Hoàn thiện địa ốc kế toán tại tổng Công ty địa ốc Sài Gòn - Pdf 16


1

MỞ ĐẦU

Tổng công ty nhà nước ở nước ta được hình thành trong quá trình sắp
xếp lại và đổi mới quản lý doanh nghiệp Nhà nước nhằm tách chức năng
quản lý kinh doanh ra khỏi quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước,
khai thác ưu thế của hình thức liên kết tập trung, hình thành những tổ chức
kinh tế có quy mô lớn, đủ sức thực hiện liên kết, liên doanh với các đối tác
khác trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh
doanh của Doanh nghiệp nhà nước, góp phần thực hiện vai trò điều tiết
kinh tế của Nhà nước.
Hiện nay đã có 91 Tổng công ty nhà nước (17 Tổng công ty theo mô
hình 91 và 74 Tổng công ty theo mô hình 90). So với toàn bộ các Doanh
nghiệp Nhà nước, cáùc Tổng công ty Nhà nước chiếm khoảng 30% số lượng
doanh nghiệp hiện có, 72% về vốn, 49,8% doanh thu, 68% về lao động và
80% tỷ trọng nộp ngân sách. Nhìn chung, các Tổng công ty nhà nước đã
bước đầu phát huy tác dụng trên các mặt như : bảo lãnh vay tín dụng, mua
sắm thiết bò và đầu tư công nghệ mới, điều hòa vốn giữa các công ty thành
viên, hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn…..Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề tồn tại
về mô hình tổ chức, về cơ chế quản lý và nhất là về chế độ hạch toán kế
toán cho mô hình Tổng công ty .
Nghò quyết Hội nghò TW 4 (Đại hội VIII) đã xác đònh " tổng kết mô
hình Tổng công ty nhà nước, trên cơ sở đó có phương án xây dựng các tổng
công ty thành tập đoàn kinh tế mạnh, có hiệu quả và sức cạnh tranh cao ,
thực sự là xương sống của nền kinh tế ". Tuy nhiên, đến nay chúng ta chưa
có một chỉ tiêu cụ thể để đánh giá một Tổng công ty hoạt động có hiệu
quả, một Tổng công ty có tình hình tài chính lành mạnh … Để đánh giá
được như vậy, trước tiên chúng ta phải dựa vào báo cáo tài chính hợp nhất
toàn Tổng công ty, nhưng hiện nay Nhà nước vẫn chưa có hướng dẫn về

kế toán áp dụng tại Tổng công ty và cho ngành kinh doanh đòa ốc ở Việt
Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
+ Nghiên cứu tình hình thực tế hệ thống kế toán tại Tổng công ty
đòa ốc Sài gòn.
+ Nghiên cứu các chế độ, thể lệ, quy đònh của Nhà nước ban hành
về kế toán tài chính, về đầu tư xây dựng, về luật đất đai.

+ Nghiên cứu các thông lệ, chế độ kế toán hiện hành và các chuẩn
mực kế toán, luật kế toán đang được Bộ tài chính dự thảo chuẩn
bò ban hành.

Bố cục của Luận văn :
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :
Chương I-Lý luận về Hệ thống kế toán .
Chương II- Thực trạng hệ thống kế toán tại Tổng công ty Đòa ốc Sài
Gòn.
Chương III-Hoàn thiện hệ thống kế toán tại Tổng công ty Đòa ốc Si
Gòn.

3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN I- Khái Niệm về Kế toán :
Kế toán được xây dựng như một ngành khoa học, được giảng dạy


