LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hoá, sản phẩm của doanh
nghiệp sản xuất là để tiêu thụ trên thị trường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
con người trong xã hội. Vì thế tiêu thụ hàng hoá là một khâu quan trọng thể
thiếu trong quá trình: sản xuất - trao đổi - phân phối - tiêu dùng.
Mặt khác, với bất kỳ doanh nghiệp nào trên thị trường thì mục đích
cuối cùng là thu lợi nhuận cao nhất. Mà điều này chỉ có thể thực hiện được
khi kết thúc giai đoạn tiêu thụ thành phẩm của doanh nghiệp. Như vậy, tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá có một ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp.
Hiện nay nước ta đang trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp được tự do cạnh tranh, tự chủ trong quản lý, và chịu trách nhiệm về
toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì điều tối cần thiết là phải
tìm cách xúc tiến việc tiêu thụ sản phẩm của mình để đạt hiệu quả tốt nhất.
Xuất phát từ mặt lý luận và thực tiễn đặt ra cho công tác kế toán
bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong các doanh nghiệp nói chung và
Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội nói
riêng, sau khi đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu tình hình thực tế về công tác
này ở Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội
em đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng ở Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực
phẩm Hà Nội" làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm
và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp sản xuất.
Chương II: Thực tế công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng tại Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà nội.
Chương III: Một số ý kiến đânh giâ, nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn
thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ
phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà nội.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài viết của em không
tránh khỏi những sai sót .Em mong nhận được sự góp ý từ thầy cô và các
3
khâu cuối cùng trong chu trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Tiêu thụ thành
phẩm có thể thoả mãn được nhu cầu của các đơn vị khác hoặc của cá nhân
trong và ngoài doanh nghiệp. Thành phẩm cũng có thể được cung cấp giữa
các đơn vị trong cùng một công ty, một tập đoàn, trường hợp này được gọi là
tiêu thụ nội bộ.
Tiêu thụ thành phẩm là việc đưa thành phẩm từ lĩnh vực sản xuất vào
lĩnh vực lưu thông để thực hiện việc tiêu dùng theo những mục đích đã xác
định khi bắt đầu sản xuất. Quá trình tiêu thụ thành phẩm là quá trình thực
hiện giá trị sử dụng của thành phẩm thông qua quan hệ trao đổi. Trong quan
hệ này, doanh nghiệp chuyển nhượng cho người mua thành phẩm của mình
và thu lại ở người mua số tiền hàng tương ứng với giá trị của số thành phẩm
đó.
- Theo quy định của chế độ tài chính kế toán tại Việt Nam :
Trong quan hệ trao đổi hàng tiền giữa doanh nghiệp với người mua thì
thời điểm doanh nghiệp có thể ghi nhận doanh thu bán hàng phụ thuộc vào
phương thức thanh toán mà doanh nghiệp áp dụng. Ứng với mỗi phương
thức thanh toán khác nhau thì thành phẩm khi chuyển đi được xác định là
tiêu thụ khác nhau.
+ Trường hợp 1: Doanh nghiệp giao hàng cho người mua và đã tu
được tiền ( có thể bằng tiền mặt, séc ...) thì số thành phẩm đã giao đó được
gọi là tiêu thụ.
Trường hợp này gồm 2 khả năng:
. Doanh nghiệp giao hàng cho người mua và thu tiền ngay tại
thời điểm đó.
. Người mua ứng trước tiền hàng cho doanh nghiệp.
4
+ Trường hợp 2: Thành phẩm chuyển cho khách hàng và đã được
khách hàng chấp nhận thanh toán nhưng hiện tại doanh nghiệp vẵn chưa
nhận được tiền hoặc giấy báo của ngân hàng thì vẫn coi là tiêu thụ.
hồi được lượng vốn đã đầu tư vào sản xuất, tăng nhanh vòng quay của vốn
và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.
Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tiêu thụ có một ý nghĩa quan
trọng, bởi tiêu thụ là yếu tố tạo tiền đề cho sản xuất và tiêu dùng, tạo nên sự
cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền và hàng lưu thông cho từng
ngành và giữa các ngành, các khu vực trong nền kinh tế.
