Chấn thương ngực kín
(Kỳ 2)
4. GÃY XƯƠNG ỨC
- Trong chấn thương ngực ít gặp gãy xương ức, chỉ gãy khi chấn thương
trực tiếp lên mặt trước của xương ức. Ngoài ra có thể do chấn thương làm gập
mạnh xương ức lại như trong trường hợp gãy lún đốt sống.
- Bệnh nhân đau ở xương ức, khi thở sâu và ho thì càng đau hơn. Nếu hai
xương bị di lệch thì càng đau nhiều hơn và có một đường gờ nổi lên ở mặt trước
xương ức. Khi nắm sẽ thấy sự di động bất thường tại đầu xương ức ở tư thế
nghiêng.
- Chẩn đoán: quan trọng nhất là chụp xương ức ở tư thế nghiêng.
5. THƯƠNG TỔN CÁC TẠNG TRONG LỒNG NGỰC
5.1. Thương tổn nhu mô phổi:
- Vỡ phổi: cơ chế chưa được nghiên cứu rõ ràng, nhưng có thể là do lúc bị
chấn thương thanh hầu khép kín, đồng thời áp lực tăng đột ngột ở trong đường hô
hấp.
- Vỡ vùng mặt ngoài của phổi: Nếu có tràn máu và tràn khí màng phổi nhẹ
thì có thể tự khỏi, do chỉ có một số phế nang và mạch máu nhỏ bị thương tổn, ở
những thường hợp lớn hơn thì phải chọc hút, dẫn lưu.
- Vỡ nhu mô phổi ở sâu: thường ít gặp hơn, nhưng rất nặng. Bệnh nhân bị
tràn máu khí màng phổi nặng. Máu có thể chảy vào đường phế quản gây ho ra máu
và làm tắc đường hô hấp. Nhiều trường hợp bệnh nhân chết nhanh chóng.
Biện pháp cứu những trường hợp vỡ phổi lớn và chảy máu ồ ạt nói trên là
phải mổ ngay, cắt bỏ phổi vỡ nát hoặc vị xé rách đó đi.
5.2. Thương tổn đường hô hấp chính:
Thường do chấn thương trực tiếp: lồng ngực bị ép xuống và nén phế quản,
khí quản lên cột sống. Do đó hay gặp ở người trẻ, lồng ngực còn mềm mại, nhất là
ở trẻ em: xương ức có thể chạm vào cột sống mà không có gãy xương sườn.
- Nếu vỡ khí quản và phế quản gốc, bệnh nhân sẽ bị tràn khí trung thất, gây
nên rối loạn về huyết động. Bệnh nhân ở trạng thái ngạt và sốc, dễ chết do suy hô
hấp cấp.
5.4. Thương tổn mạch máu lớn:
+ Rách mạch máu của tiểu tuần hoàn:
Nếu rách mạch máu ở cuống phổi thì bệnh nhân thường chết ngay tại chỗ.
Nếu rách mạch máu ở thùy phổi thì có nhiều hy vọng cứu sống bệnh nhân, nếu
được xử trí sớm.
+ Rách mạch máu ở đại tuần hoàn: chủ yếu là rách động mạch chủ.
Bệnh nhân thường chết ngay, ở những trường hợp sống sót thì sẽ thấy cục
máu bao quanh động mạch chủ hoặc phồng động mạch chủ. Phần lớn các bọc máu
này to dần lên rồi vỡ, làm bệnh nhân chết. Thời gian vỡ có thể sớm (sau một vài
giờ) hoặc muộn hơn (sau vài tháng). Chỉ có một số rất ít trường hợp là được tổ
chức hoá.