4
Hiện nay, kế toán được phân đònh thành kế toán tài chính và kế toán
quản trò theo đònh hướng xử lý và cung cấp thông tin gắn liền với yêu cầu
quản lý nội bộ và đáp ứng cho nhu cầu của các đối tượng khác ở bên
ngoài. Kết quả của kế toán quản trò là hệ thống báo cáo nội bộ phục vụ
cho nhu cầu hoạch đònh, kiểm soát và ra quyết đònh của bản thân đơn vò kế
toán.
Kế toán tài chính là sự ghi chép số liệu kế toán từ chứng từ gốc vào
sổ kế toán và tổng hợp số liệu trên báo cáo tài chính những công việc đã
làm ở doanh nghiệp, qua đó những người trong và ngoài doanh nghiệp thấy
được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kế toán quản trò là một hệ thống chọn lọc, phân loại, tóm tắt phân
tích và cung cấp thông tin mà nó sẽ giúp người quaœn lý trong việc thực hiện
quyết đònh và kiểm soát hoạt động saœn xuất kinh doanh. Không như kế
toán tài chính, chuœ yếu báo cáo thông tin cho người bên ngoài doanh
nghiệp, Kế toán quản trò lập và kiểm soát hoạt động nội bộ, vì thế kế toán
quản trò yêu cầu sự chọn lọc và phân tích không chỉ tài liệu tài chính hay
chi phí mà còn tài liệu về giá caœ, dự trữ bán hàng, nhu cầu saœn phẩm,
nguồn năng lực, khối lượng và khaœ năng vật chất.
II- Vai trò của Kế toán :
Vai trò của kế toán là tạo ra thông tin về sự kiện kinh tế phát sinh từ
các hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường của nó. Kết quả của kế
toán được trình bày tốt nhất bởi mô hình thông tin, và được sắp xếp trên
báo cáo tài chính, với những ghi chú giải trình của quá trình lập báo cáo tài
chính và những thông tin khác của doanh nghiệp đã được kiểm toán.
Trong điều kiện nền kinh tế thò trường ở Việt Nam hiện nay, thông
tin kế toán không chỉ phục vụ cho các đối tượng trong nội bộ doanh nghiệp,
đối tượng quản lý kiểm tra, kiểm soát Nhà nước mà còn phục vụ cho các
đối tượng bên ngoài như : các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, nhân viên,

III- Hệ thống kế toán hiện hành tại Việt Nam :
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế và tạo ra
sự ổn đònh của môi trường kinh tế, hệ thống pháp luật tài chính, lành mạnh
hoá các quan hệ và các hoạt động tài chính, năm 1994 dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Thủ tướng Chính phủ, Bộ tài chính đã tiến hành nghiên cứu, xây
dựng hệ thống kế toán áp dụng cho các Doanh nghiệp. Sau khi được thử
nghiệm thực tế, tiếp thu những ý kiến, những phương án, những giải pháp
hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp và được Thủ tướng cho phép,
Bộ tài chính đã ban hành Hệ thống chế độ kế toán Doanh nghiệp áp dụng
thống nhất trong cả nước từ ngày 1/1/1996 bằng Quyết đònh
1411/TC/QĐ/CĐKT ngày 11/11/1995. Hệ thống chế độ kế toán mới ban
hành đồng bộ cả về chế độ chứng từ, sổ , tài khoản kế toán và báo cáo tài
chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tế. Hệ thống chế
độ kế toán này bao gồm những nội dung cơ bản sau đây :

6
1- Chứng từ kế toán :
Chứng từ kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ
kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành.
Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, trong việc sử dụng kinh phí và thu chi ngân sách của mọi đơn
vò kế toán đều phải lập chứng từ. Chứng từ phải lập theo đúng quy đònh và
phải ghi chép đầy đủ, kòp thời đúng với thực sự nghiệp vụ kinh tế tài chính
phát sinh.
Hệ thống chứng từ kế toán gồm hai phần :
- Hệ thống chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc : là hệ thống chứng
từ phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân hoặc có yêu cầu

+ Sổ Nhật ký : dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh trong từng kỳ kế toán và trong một niên độ kế toán
theo trình tự thời gian và quan hệ đối ứng tài khoản của các
nghiệp vụ đó . Số liệu kế toán trên sổ nhật ký phản ánh tổng số
phát sinh bên Nợ và bên Có của tất cả các tài khoản kế toán sử
dụng ở đơn vò.
+ Sổ Cái : dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh trong kỳ và trong niên độ kế toán theo các tài khoản kế
toán được quy đònh theo chế độ tài khoản kế toán áp dụng cho
doanh nghiệp. Số liệu kế toán trên sổ Cái phản ánh tổng hợp
tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
+ Sổ kế toán tổng hợp khác như : chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký
chứng từ ghi sổ (hình thức chứng từ ghi sổ ); sổ nhật ký chung,
sổ nhật ký thu tiền, sổ nhật ký chi tiền, sổ nhật ký bán hàng, sổ
nhật ký mua hàng (Hình thức nhật ký chung); sổ Nhật ký - sổ
cái (Hình thức Nhật ký - sổ cái); các Nhật ký chứng từ và các
bảng kê. (Hình thức nhật ký- chứng từ)
-
Sổ kế toán chi tiết : là sổ của phần kế toán chi tiết, bao gồm sổ và
thẻ kế toán chi tiết.
+ Sổ kế toán chi tiết : dùng để ghi chép các đối tượng kế toán cần
thiết phải theo dõi theo yêu cầu quản lý . Số liệu trên sổ kế toán
chi tiết cung cấp những thông tin phục vụ cho việc quản lý từng
tài sản, nguồn vốn, công nợ chưa được phản ánh trên sổ nhật ký
và sổ cái. Số lượng và kết cấu sổ kế toán chi tiết không quy đònh
bắt buộc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải căn cứ vào quy đònh
mang tính hướng dẫn trong chế độ kế toán của Nhà nước và yêu
cầu quản lý của doanh nghiệp để mở các sổ kế toán chi tiết cần
thiết, phù hợp.