1.4. Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ thành phẩm.
- Phản ánh kịp thời tình hình xuất bán thành phẩm và tình hình thanh
toán với người mua, tính chính xác các khoản bị giảm trừ và thanh toán với
ngân sách các khoản thuế phải nộp.
- Tính toán chính xác doanh thu bán hàng và các chi phí bán hàng phát
sinh trong quá trình tiêu thụ thành phẩm.
- Xác định kết quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm, lập báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh và tiến hành phân tích tình hình tiêu thụ tại doanh
nghiệp.
Sản xuất xã hội ngày càng được mở rộng và phát triển thì vai trò và
phạm vi của công tác kế toán ngày càng được nâng cao, do đó đòi hỏi việc tổ
chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải khoa học, hợp lý và không
ngừng được hoàn thiện, đặc biệt là công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và
kết quả xác định tiêu thụ thành phẩm. Với việc tổ chức khoa học và hợp lý
công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thu thành
6
phẩm sẽ cung cấp kịp thời cho lãnh đạo số liệu kế toán về tình hình biến
động của thành phẩm, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, giá bán và tiêu
thụ thành phẩm tại doanh nghiệp. Qua đó phát hiện kịp thời những thiếu sót,
mất cân đối ở từng khâu trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch, đảm bảo
sự cân đối giữa sản xuất & tiêu thụ và dự trữ trong toàn doanh nghiệp .
1.5. Các phương thức tiêu thụ sản phẩm :
Trong nền kinh tế thị trường việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện
bằng nhiều phương thức khác nhau . Theo đó các sản phẩm vận động từ
thời điểm mua một phần số tiền phải trả chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định.
Thông thường số tiền trả ở các kỳ bằng nhau, trong đó bao gồm một phần
doanh thu gốc và một phần lãi suất trả chậm.
- Phương pháp kế toán : ( phụ lục 6)
1.5.5 Các trường hợp được tính tiêu thụ khác :
Ngoài các phương thức tiêu thụ chủ yếu trên đây các doanh nghiệp
còn sử dụng vật tư, hàng hoá, sản phẩm để thanh toán tiền lương tiền thưởng
cho cán bộ công nhân viên chức, để trao đổi lấy hàng hoá khác ...
2. Kế toán doanh thu bán hàng.
Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ
kế toán phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Tùy thuộc vào doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng ( GTGT) theo
phương pháp khấu trừ thuế hay nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
mà doanh thu bán hàng được xác định khác nhau:
8
* Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ là toàn bộ
tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ ( chưa có thuế GTGT) bao gồm cả phụ
thu và phí thu thêm ngoài giá bán( nếu có) mà cơ sở kinh doanh được
hưởng.
* Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp trên GTGT và đối với hàng hóa dịch vụ không thuộc
đối tượng chịu thuế GTGT thì doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ là toàn
bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm
ngoài giá bán( nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng ( tổng giá thanh
toán – bao gồm cả thuế).
Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa có thể phát sinh các
khoản điều chỉnh giảm doanh thu bán hàng bao gồm:
• Doanh thu giảm giá hàng bán: Là số tiền doanh nghiệp phải trả cho
Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận cho khách hàng.
Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang TK 511
TK 521 không có số dư.
o TK 531 “ Hàng bán bị trả lại”. TK này phản ánh doanh thu của hàng
bán bị trả lại do lỗi của doanh nghiệp.
TK 531 có kết cấu:
Bên Nợ: Doanh thu hàng bán bị trả lại ( số tiền đã trả lại cho khách hàng
hoặc trừ vào số nợ phải thu của khách hàng)
10
Bên Có: Kết chuyển doanh thu hàng bán bị trả lại vào TK 511, 512 để xác
định doanh thu thuần.
TK 531 không có số dư.
o TK 532 “ Giảm giá hàng bán”. TK này phản ánh các khoản giảm giá,
bớt giá, khấu hồi của số sản phẩm, hàng hóa bán trong kỳ.
