QL tiền lương tại XN giống gia súc gia cầm Bắc Ninh - Pdf 16

Chuyên đề thực tập
Mở đầu
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con ngời để tạo ra của cải
vật chất và các giá trị tinh thần xã hội . Lao động có năng suất, chất lợng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nớc. Lao động là một
trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là yếu tố quyết định nhất. Chi
phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản
phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động trong quá trình
sản xuất kinh doanh là tiết kiệm chi phí về lao động sống góp phần hạ thấp giá
thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện
nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho CNV, ngời lao động trong doanh
nghiệp.
Tiền lơng (hay tiền công) là một phần sản phẩm xã hội đợc Nhà nớc
phân phối cho ngời lao động một cách có kế hoạch, căn cứ vào kết quả lao
động mà mỗi ngời cống hiến cho xã hội biểu hiện bằng tiền nó là phần thù lao
lao động để tái sản xuất sức lao động bù đắp hao phí lao động của công nhân
viên đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tiền lơng gắn liền với thời
gian và kết quả lao động mà công nhân viên đã thực hiện, tiền lơng là phần thu
nhập chính của công nhân viên. Trong các doanh nghiệp hiện nay việc trả lơng
cho công nhân viên có nhiều hình thức khác nhau, nhng chế độ tiền lơng tính
theo sản phẩm đang đợc thực hiện ở một số doanh nghiệp là đợc quan tâm hơn
cả. Trong nội dung làm chủ của ngời lao động về mặt kinh tế, vấn đề cơ bản là
làm chủ trong việc phân phối sản phẩm xã hội nhằm thực hiện đúng nguyên
tắc phân phối theo lao động . Thực hiện tốt chế độ tiền lơng sản phẩm sẽ kết
hợp đợc nghĩa vụ và quyền lợi, nêu cao ý thức trách nhiệm của cơ sở sản xuất,
nhóm lao động và ngời lao động đối với sản phẩm mình làm ra đồng thời phát
huy năng lực sáng tạo của ngời lao động, khắc phục khó khăn trong sản xuất
Chuyên đề thực tập
và đời sống để hoàn thành kế hoạch. Trong cơ chế quản lý mới hiện nay thực
hiện rộng rãi hình thức tiền lơng sản phẩm trong cơ sở sản xuất kinh doanh có
ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp đi vào làm ăn có lãi, kích thích sản