Việc mở và ghi sổ kế toán phải phản ánh kòp thời, chính xác, đầy đủ,
trung thực, liên tục, có hệ thống tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh,
tình hình quản lý tài sản, tình hình sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp
nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho việc lập báo cáo tài chính của
doanh nghiệp.
Về chế độ sổ kế toán áp dụng cho ngành xây lắp ban hành theo
quyết đònh 1864/1998/QĐ/BTC ngày 16/12/1998 của Bộ trưởng Bộ tài
chính, cũng nội dung tương tự như chế độ kế toán ban hành theo quyết đònh
1411/TC/QĐ/CĐKT, tuy nhiên có sửa đổi và bổ xung thêm một số sổ chi
tiết cần thiết cho hoạt động xây lắp như : sổ giá thành công trình, hạng
mục công trình xây lắp, bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công….
3- Hệ thống tài khoản kế toán :
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp ban hành
theo quyết đònh 1411/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài
chính gồm 9 loại tài khoản ( phụ lục số 02 ). 9
-Tài khoản loại 1 -Tài sản lưu động : loại tài khoản này dùng để phản ánh
giá trò hiện có và tình hình biến động tài sản lưu động của
doanh nghiệp.
Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử
dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một năm hoặc một
chu kỳ kinh doanh. Tài sản lưu động của doanh nghiệp có
thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật, dưới dạng đầu
tư ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn.
-Tài khoản loại 2 -Tài sản cố đònh : loại tài khoản này dùng để phản ánh
giá trò hiện có và tình hình biến động tài sản cố đònh hữu
hình và vô hình của doanh nghiệp (bao gồn cả tài sản cố

ánh chi phí sản xuất, kinh doanh, tính giá thành sản
phẩm, lao vụ, dòch vụ (trường hợp doanh nghiệp áp dụng
phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê đònh kỳ), phản ánh giá trò hàng hóa vật tư mua
vào, giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dòch vụ bán
ra; phản ánh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp của các đơn vò sản xuất kinh doanh .
-Tài khoản loại 7 -Thu nhập Hoạt động khác : loại tài khoản này phản ánh
các khoản thu nhập khác của doanh nghiệp ngoài doanh
thu bán hàng. Những khoản thu nhập được phản ánh vào
tài khoản này bao gồm : Thu nhập hoạt động tài chính và
thu nhập bất thường.
-Tài khoản loại 8 - Chi phí hoạt động khác : loại tài khoản này phản ánh
các khoản chi phí của các hoạt động ngoài hoạt động
sản xuất, kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp. Những
khoản chi phí được phản ánh vào tài khoản này bao gồm
: chi phí hoạt động tài chính và chi phí bất thường.
-Tài khoản loại 9 -Xác đònh kết quả kinh doanh : Loại tài khoản này dùng
để xác đònh kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và
các khoản khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: Kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài
chính và kết quả bất thường.
Ngoài ra còn có tài khoản ngoài bảng (tài khoản loại 0) : dùng để
phản ánh những tài sản hiện có ở đơn vò nhưng không thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp như : Tài sản thuê ngoài; vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ,
nhận gia công; hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gởi. Đồng thời, phản ánh
các tài khoản đã phản ánh trong Bảng cân đối kế toán, nhưng cần theo dõi
để phục vụ yêu cầu quản lý như : Nợ khó đòi đã xử lý; Hạn mức kinh phí;
nguồn vốn khấu hao cơ bản.