TK 532 có kết cấu:
Bên Nợ: Các khoản giảm giá hàng bán đã được chấp nhận.
Bên Có : Kết chuyển khoản giảm giá hàng bán sang TK 511, TK 512 để
xác định doanh thu thuần.
TK 532 không có số dư.
o TK 333 “ Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước”. TK này phản
ánh số thuế và các khoản phải nộp Nhà nước cũng như tình hình
thanh toán số thuế và các khoản phải nộp ch Nhà nước của doanh
nghiệp.
TK 333 có kết cấu cụ thể như sau:
Bên Nợ: Số thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp đã nộp cho Nhà nước.
Bên Có: Số thuế, phí, lệ phí và các khoản còn phải nộp Nhà nước.
3.Kế toán giá vốn hàng bán :
3.1 Khái niệm về giá vốn hàng bán.
Để xác định đúng kết quả tiêu thụ sản phẩm, hnàg hóa cần xác dịnh
đúng trị giá vốn hàng bán.
12
• Phương pháp nhập sau – xuất trước ( LIFO).
Theo phương này, khi xuất phải tính theo giá vừa nhập lần cuối cùng,
khi hết mới lần lượt đến các lô hàng nhập trước. Phương pháp này phù hợp
khi giá cả có xu hướng giảm thì giảm số xuất theo giá mới sẽ giảm chi phí,
hàng tồn kho tăng, mức lãi tăng. Phương pháp này có ưu điểm là công việc
tính giá được tiến hành thường xuyên trong kỳ, đơn giản hơn phương pháp
nhập trước – xuất trước. Tuy nhiên, trường hợp hàng hóa, giá cả biến động
mạnh thì việc tính giá theo phương pháp này ít chính xác và bất hợp lý.
• Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh.
Theo phương pháp này, giá thực tế của hàng xuất kho tiêu thụ căn cứ
vào đơn giá thực tế của lô sản phẩm nhập kho theo từng lô hàng, từng lần
nhập, tức là xuất lô nào thì tính giá trị của lô đấy.
Phương pháp này phản ánh chính xác từng lô hàng xuất nhưng công
việc rất phức tạp đòi hỏi thủ kho phải lắm được chi tiết từng lô hàng.
Phương pháp này được áp dụng cho các loại hàng hóa có giá trị cao, các loại
hàng hóa đặc biệt.
3.3 Chứng từ kế toán sử dụng
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
3.4 Tài khoản sử dụng.
Để phản ánh trị giá hàng bán và việc kết chuyển trị giá vốn hàng bán
để xác định kết quả tiêu thụ, kế toán sử dụng tàI khoản 632 “ Giá vốn hàng
bán”.
TK 632 có kết cấu như sau:
Bên Nợ: - Trị giá vốn thành phẩm, hàng hóa tồn kho đầu kỳ.
( Trường hợp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
13
- Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trên mức
bình thường và chi phí sản xuất cố định tính vào giá vốn hàng bán.
+ TK 6415 : Chi phí bảo hành.
+ TK 6417 : Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK 6418 : Chi phí bằng tiền khác.
4.1.3 Phương pháp kế toán: ( phụ lục 8 )
4.2.Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:
4.2.1 .Khái niệm:
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí phát sinh có liên quan
chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra
được cho bất kỳ hoạt động nào. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm
nhiều loại như chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí
chung khác.
4.2.2 Tài khoản sử dụng:
- Chi phí quản lý doanh nghiệp khi phát sinh được tập hợp theo từng yếu tố
như chi phí nhân viên, chi phí vật liệu .v.v...Các khoản chi này được kế
toán phản ánh trên TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”.
Bên nợ: Tập hợp toàn bộ chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh
trong kỳ.
Bên có: - Các khoản ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp.
TK 642 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành các tiểu khoản:
+ TK 6412: Chi phí nhân viên quản lý.
15
+ TK 6422: Chi phí vật liệu quản lý.
+ TK 6423: Chi phí đồ dùng văn phòng.
+ TK 6424: Chi phí khấu hao TSCĐ.
