SÂU BỆNH CÂY RỪNG ĐÔ THỊ PHẦN BỆNH CÂY BÀI MỞ ĐẦU potx - Pdf 16

Sâu bệnh cây rừng đô thị
Phần Bệnh cây
Bài mở đầu
Thông qua sản xuất và cuộc sống hàng ngày, lâm nghiệp đô thị ngày
càng đợc xã hội quan tâm và là một nội dung quan trọng của lâm nghiệp , là
vấn đề sinh thái đô thị và là mục tiêu và phơng thức kinh doanh của ngời dân
đô thị.
Mục tiêu chủ yếu của lâm nghiệp đô thị là thoả mãn các nhu cầu về
hiệu ích sinh thái, xã hội bao gồm các yêu cầu về xã hội, văn hóa, sức khỏe
con ngời, môi trờng sinh thái. Vì vậy trong quy hoạch đô thị cần chú ý đến:
(1) Giá trị cảnh quan của rừng (2) Giá trị bảo đảm vệ sinh công cộng của
rừng (3) Giá trị cân bằng sinh thái (4) Giá trị đặc sắc văn hóa lịch sử đô thị.
Lâm nghiệp đô thị quy đến cùng là nền lâm nghiệp phục vụ cho dân
thành phố. Lâm nghiệp đô thị thế kỷ 21 sẽ phát huy tác dụng quan trọng
trong việc cải thiện môi trờng sinh thái nâng cao chất lợng cuộc sống c dân
thành phố.
Rừng thành phố bao gồm cây gỗ, cây bụi mọc trong thành phố và
ngoại ô kể cả rừng đồi núi và rừng đồng bằng. Rừng đô thị làm nhiệm vụ
phòng chống cát bụi, điều tiết khí hậu, bảo vệ nguồn nớc, chống xói mòn,
giảm thiên tai.
Bụi khí độc thành phố đã gây biết bao lo toan cho ngời dân mà cây
xanh thành phố có thể làm cây chỉ thị để xác định độ độc hại đó. Trong bụi
có rất nhiều vi khuẩn gây bệnh, các nhà máy thải ra các khí độc nh
CO,SO
2
,FH,Cl gây cho con ngời những cảm giác khó chịu gây giảm thị lực,
đau đầu, đau ngực gây ra các bệnh tê phù phổi. Cây xanh thành phố có thể
làm giảm tiếng ồn, xử lý nớc bẩn, cây xanh còn có thể làm đẹp thành phố với
những cây đa thế, đa màu đánh vỡ bộ mặt cứng rắn các vật kiến trúc xi
măng, cây xanh có thẻ diệt khuẩn gây bệnh. Cây xanh cũng mang lại những
hiệu ích kinh tế rất cao về đặc sản rừng, thu nhập công viên, các loại phạt về

Lịch sử còn ghi chép lại, bệnh hại khoai tây ở Ireland đã làm chết mấy
trăm ngàn ngời, một triệu rởi ngời không có nhà ở. Dịch bệnh mốc sơng nho
thập kỷ 70-80 của thế kỷ 19 đã gây ra tổn thất lớn cho nền kinh tế thế giới.
Do giống cây trồng càng nhiều đặc tính sinh vật học cũng rất khác
nhau, yêu cầu biện pháp kỹ thuật rất cao, môi trờng sinh thái càng phức tạp
khó nắm vững đợc quy luật phát sinh phát triển bệnh, công tác phòng trừ
càng gặp nhiều khó khăn.
Cây cảnh thành phố đòi hỏi phải canh tác tỷ mỷ, càng làm cho cây tiếp
xúc nhiều với con ngời tăng thêm khả năng lan truyền bệnh, cho nên yêu cầu
ngời sản xuất phải có những kiến thức về bệnh cây để tránh bệnh lây lan do
con ngời gây ra. Việc cung cấp cây con và hạt giống càng nhiều đã mang lại
những lợi ích kinh tế nhất định , nhng cũng mang theo những cây chủ và môi
trờng sinh thái cho vật gây bệnh qua đông, ngủ nghỉ làm cho ta khó cắt đứt
con đờng lây lan bệnh. Mặt khác con ngời yêu cầu rau tơi sạch nên hạn chế
hoặc cấm dùng thuốc trừ sâu bệnh có độ độc cao.
Cây hoa và cảnh là tợng trng của tình hữu nghị và cái đẹp đã trở thành
một bộ phận không thể thiếu đợc trong cuộc sống của mọi ngời. Nhng cây
hoa và cây cảnh đi đến mọi nhà và cũng trở thành sứ giả của bệnh hại, dới
sự che chở của cái đẹp bề ngoài, hiên tại, cũng mang đến cái quái ác bên
trong và tơng lai. Con đờng lây lan bệnh sẽ càng tăng lên.
Cho nên khi học môn bệnh cây đô thị cần phải nắm vững đặc điểm của
cây đô thị, bảo vệ hoặc làm giảm sự xâm nhiễm của bệnh cung cấp những
cây xanh và môi trờng đẹp là trách nhiệm của ngời làm công tác bệnh cây và
cũng là mục đích học tập của chúng ta
Bệnh cây là môn khoa học ứng dụng lấy cây làm đối tợng bảo vệ lấy mối
quan hệ vật gây bệnh- cây chủ- môi trờng làm cơ sở lấy việc nghiên cứu quy
luật phát sinh phát triển bệnh từ đó thiết lập biện pháp phòng trừ có hiệu quả
kinh tế làm mục đích. Nội dung nghiên cứu bệnh cây bao gồm:
(1) Bản chất và hoạt động vật gây bệnh
(2) Bản chất và hoạt động của cây bị bệnh