việc đề ra những quyết đònh về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất,
kinh doanh, hoặc đầu tư ra ngoài doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp,
chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh
nghiệp.
+ Nội dung cơ bản của báo cáo tài chính :
Báo cáo tài chính quy đònh cho các doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu báo
cáo sau :
- Bảng cân đối kế toán - Mẫu số B01-
DN (phụ lục số 04 )
- Kết quả hoạt động kinh doanh - Mẫu số
B02-DN (phụ lục số 05 )
- Lưu chuyển tiền tệ - Mẫu số B03
–DN (phụ lục số 06 )
- Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số
B09-DN (phụ lục số 07 )

12
Tuy nhiên báo cáo Lưu chuyển tiền tệ tạm thời chưa quy đònh là báo
cáo bắt buộc, nhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử dụng báo
cáo này. Bảng cân đối kế toán :
Cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ giá trò tài sản hiện có và nguồn vốn hình thành tài sản đó của
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất đònh.
Số liệu trên bảng cân đối cho biết toàn bộ giá trò tài sản hiện có của
doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu của nguồn
vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ bảng Cân đối kế toán có thể
nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.


Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh khái quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế
toán của doanh nghiệp, chi tiết hoạt động kinh doanh chính và các
hoạt động khác ; tình hình thực hiện nghóa vụ với Nhà nước về thuế và
các khoản phải nộp khác. Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh gồm
2 phần :
Lãi (lỗ) : phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong
một kỳ kế toán của doanh nghiệp, bao gồm : kết quả hoạt động kinh
doanh và hoạt động khác.
Tình hình thực hiện nghóa vụ với Nhà nước :
phản ánh tình hình thực
hiện nghóa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác ,
bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn….) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo kế toán tổng hợp tình hình lưu
chuyển tiền trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Báo cáo này
cho biết dòng tiền tăng lên và giảm xuống liên quan đến các hoạt
động khác nhau cũng như những nhân tố tác động đến sự tăng giảm
của dòng tiền lưu chuyển.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng quan trọng trong việc phân
tích và đánh giá khả năng thanh toán, khả năng đầu tư, khả năng tạo
ra tiền cũng như việc giải quyết các mối quan hệ tài chính trong doanh
nghiệp. Có 2 phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là phương
pháp trực tiếp và gián tiếp. Phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền
tệ tương tự như trong quy đònh.
Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần như sau ;

Trong hệ thống báo cáo tài chính này có một số sửa đổi và bổ xung
cho phù hợp với hoạt động xây lắp, như trong biểu báo cáo Kết quả hoạt
động kinh doanh bổ xung thêm : Phần Giá thành, doanh thu công trình ,
hạng mục công trình xây lắp. (phụ lục số 08 )
Tuy nhiên, từ khi ban hành quyết đònh 1411/TC/QĐ/CĐKT đến nay ,
Bộ tài chính đã ban hành nhiều văn bản sửa đổi, bổ xung về chế độ kế
toán doanh nghiệp cho phù hợp với chính sách tài chính và các luật thuế
mới như : Thuế giá trò gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, chênh lệch tỷ
giá, hạch toán các khoản dự phòng… Do đó có một số quy đònh về kế toán
doanh nghiệp theo quyết đònh ban hành số 1411/TC/QĐ/CĐKT đã thay đổi
và nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, chưa được hệ thống, gây nhiều
khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước và cho cả doanh nghiệp. Chính
vì thế, Bộ tài chính đã ban hành chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp
mới theo quyết đònh số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/200, thay thế chế độ

15
báo cáo tài chính cũ đã ban hành theo quyết đònh số 1411/TC/QĐ/CĐKT.
Chế độ báo cáo tài chính mới này cũng bao gồm 4 biểu mẫu sau :
- Bảng cân đối kế toán - Mẫu số B01-
DN
- Kết quả hoạt động kinh doanh - Mẫu số
B02-DN
- Lưu chuyển tiền tệ - Mẫu số B03
-DN
- Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số B09-DN
Chế độ độ báo cáo tài chính này cũng có nội dung và phương pháp
lập tương tự như chế độ báo cáo tài chính ban hành theo quyết đònh
1411/TC/QĐ/CĐKT. Tuy nhiên có một vài sửa đổi như : Biểu kết quả kinh
doanh bổ xung thêm phần thuế Giá trò gia tăng được khấu trừ, được hoàn
giảm, miễn giảm phù hợp với luật thuế giá trò gia tăng hiện hành, và trong

Mục đích và Vai trò của Báo cáo kế toán quản trò :

