CHẨN ĐOÁN MỜ MẮT
(Kỳ 3)
c- Xuất huyết dịch kính:
Ở mức độ xuất huyết nặng, mắt đột nhiên bị giảm thị lực đồng thời xuất
hiện những chấm đen (mưa bồ hóng) kèm theo chớp sáng trước mắt. Đó là hậu
quả của sự tràn máu vào dịch kính và thường là do máu từ những chỗ xuất huyết ở
võng mạc, cũng như trên, mắt không hề đỏ và đau.
Khám mắt thấy phản xạ đồng tử với ánh sáng vẫn còn, ánh đồng tử mất và
không thể soi được đáy mắt. Trên kính hiển vi với đèn khe có thể thấy các hồng
cầu ở trong dịch kính ngay sau thể thuỷ tinh.
Cần soi đáy mắt bên mắt còn lại để có được những dữ liệu tốt cho việc tìm
căn nguyên. Siêu âm là xét nghiệm tốt nhất để chẩn đoán cả tình trạng chảy máu
và tìm nguyên nhân xuất huyết. Các căn nguyên hay gặp của xuất huyết dịch kính
có thể là:
- Các bệnh mạch máu võng mạc: Bệnh võng mạc tăng sinh do đái tháo
đường (hay gặp nhất), tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc hoặc các nhánh của tĩnh
mạch trung tâm võng mạc, bệnh Eales (viêm võng mạc gây tăng sinh tân mạch và
xuất huyết dịch kính tái phát ở nam giới trẻ tuổi), bong sau dịch kính hay gặp ở
những người cận thị bệnh lý tuổi trung niên trở lên có viêm dịch kính trước đó tạo
nên những chỗ dính dịch kính với võng mạc. Xuất huyết là do đứt các mạch máu
vào lúc xảy ra hiện tượng bong sau dịch kính. Có thể gặp các mức độ: xuất huyết
dịch kính đơn độc, xuất huyết dịch kính có rách võng mạc, xuất huyết dịch kính
kèm theo rách và bong võng mạc.
- Chấn thương: Các tình huống chấn thương như đụng dập, vết thương, dị
vật nội nhãn, phẫu thuật vào nhãn cầu đều có thể là căn nguyên của những vết rách
võng mạc hoặc của sự hình thành những dây chằng dịch kính - võng mạc và từ đó
dẫn tới bong võng mạc, xuất huyết dịch kính.
- Còn có những căn nguyên ít gặp của xuất huyết dịch kính như u mạch
võng mạc, bệnh về rối loạn cầm máu đông máu, khối u ác tính hắc võng mạc,
thoái hoá hoàng điểm tuổi già .v.v.
Xuất huyết dịch kính cần được hạn chế vận động, uống nhiều nước. Máu sẽ
giãn to, ngoằn ngoèo. Võng mạc bị phù tạo màu xám mờ, phù nặng nhất ở cực sau
với nhiều nốt trắng như bông, bờ không rõ và che lấp các mạch máu. Gai thị
không rõ ranh giới do bị chìm trong đám võng mạc phù ở quanh gai, bản thân gai
thị cũng phù. Riêng động mạch thì không bị biến đổi nhiều. Các dấu hiệu trên xuất
hiện ở toàn bộ võng mạc nếu là tắc thân tĩnh mạch trung tâm võng mạc còn nếu
tắc một nhánh thì các dấu hiệu chỉ khu trú ở một vùng võng mạc tương ứng của
tĩnh mạch đó. Căn nguyên của tắc tĩnh mạch võng mạc thường là:
- Xơ vữa động mạch cao huyết áp: Động mạch xơ cứng có thể đè ép tĩnh
mạch ở ngay vùng lá sàng gây tắc tĩnh mạch trung tâm.
- Các bệnh của thành mạch : Viêm mạch (sacoid, giang mai, luput ban đỏ
toàn thân).
- Những bệnh làm biến đổi thành phần huyết tương: bệnh bạch cầu, tăng
hồng cầu, rối loạn globulin huyết, tăng tiểu cầu,
- Những sự biến đổi lưu lượng dòng máu: Rò động mạch cảnh - xoang
hang, chèn ép ở phía sau nhãn cầu do basedow. do khối u, do apxe, do vỡ xương
vùng ống thị giác,
Tuy nhiên còn khoảng 15 % các trường hợp không tìm thấy nguyên nhân.
Với một bảng các yếu tố căn nguyên như vậy, khi gặp chứng bệnh này cần khám
xét mắt rất kỹ lưỡng với giãn đồng tử, soi đáy mắt, mạch ký huỳnh quang. Về
phương diện toàn thân cần đo huyết áp, làm các xét nghiệm máu như đường huyết,
công thức máu, mỡ máu, các xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán giang mai. luput ban
đỏ v.v.
Điều trị:
* Chủ yếu là điều trị nội khoa với các mục đích giảm rối loạn tính thấm
thành mạch, rối loạn huyết động và chống xuất huyết xuất tiết. Các thuốc thường
dùng là:
- Thuốc chống đông: Có tác dụng ngăn ngừa sự xuất hiện thêm huyết khối
ở nơi tĩnh mạch đang bị bệnh.
- Thuốc tiêu fibrin ( loại urokinase): Dùng cho những bệnh nhân trẻ, mới bị
bệnh, không dùng cho người già cao huyết áp.