+ TK 6425: Thuế và phí, lệ phí.
+ TK 6426: Chi phí dự phòng.
+ TK 6427: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK 6428: Chi phí bằng tiền khác.
4.2.3 Phương pháp kế toán: (phụ lục 9 )
TK 911 cuối kỳ không có số dư.
- TK421- “Lãi chưa phân phối”: TK này được dùng để phản ánh kết quả
kinh doanh (lãi, lỗ và số phân phối).
Bên nợ: Số lỗ về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân phối số lãi.
Bên có: Số lãi về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.
Xử lý các khoản lỗ.
Dư nợ: Phản ánh số lỗ hay số phân phối vượt quá số lãi tạo ra.
Dư có: Số lãi chưa phân phối.
TK 421 có hai tài khoản cấp hai:
-TK 4211: Lãi chưa phân phối năm trước.
-TK 4212: Lãi chưa phân phối năm nay.
- Ngoài ra còn sử dụng các tài khoản : TK 511, TK 632, TK 641, TK 642…
5.4 Trình tự kế toán: (phụ lục 10).
CHƯƠNG II
THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QỦA BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN KINH
DOANH LƯƠNG THỰC – THỰC PHẨM HÀ NỘI.
I. Đặc điểm chung về công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực –
thực phẩm Hà Nội.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
17
Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội
( trước đây là Xí nghiệp bột Hoàng Mai ) là một nhà máy chế biến lương
thực, thực phẩm thuộc liên hiệp các Công ty lương thực Hà Nội, với nhiệm
vụ sản xuất chính là sản xuất mì ăn liền các loại phục vụ lương thực ăn
nhanh cho nhân dân.
Xí nghiệp bột Hoàng Mai được thành lập ngày 27/10/1967, có trụ sở tại
67A Trương Định – Hai Bà Trưng – Hà Nội.
Quá trình phát triển từ đó đến nay của công ty như sau;
Lãi Triệu đồng 200 350
Thu nhập bình quân tháng
của công nhân
Nghìn đồng 785 850
Ngoài nhiệm vụ sản xuất chính ra từ năm 1996 công ty còn sản xuất
nước giải khát cho công ty IBC.
Hiện nay, nguồn vốn của Công ty bao gồm: nguồn vốn cố định chiếm
72% ( 22,2642 tỷ đồng) và nguồn vốn lưu động chiếm 28% ( 8,6576 tỷ
đồng).
1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất
của công ty.
1.2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Hiện nay, Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm
Hà Nội có 296 công nhân viên với 3 phân xưởng: phân xưởng sản xuất mì
ăn liền, phân xưởng sản xuất nước ngọt, phân xưởng phụ trợ cơ điện.
Phân xưởng sản xuất mì ăn liền: gồm 120 công nhân, chia thành 9 tổ
sản xuất, phân xưởng này có nhiệm vụ sản xuất mì ăn liền các loại như: Mì
thùng, mì kg, mì tôm cao cấp, mì bò cao cấp…
19
Phân xưởng sản xuất nước ngọt: gồm 80 công nhân chia làm 4 tổ sản
xuất. Phân xưởng nước ngọt có nhiệm vụ sản xuất nước ngọt, các loại chai
và lon cho công ty nước giải khát IBC như: 7 UP, Crush, Pepsi…
Phân xưởng phụ trợ cơ điện: gồm 80 công nhân chia thành 4 tổ, chuyên
sửa chữa máy móc thiết bị khi hỏng và làm một số công việc khác nhau
nhằm phục vụ cho việc sản xuất của phân xưởng mì ăn liền và phân xưởng
nước ngọt. Việc sản xuất của 3 phân xưởng trên đều thực hiện theo 3 ca, mỗi
ca 8 tiếng.
1.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
Công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực phẩm Hà Nội là
đơn vị hạch toán độc lập trong liên hiệp các công ty lương thực – thực phẩm
Phòng Hành chính – Bảo vệ – Nhà ăn: có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ tài
sản toàn công ty, phục vụ ăn uống cho cán bộ công nhân của công ty.