Đối với thành phần kinh tế thuộc sởn hữu Nhà nớc, tập thể ngời lao
động từ giám đốc đến công nhân đều là ngời cung cấp sức lao động và đợc
Nhà nớc trả công. Nhà nớc giao quyền sử dụng quản lý t liệu sản xuất cho tập
thể ngời lao động. Giám đốc và công nhân viên chức là ngời làm chủ đợc uỷ
quyền không đầy đủ, và không phải tự quyền về t liệu đó. Tuy nhiên, những
đặc thù riêng trong việc sử dụng lao động của khu vực kinh tế có hình thức sở
hữu khác nhau nên các quan hệ thuê mớn, mua bán, hợp đồng lao động cũng
khác nhau, các thoả thuận về tiền lơng và cơ chế quản lý tiền lơng cũng đợc
thể hiện theo nhiều hình thức khác nhau.
Chuyên đề thực tập
Tiền lơng là bộ phận cơ bản (hay duy nhất) trong thu nhập của ngời lao
động, đồng thời là một trong các chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của
xí nghiệp.
Vậy có thể hiểu: Tiền lơng là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao
động, là giá cả yếu tố của sức lao động mà ngời sử dụng (Nhà nớc, chủ doanh
nghiệp) phải trả cho ngời cung ứng sức lao động, tuân theo nguyên tắc cung -
cầu, giá cả thị trờng và pháp luật hiện hành của Nhà nớc.
Cùng với khả năng tiền lơng, tiền công là một biểu hiện, một tên gọi
khác của tiền lơng. Tiền công gắn với các quan hệ thoả thuận mua bán sức lao
động và thờng sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các hợp đồng thuê
lao động có thời hạn. Tiền công còn đợc hiểu là tiền trả cho một đơn vị thời
gian lao động cung ứng, tiền trả theo khối lợng công việc đợc thực hiện phổ
biến trung những thoả thuận thuê nhân công trên thị trờng tự do. Trong nền
kinh tế thị trờng phát triển khái niệm tiền lơng và tiền công đợc xem là đồng
nhất cả về bản chất kinh tế phạm vi và đối tợng áp dụng.
* Bản chất, chức năng của tiền lơng.
- Các quan điểm cơ bản về tiền lơng
+ Quan điểm chung về tiền lơng
Lịch sử xã hội loài ngời trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác
nhau, phản ánh trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Nhà nớc quy định theo khu vực kinh tế quốc doanh và đợc áp đặt từ trên
xuống. Sở dĩ nh vậy là xuất phát từ nhận thức tuyệt đối hoá quy luật phân phối
theo lao động và phân phối quỹ tiêu dùng cá nhân trên phạm vi toàn xã hội.
Những quan niệm trên đây về tiền lơng đã bị coi là không phù hợp với
những điều kiện đặc điểm của một nền sản xuất hàng hoá.
- Bản chất phạm trù tiền lơng theo cơ chế thị trờng
Chuyên đề thực tập
Trong nhiều năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế nớc ta đã đạt đợc
những thành tựu to lớn. Song tình hình thực tế cho thấy rằng sự đổi mới một số
lĩnh vực xã hội còn cha kịp với công cuộc đổi mới chung nhất của đất nớc.
Vấn đề tiền lơng cũng cha tạo đợc động lực phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay có nhiều ý thức khác nhau về tiền lơng, song quan niệm thống
nhất đều coi sức lao động là hàng hoá. Mặc dù trớc đây không đợc công nhận
chính thức, thị trờng sức lao động đã đợc hình thành từ lâu ở nớc ta và hiện
nay vẫn đang tồn tại khá phổ biến ở nhiều vùng đất nớc. Sức lao động là một
trong các yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản, của quá trình sản xuất,
nên tiền lơng, tiền công là vốn đầu t ứng trớc quan trọng nhất, là giá cả sức lao
động. Vì vậy việc trả công lao động đợc tính toán một cách chi tiết trong hạch
toán kinh doanh của các đơn vị cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế. Để xác
định tiền lơng hợp lí cần tìm ra cơ sở để tính đúng, tính đủ giá trị của sức lao
động. Ngời lao động sau khi bỏ ra sức lao động, tạo ra sản phẩm thì đợc một
số tiền công nhất định.Vậy có thể coi sức lao động là một loại hàng hoá, một
loại hàng hoá đặc biệt.Tiền lơng chính là giá cả hàng hoá đặc biệt đó - hàng
hoá sức lao động.
Hàng hoá sức lao động cũng có mặt giống nh mọi hàng hoá khác là có
giá trị. Ngời ta định giá trị ấy là số lợng t liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra
nó. Sức lao động gắn liền với con ngời nên giá trị sức lao động đợc đo bằng
giá trị các t liệu sinh hoạt đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống (ăn, ở, học
hành, đi lại ...) và những nhu cầu cao hơn nữa. Song nó cũng phải chịu tác
động của các quy luật kinh tế thị trờng .

nó vẫn cha hết yếu tố bao cấp mang tính cứng nhắc và thụ động.
Chuyên đề thực tập
Ngày 23/5/1993 chính phủ ban hành các nghị định NĐ25/CP, NĐ26/CP
quy định tạm thời chế độ tiền lơng mới đối với các doanh nghiệp với mức tiền
lơng tối thiểu là 144.000 đ/ngời/tháng.
Những văn bản pháp lí trên đây đều xây dựng một chế độ trả lơng cho
ngời lao động, đó là chế độ trả lơng cấp bậc.
Tiền lơng cấp bậc là tiền lơng áp dụng cho công nhân căn cứ vào số l-
ợng và chất lợng lao động của công nhân.
Hệ số tiền lơng cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nớc mà
doanh nghiệp dựa vào đó để trả lơng cho công nhân theo chất lợng và điều
kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định.
Chế độ tiền lơng cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lơng giữa các
nghành, các nghề một cách hợp lí, hạn chế đợc tính chất bình quân trong việc
trả lơng, đồng thời còn có tác dụng bố trí công việc thích hợp với trình độ lành
nghề của công nhân.
Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các
thang lơng, mức lơng, hiện hành của Nhà nớc.
- Mức lơng: là lợng tiền trả cho ngời lao động cho một đơn vị thời gian
(giờ, ngày, tháng...) phù hợp với các cấp bậc trong thang lơng. Thông thờng
Nhà nớc chỉ quy định mức lơng bậc I hoặc mức lơng tối thiểu với hệ số lơng
của cấp bậc tơng ứng.
- Thang lơng: là biểu hiện xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lơng giữa các
công nhân cùng nghề hoặc nhiều nghề giống nhau theo trình tự và theo cấp
bậc của họ. Mỗi thang lơng đều có hệ số cấp bậc và tỷ lệ tiền lơng ở các cấp
bậc khác nhau so với tiền lơng tối thiểu.
+ Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức tạp
của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào
đó phải biết gì về mặt kỹ thuật và phải làm đợc gì về mặt thực hành.
Chuyên đề thực tập

