tính giá thành sản phẩm
TK 152,153
Chi phí dụng cụ vật liệu
TK 214
Chi phí khấu hao TSCĐ
TK111,112,331
Chi phí dịch vụ mua ngoài
1.5.4.4. Kế toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp.
Các chi phí có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm hay cung cấp lao vụ ở các
phân xưởng, bộ phận sản xuất đã hạch toán riêng theo các khoản mục chi phí cấu thành
nên giá thành sản phẩm cần phải được tổng hợp lại theo từng đối tượng tập hợp chi phí.
Từ đó kết hợp với tình hình, kết quả sản xuất sản phẩm ở các phân xưởng, bộ phận sản
21
xuất mà tính giá thành thực tế của những sản phẩm công việc hay lao vụ hoàn thành trong
kỳ.
(a) Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKTX.
Sơ đồ 4: Trìng tự hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất (KKTX).
TK 621 TK154 TK152,111
Kết chuyển CPNVL TT Các khoản ghi giảm CPSP
TK622 Tổng giá TK 155
Kết chuyển CPNCTT thành thực tế Nhập kho SP
Sản phẩm hoàn thành
TK627 lao vụ, TK 157
Kết chuyển CPSXC dịch vụ, Gửi bán thẳng
Hoàn SP hoàn thành
Thành TK 632
trong Xuất bán TT
kỳ SP hoàn thành
- Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất coá tính chất đơn chiếc như: đóng tàu, sửa chữa ô
tô….. thì mỗi sản phẩm, công việc hoàn thành là đối tượng tính giá thành.
- Nếu sản xuất chế tạo mang tính hàng loạt như sản xuất máy công cụ, chế tạo xe
máy…. thì đối tượng tính tính giá thành cần phải căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất
sản phẩm của doanh nghiệp.
Mặt khác, khi xác định đôí tượng tính giá thành còn phải căn cứ vào quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì
23
đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Nếu quy trình công
nghệ phức tạp kiểu liên tục thì đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm ở giai đoạn
cuối cùng, có thể là bán thành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn. Nếu quy trình sản xuất
phức tạp kiếu song song thì đối tượng tính giá thành là từng chi tiết, bộ phận sản xuất sản
phẩm hoàn thành hay sản phẩm cuối đã hoàn thành.
1.6.2. Đánh gíá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
* Sự cần thiết phải đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:
- Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quá trình chế
biến, đang nằm trong dây chuyền công nghệ, hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế
biến, nhưng vẫn phải gia công, chế biến tiếp mới trở thành sản phẩm.
Các doanh nghiếp sản xuất thường có quy trình sản xuất liên tục và xen kẽ lẫn nhau,
nên ở thời điểm cuối tháng, cuối quý, cuối năm, thường có một khối lượng sản phẩm
đang sản xuất dở dang. Trong trường hợp này, chi phí đã tập hợp trong kỳ không chỉ liên
quan đến sản phẩm, công việc đã hoàn thành trong kỳ mà còn liên quan đến cả những sản
phẩm công việc đang sản xuất dở dang. Như vậy, muốn tính đựoc giá thành cho sản
phẩm, công việc hoàn thành nhập kho trong kỳ ta phải tiến hành đánh giá sản phẩm dở.
Việc đánh giá sản phẩm dở hợp lý là một trong những nhân tố quyết định đến tính
trung thực, độ chính xác đến gía thành sản xuất sản phẩm trong kỳ.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất về quy trình công nghệ…. để vận dụng
phương pháp đánh gía sản phẩm dở dang cuối kỳ thích hợp. Dưới đây lá một số phương
pháp đánh giá sản phẩm dở dang:
1.6.2.1.Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí NVL chính trực tiếp hoặc
mà còn phải xác định mức độ hoàn thành của chúng. Trên cơ sở quy đổi sản phẩm làm dở
cuối kỳ ra số sản phẩm hoàn thành tương đương để tính toán, xác định chi phí cho sản
phẩm làm dở cuối kỳ.
- Đối với các khoản chi phí bỏ vào một lần ngay từ đầu quy trình sản xuât: ( NVLTT,
NVL Chính TT )
Gía trị sản
phẩm dở
cuối kỳ
=
Gía trị SP làm
dở đầu kỳ +
Chi phí phát
sinh trong kỳ x
Số lượng
Sản phẩm
Dở cuối kỳ
Số lượng SP
hoàn thành
+ Số lượng SP dở
cuối kỳ
- Đối với các khoản chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất
25