Báo cáo kế toán quản trò cung cấp những thông tin kế toán cho các
nhà quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra. Nhà quản lý nhận
được thông tin này dưới các hình thức như : báo cáo doanh thu, báo cáo giá
thành, báo cáo chi phí, các dự toán, các báo cáo hoạt động hàng
tháng…..Báo cáo kế toán quản trò cung cấp những thông tin phục vụ cho
hai chức năng : hoạch đònh và kiểm soát.
Mục đích của báo cáo kế toán quản trò doanh nghiệp phải gắn liền
với mục tiêu hoạt động cụ thể của từng doanh nghiệp và các chức năng
quản lý nội bộ của nhà quản lý. Do mỗi loại hình hoạt động khác nhau,
nên việc quản lý những hoạt động này sẽ cần những thông tin phù hợp đối
với từng loại hoạt động, nhằm hướng đến mục tiêu đã xác đònh. Như vậy
có thể nói rằng, mục đích của báo cáo kế toán quản trò là nhằm cung cấp
những thông tin hữu ích phục vụ cho việc hoạch đònh, kiểm soát và ra
quyết đònh của nhà quản lý ở nhiều cấp độ khác nhau trong sự phù hợp với
đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp.

Nội dung cơ bản của báo cáo kế toán quản trò :

Tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của từng doanh nghiệp, từng
đơn vò nội bộ của doanh nghiệp mà hệ thống báo cáo quản trò có thể khác
nhau về số lượng mẫu biểu, danh mục các chỉ tiêu cũng như kết cấu của
báo cáo. Tuy nhiên hệ thống báo cáo quản trò phải phản ánh được những
thông tin cho quản lý doanh nghiệp theo các lónh vực hoạt động khác nhau,
phù hợp với mục tiêu hoạt động và chức năng quản lý của nhà quản trò. Vì
vậy, xét theo những góc độ khác nhau của việc quản trò doanh nghiệp,
thông tin trên báo cáo kế toán quản trò có thể được trình bày trên các loại
báo sau đây :

18

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG
TY ĐỊA ỐC SÀI GÒN

I-Giới Thiệu sơ lược về Tổng công ty đòa ốc Sài gòn:
Tổng công ty Đòa ốc Sài gòn được thành lập theo quyết đònh số
7363/QĐ-UB-KT ngày 23/12/1997 của UBND Thành phố. Hồ Chí Minh.
Tổng công ty Đòa ốc Sài gòn hoạt động theo quyết đònh 90/TTg ngày
07/03/1994 và Điều lệ số 3326/QĐ-UB-KT ngày 26/06/1998, có tư cách
pháp nhân, có các quyền và nghóa vụ theo luật đònh, tự chòu trách nhiệm về

các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài như : Cao ốc văn phòng cho thuê :
Habour View-35 Nguyễn Huệ, Ocean Palace - 80 Đông Du, Indochine Park
Tower- Xô Việt Nghệ Tónh, Sài gòn Sky -20 Lê Thánh Tôn, Sài gòn
Centre, Liên doanh điện VAV-UNION. Hiện nay đang xúc tiến thành lập
Công ty cổ phần phát triển hạ tầng và công ty quản lý nhà.
Những thuận lợi, khó khăn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của Tổng công ty những năm vừa qua :
Thuận lợi
:
Tổng công ty được thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển
nhà ở và tham gia quá trình đô thò hóa của Thành phố, do đó được sự
quan tâm sâu sát và sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân Tp. HCM, của
Bộ Xây dựng như được giao nhiều dự án, quỹ đất, trực tiếp thực hiện
các chương trình nhà ở theo kế hoạch của Thành phố.
Mặt khác, các công ty thành viên đã có quá trình và kinh
nghiệm trong lãnh vực xây dựng và lập dự án đòa ốc, do đó đã tạo
nhiều thuận lợi trong việc đònh hướng và phát triển Tổng công ty .

Khó khăn
:
Vào thời điểm Tổng công ty ra đời, cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ trong khu vực làm cho đầu tư trong lẫn ngoài nước giảm sút,
thò trường đòa ốc bò chựng lại, sức tiêu thụ bò giảm sút, khả năng
thanh toán của các tổ chức lẫn người dân chậm, chính vì thế đã ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty .
Các công ty thành viên tập trung từ nhiều nguồn khác nhau, một
số công ty trực thuộc quận, huyện, một số công ty trực thuộc Sở nhà
đất nên có sự khác biệt rất lớn về trình độ quản lý, cán bộ, nguồn
vốn, cơ sở vật chất và quy mô hoạt động.
Vốn ít, vừa hạn chế các công ty thành viên trong việc đầu tư các