K
1
: Hệ số điều chỉnh theo vùng (có 3 mức 0,3; 0,2; 0,1)
K
2
: Hệ số điều chỉnh theo ngành (có 3 nhóm 1,2; 1,0; 0,8)
Sau khi có hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa (K
đc
= K
1
+ K
2
), doanh
nghiệp đợc phép lựa chọn các hệ số điều chỉnh tăng thêm trong khung của
Chuyên đề thực tập
mình để tính đơn giá phù hợp với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mà giới hạn
dới là mức lơng tối thiểu chung do chính phủ quy định (tại thời điểm thực hiện
từ ngày 01/01/1997 là 144.000 đ/ tháng) và giới hạn trên đợc tính nh sau:
TL
minđc
= TL
min
x (1 + K
đc
)
Trong đó:
TL
min đc
: tiền lơng tối thiểu điều chỉnh tối đa doanh nghiệp đợc phép
áp dụng;

+ Tiền lơng tuần: là tiền lơng trả cho một tuần làm việc xác định trên cơ
sở tiền lơng tháng nhân (x) với 12 tháng và chia (:) cho 52 tuần.
+ Tiền lơng ngày: là tiền lơng trả cho một ngày làm việc xác định trên
cơ sở tiền lơng tháng chia cho 26 ngày.
+ Tiền lơng giờ: Là tiền lơng trả cho một giờ làm việc và đợc xác định
bằng cách lấy tiền lơng ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn theo quy định của luật
lao động (không quá 8 giờ/ ngày)
Do những hạn chế nhất định của hình thức trả lơng theo thời gian (mang
tính bình quân, cha thực sự gắn với kết quả sản xuất) nên để khắc phục phần
nào hạn chế đó, trả lơng theo thời gian có thể kết hợp chế độ tiền thởng để
khuyến khích ngời lao động hăng hái làm việc.
IV.2. Tiền lơng theo sản phẩm
Tiền lơng theo sản phẩm là hình thức trả lơng cho ngời lao động căn cứ
vào số lợng, chất lợng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lơng theo sản phẩm có thể
tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau nh trả theo sản phẩm trực tiếp không
hạn chế, trả theo sản phẩm gián tiếp, trả theo sản phẩm có thởng, theo sản
phẩm luỹ tiến.
IV.3. Tiền lơng khoán
Tiền lơng khoán là hình thức trả lơng cho ngời lao động theo khối lợng
và chất lợng công việc mà họ hoàn thành.
Ngoài chế độ tiền lơng, các doanh nghiệp còn tiến hành xây dựng chế
độ tiền thởng cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Tiền thởng bao gồm thởng thi đua (lấy từ quỹ khen thởng) và th-
ởng trong sản xuất kinh doanh (thởng nâng cao chất lợng sản phẩm, thởng tiết
kiệm vật t, thởng phát minh sáng kiến...)
Chuyên đề thực tập
Bên cạnh các chế độ tiền lơng, tiền thởng đợc hởng trong quá trình kinh
doanh, ngời lao động còn đợc hởng các khoản trợ cấp thuộc quỹ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế trong các trờng hợp ốm đau, thai sản... Các quỹ này đợc
hình thành một phần do ngời lao động đóng góp, phần còn lại đợc tính vào chi