2.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Đứng đầu phòng Tài vụ là trưởng phòng ( kế toán trưởng). Phòng này
được đặt dưới sự chỉ đạo của Giám đốc công ty. Bộ máy kế toán của công ty
có trách nhiệm: tổ chức thực hiện và kiểm tra toàn bộ công tác kế toán trong
phạm vi toàn công ty, giúp Giám đốc tổ chức các thông tin kinh tế, phát triển
hoạt động kinh doanh, thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu, chế độ
hạch toán và chế độ quản lý tài chính.
Để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ trên, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung
thống nhất của Trưởng phòng Tài vụ và phù hợp với quy mô sản xuất, đặc
điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, bộ máy kế toán của công ty hiện nay
được tổ chức như sau:
21
- Trưởng phòng Tài vụ ( Kế toán trưởng): Phụ trách chung công tác kế
toán, kiểm kê kế toán tổng hợp, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phảm trong tháng, xác định kết quả kinh doanh, theo dõi thanh
toán ngân sách, ghi sổ cái và lập các báo cáo tài chính.
- Kế toán Thanh toán: Theo dõi nhập – xuất quỹ, theo dõi tiền gửi ngân
hàng, tiền vay, theo dõi công nợ thanh toán với người bán, công nợ tạm ứng
với công nhân viên.
- Kế toán Nguyên vật liệu: Theo dõi tình hình nhập – xuất nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ, ghi chép vào sổ kế toán chi tiết – tổng hợp nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ.
- Kế toán Tài sản cố định ( TSCĐ): Theo dõi tình hình khấu hao, tăng –
giảm TSCĐ, tập hợp toàn bộ chi phí theo chi tiết từng phân xưởng.
- Kế toán Thành phẩm và tiêu thụ: Viết hóa đơn cho khách hàng, theo
dõi tình hình nhập kho thành phẩm, theo dõi tình hình công nợ của công ty
với khách hàng.
- Thủ quỹ: Thu – xuất tiền theo chứng từ hợp lệ.
và kiểm tra kế toán. Hàng ngày căn cứ chứng từ gốc phát sinh, kế toán ghi
chép các nghiệp vụ kinh tế theo trình tự thời gian, đồng thời phân biệt theo
hệ thống về tài khoản. Cuối tháng cộng số liệu các sổ sẽ có số liệu phát sinh
của từng tài khoản ghi vào sổ cái.
Tại các phân xưởng không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí
nhân viên quản lý làm nhiệm vụ thống kê, ghi chép ban đầu, tập hợp chứng
từ, lĩnh nguyên vật liệu đưa vào sản xuất đảm bảo chính xác khách quan số
liệu.
23
II. Thực tế công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng ở công ty cổ phần chế biến kinh doanh lương thực – thực
phẩm Hà Nội.
2.1 Kế toán giá vốn hàng bán
*Đối với giá thực tế thành phẩm xuất kho trong kỳ được tính theo
phương pháp " Giá bình quân cả kỳ dự trữ ".
Công thức tính như sau:
Giá thực tế Số lượng Giá đơn vị
thành phẩm = thành phẩm * bình quân
xuất kho trong kỳ xuất kho cả kỳ dự trữ
Giá đơn vị Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế TP nhập trong
kỳ
Bình quân =
Cả kỳ dự trữ Số lượng TP tồn đầu kỳ + số lượng TP nhập trong kỳ
VD: Tính giá thực tế xuất kho của sản phẩm mì gà cao cấp.
Căn cứ vào sổ chi tiết nhập kho phần số dư đầu tháng có được:
+ Giá thực tế tồn đầu kỳ: 54.081.120 đ
+ Số lượng tồn đầu kỳ : 3.684 Thùng
Căn cứ số lượng ghi Nợ TK 155 trên bảng kê tổng hợp nhập, xuất, tồn
kho thành phẩm để ghi nhận giá trị nhập trong kỳ.
+ Giá thực tế nhập trong kỳ : 277.478.880 đ
Có TK 155 : 305.600.000 đ
25