các nhân tố di truyền lại không đề cập đến.
Năm 1992 nhiều nhà bệnh cây đã tổng kết và bổ sung sửa đổi định
nghĩa và cho rằng: Bệnh cây là hậu quả gây ra do sự can thiệp đến chức năng
sinh lý thực vật. Định nghĩa này bao hàm cả nguyên nhân, quá trình bệnh và
tác hại của bệnh, để tránh định nghĩa cụ thể quá, thiếu tính khái quát.
Việc lý giải bệnh cây còn có 2 quan điểm khác nhau, một loại theo
quan điểm sinh vật, một loại theo quan điểm kinh tế. Quan điểm sinh học
cho rằng, cây có bị bệnh hay không phải xem bản thân cây đó có làm thay
đổi chức năng sinh lý hay không. Quan điểm kinh tế lại cho rằng thực vật có
bị bệnh hay không phải xem giá trị kinh tế có bị tổn thất hay không. Ví dụ
nh vi khuẩn nốt sần cây họ đậu, Nấm cộng sinh với cây gỗ bắp cải do có nấm
3
phấn đen xâm nhiễm mà làm cho gốc phình to lên và trở thành món ăn ngon;
giá đậu do thiếu ánh sáng mà cho giá non hơn, ăn ngon hơn. Nh vậy giá trị
kinh tế lại tăng lên. Cây bị bệnh có phải phòng trừ hay không hoàn toàn có
thể xét giá trị kinh tế.
Nh vậy định nghĩa bệnh cây phải phối hợp hai quan điểm trên với
nhau. Bệnh cây là quá trình tác động của nguyên nhân gây bệnh làm thay
đổi chức năng sinh lý và hình thái cây bệnh gây ảnh hởng đến giá trị kinh tế.
1.2. Nguyên nhân gây bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh ( cause of disease) là những nhân tố chủ yếu
tác động trực tiếp trong quá trình phát sinh bệnh. Còn những nhân tố xúc tiến
hoặc làm kéo sự phát sinh phát triển của bệnh chỉ là những nhân tố kéo theo
hoặc điều kiện phát bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh cây có rất nhiều, căn cứ vào tính chất có thể
chia ra nhân tố sinh vật và nhân tố phi sinh vật.
1.2.1. Nguyên nhân gây bệnh do sinh vật.
Nguyên nhân gây bệnh do sinh vật đợc gọi là vật gây bệnh
( pathogen). Do tập tính ký sinh của vật trong cây hoặc trên cây, ngời ta còn
gọi là vật ký sinh (parasite). Những cây bị bệnh đợc gọi là cây chủ ( host).

Nếu dinh dỡng quá nhiều sẽ ảnh hởng đến khả năng hấp thu và lợi dụng dinh
dỡng.
4
1.3. Tam giác bệnh cây
Chỉ có vật gây bệnh và cây chủ không nhất thiết phát sinh bệnh, sự
phát sinh bệnh phải có sự găn bó 3 điều kiện vật gây bệnh, cây chủ và điều
kiện môi trờng. Nó cũng giống nh trọng tài của cuộc thi đấu giữã vật gây
bệnh và cây chủ. Vật gây bệnh càng mạnh bệnh càng nặng, cây chủ mạnh
bệnh sẽ càng nhẹ; môi trờng càng có lợi cho vật gây bệnh bệnh càng nặng,
môi trờng có lợi cho cây chủ bệnh sẽ càng nhẹ. Ba điều kiện trên trong hệ
thống bệnh cây, dựa vào nhau, không thể thiếu một . Bất kỳ một sự biến đổi
nào đều ảnh hỡng đến 2 nhân tố khác. Chúng đợc thể hiện trên sơ đồ hình
tam giác, gọi là tam giác bệnh cây.
Môi trờng
Cây chủ Vật gây bệnh
Từ đó ta có thể nhận thấy rằng, điều kiện môi trờng không chỉ là
nguyên nhân phát sinh bệnh không truyền nhiễm đồng thời là nhân tố quan
trọng trong việc gây ra bệnh truyền nhiễm giảm bớt bệnh không truyền sẽ
làm giảm tính đề kháng của cây chủ, xúc tiến sự phát sinh bệnh truyền
nhiễm. Cả hai cùng xúc tiến lẫn nhau làm cho bệnh gia tăng.