lấy tên là Trạm truyền tinh nhân tạo Thuận Thành (Thuận Thành là một
huyện trực thuộc tỉnh Bắc Ninh) nhiệm vụ là nuôi và lấy tinh lợn ngoại phối
giống cho ra lợn lai kinh tế.
Chuyên đề thực tập
Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế
của đất nớc nói chung. Năm 1991 tỉnh Hà Bắc cho sáp nhập với trại lợn giống
cấp I Lạc Vệ (Tiên Sơn) và trạm tinh lợn Võ Cờng (BắcNinh) thành xí nghiệp
lợn giống Hà Bắc.
Từ đó đến nay mỗi năm xí nghiệp cung cấp hàng ngàn liều tinh lợn
giống các loại, lợn con giống từ 500-800 con, trọng lợng 8000-12000 Kg
Tháng 5/1996 tỉnh chỉ đạo xí nghiệp bàn giao đất đai, tài sản của trại
Lạc Vệ cho công ty nông sản Bắc Ninh. Số lợn Nái thuần chủng chuyển về trại
Thuận Thành nuôi, xí nghiệp còn có hai cơ sở là Bắc Ninh và Thuận Thành .
Tháng 8/1997 xí nghiệp đợc mang tên là xí nghiệp giống gia súc - gia
cầm Bắc Ninh cùng lúc đó xí nghiệp cần mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ
thuật, tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lý của xí nghiệp. Đứng trớc những khó
khăn đó CBCNV trong toàn xí nghiệp đã luôn đoàn kết gắn bó. Dới sự chỉ đạo
của chi bộ Đảng, ban giám đốc, xí nghiệp cùng các tổ chức đoàn thanh niên,
tổ chức công đoàn, tổ chức phụ nữ, phấn đấu không ngừng để sẵn sàng cạnh
tranh với cơ chế thị trờng và sự đi lên của đất nớc.
Thực hiện quyết định số1250 ngày 01/01/2001 của chủ tịch uỷ ban nhân
dân tỉnh về việc sát nhập xí nghiệp giống gia - súc gia cầm với công ty nông
sản Bắc Ninh.
I.2. Chức năng, nhiệm vụ của xí nghiệp.
* Chức năng: Chuyên sản xuất tinh lợn, sản xuất con giống về gia súc
- gia cầm. Sản xuất kinh doanh của xí nghiệp thăng trầm gần nh theo quy luật
của ngành nông nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên mùa vụ. Bên cạnh
đó vị thị trờng cạnh tranh nên không chủ động đợc kế hoạch thờng
gây nên lãng phí, đời sống CNCNV còn gặp nhiều khó khăn, một số hộ nông
dân kinh tế còn hạn hẹp không đủ điều kiên nuôi lợn nái.

Tài chính
kế toán
Tài chính
kế toán
Vật tư kho
quỹ
Chuyên đề thực tập
Chức năng chung của các phòng ban trong xí nghiệp là giúp giám đốc
nắm tình hình, giám sát, kiểm tra, nghiên cứu, xây dng chiến lợc chuẩn bị sản
xuất và phục vụ sản xuất, hớng dẫn công tác kỹ thuật, công tác nghiệp vụ cho
cán bộ chức năng và cấp quản lý phân xởng giúp thủ trởng trực tuyến chuẩn bị
và thông qua các quyết định kiểm tra quá trình hs chung, theo dõi để tổ chức
công việc không sai lệch về kỹ thuật và những điều kiện thời gian.
Mặc dù các phòng ban chức năng không có quyền đa ra quyết định đối
với cơ quan ngành dọc, tuy nhiên trong những công việc nhất định họ cũng
đuợc giao quyền trực tiếp chỉ đạo hớng dẫn đối với cán bộ chức năng và cấp
phân xởng, thậm chí đến tận công nhân sản xuất.
Bộ máy của xí nghiệp hiện nay đợc chia thành hai khối chính đó là
khối kỹ thuật và khối kinh doanh, mỗi khối do một phó giám đốc chịu phụ
trách trực tiếp của giám đốc, hớng dẫn đối với các phòng ban và cán bộ chức
năng cấp dới.
* Cơ chế hoạt động và chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận.
+ Giám đốc

Trích đoạn Hoàn thiện công tác quản lý tiền lơng tại xí nghiệp giống gia súc gia cầm Bắc ninh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status