53.900
85.600
1.250.000
996.000
55.600
75.500
1.300.000

II-Thực trạng hệ thống kế toán tại Tổng công ty đòa ốc Sài Gòn :
Bộ máy kế toán tại văn phòng Tổng công ty và các đơn vò thành viên
được tổ chức theo phòng, có kế toán trưởng hoặc trưởng phòng kế toán chòu
trách nhiệm điều hành công tác tài chính kế toán tại đơn vò . Số lượng cán
bộ kế toán tùy thuộc vào quy mô kinh doanh của từng đơn vò. Trình độ kế
toán tại các đơn vò thành viên không đồng đều . Tổ chức kế toán tại các
đơn vò thành viên chủ yếu là tập trung.
Chế độ kế toán được áp dụng tại Tổng công ty và các đơn vò thành
viên :
- Niên độ kế toán : bắt đầu từ ngày 01/01 đến ngày 31/12.
- Đơn vò sử dụng trong ghi chép kế toán : Việt Nam Đồng (VNĐ).
- Phương pháp kế toán TSCĐ :
. Nguyên tắc đánh giá : theo nguyên giá.(giá mua thực tế+chi phí
vận chuyển, lắp đặt ban đầu)
. Phương pháp khấu hao : thực hiện theo Quyết đònh 166/1999/QĐ
-BTC của Bộ tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu
hao cơ bản TSCĐ. Đa số các công ty thành viên đều khấu hao
theo đường thẳng, ngoại trừ các Xí nghiệp bê tông tươi khấu hao
theo khối lượng.
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho :
. Nguyên tắc đánh giá : sử dụng giá thực tế trong ghi chép kế
toán đúng theo quy đònh của Nhà nước.

- Chưa có bảng chấm công đối với nhân viên quản lý, chứng từ
ghi sổ không đánh số mà chỉ ghi ngày, hoặc không ghi đầy đủ
các nội dung theo mẫu quy đònh.
- Không đònh khoản trên phiếu thu, chi do đó rất khó khăn trong
công tác kiểm tra, kiểm soát.
- Tại một số công trình, khi thi công vật tư được xuất nhập trước,
sau đó mới lập phiếu nhập xuất vật tư sau.
- Chứng từ kế toán thanh toán ( hóa đơn mua hàng, phiếu nhập..)
ở đội thi công không đúng với khối lượng thực tế thi công. Hầu
hết các đơn vò có chức năng xây lắp đều khoán cho đội ( theo
tỷ lệ % giá trò dự toán công trình) .

22
2-Sổ sách kế toán :
Các công ty thành viên đều mở sổ sách kế toán theo chế độ kế toán
ban hành tại quyết đònh số 1141-TC/QĐ/CĐKT. Sổ sách được ghi chép,
cập nhật, cụ thể, rõ ràng. Đa số các công ty thành viên mở sổ sách phù hợp
với loại hình hoạt động của mình, do đó dễ dàng trong việc ghi chép sổ
sách kế toán. Tuy nhiên còn tồn tại nhiều hình thức kế toán trong Tổng
công ty, một số công ty thành viên mở sổ sách kế toán theo hình thức
chứng từ ghi sổ, một số là hình thức nhật ký sổ cái, nhật ký chung.
Tuy có mở sổ tổng hợp và chi tiết để theo dõi, nhưng công tác ghi
chép và quản lý sổ sách kế toán ở các công ty thành viên còn tồn tại như
sau :
- Sổ kế toán chưa được đánh số, chưa đầy đủ chữ ký và đóng dấu giáp
lai theo quy đònh, do đó dễ dàng trong việc chỉnh sửa số liệu kế toán.
Một số công ty thành viên mở sổ kế toán không theo mẫu quy đònh.

Hệ thống tài khoản kế toán và phương pháp hạch toán kế toán được
các công ty thành viên áp dụng tương tự như trong ngành công nghiệp
được ban hành theo quyết đònh số 1141-TC/QĐ/CĐKT.


25

• Thực trạng hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đòa ốc tại các công ty thành viên :

621,622,623 154 632 911 511 111,131,112.. (2) (4)
(5) (7) (8) 627
(
1’)

Trích đoạn Moơt Sô Kiên nghị nhaỉm hoàn thieơn heơ thông kê toán tái Toơng cođng ty Đôi với Nhà nước : Tài lieơu tham khạo :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status