1.4.Phân loại bệnh cây
Phân loại bệnh cây thờng có mấy hệ thống, mỗi hệ thống đều có u
khuyết điểm
Dựa vào loại vật gây bệnh để phân chia chúng đợc chai ra bệnh truyền
nhiễm (infectious disease) và bệnh không truyền nhiễm ( noninfectious
disease). Trong bệnh truyền nhiễm có có bệnh do nấm, bệnh do vi khuẩn,
bệnh do tuyến trùng, nếu phân chia nữa thì trong bệnh nấm lại chia ra bệnh
mốc sơng, bệnh phấn trắng. Ưu điểm của cách phân chia này là mỗi một loại
bệnh do chúng gây ra có chung một đặc trng nên có chung những đặc điểm

mô của các bộ phận bị bệnh có sự biến đổi cuối cùng dẫn đến sự thay đổi về
hình thái bên ngoài mắt thờng nhìn thấy đợc. Cho nên, triệu chứng của bệnh
cây là kết quả của một loạt biến đổi bệnh lý khá phức tạp.
1.4.1. Trạng thái bệnh
Trạng thái bệnh cây bao gồm 5 loại: biến màu, chết thối, thối rữa, khô
héo, biến dạng ( Hình 1.1)
1.4.1.1. Biến màu ( discolor)
Sau khi bị bệnh một bộ phận hoặc cả cây mất đi màu sắc bình thờng
của nó đợc gọi là biến màu. Nguyên nhân của biến màu là do chất diệp lục
hoặc thể diệp lục bị ức chế và phá hoại, tỷ lệ chất màu bị mất đi.
Trạng thái biến màu có 2 hình thức biểu hiện. Một biểu hiện toàn cây,
tất cả lá hoặc một phần đều biến màu chủ yếu có mất màu ( chlorosis) và
vàng lá ( yellowing). Mất màu là do chất diệp lục bị giảm bớt mà biến thành
màu xanh nhạt, khi lợng chất diệp lục giảm đến mức độ nào đó sẽ biến thành
vàng lá. Ngoài ra còn có hiện tợng lá biến màu tím hặc màu đỏ. Một hình
thức khác là không phải cả lá biến màu mà chỉ biến màu không đều trên lá
nh khảm lá (mosaic) là hiện tợng hình thành các đốm đậm nhạt không đều
trên lá xen kẽ nhau. Có trờng hợp biến màu theo gân lá , hoặc biến thành sọc
hình thoi ( streak) hình sợi ( stripe) hoặc các chấm sọc xen kẽ nhau ( striate).
Những bệnh do virus gây ra hoặc bệnh thiếu dinh dỡng thờng có các hiện t-
ợng này.
1.4.1.2. Chêt thối ( necrosis)
6
Tế bào và mô cây bị chết . Thông thờng do vật gây bệnh giết chết hoặc
gây độc cho cây hoặc do cây bảo vệ tạo thành. Trên lá bệnh thờng biểu hiện
đốm lá hoặc khô lá (lesion). Hình dạng kích thớc, màu sắc của đốm thờng
không nh nhau, nhng thông thờng có các vân vòng hoặc viền . Các đốm bệnh
ẩn trên lá thờng mất màu xanh hoặc biến màu về sau đốm bị chết. Có khi
đốm bị rụng đi tạo nên vết thủng gọi là thủng lá ( holospot) có lúc trên đốm
có vân vòng gọi là đốm vòng ( ringspot). Cũng có khi lá bệnh thể hiện một

là héo khô hoặc héo vàng.
1.4.1.5. Biến dạng ( malformation)
Do tế bào phân chia và sinh trởng không đều hoặc xúc tiến hoặc ức
chế là cho cây có những biến đổi hình thái khác thờng. Biến dạng do vật gây
bệnh tiết ra chất kích thích hoặc do trao đổi chát kích thích trong cây chủ mà
tạo nên.
Thông thờng cả cây biến dạng có mọc lùn ( stunt) và thắt lùn ( dwarf).
Mọc lùn là tất cả các cơ quan của cây đều nhỏ theo tỷ lệ so với cây bình th-
ờng nhỏ đí rất nhiều lần. Còn thắt lùn là cây không thấp những các đốt ngắn
lại. Các cành nhánh nhiều thêm ra ta gọi là mọc chùm hay chổi sể (witches
broom). Biến dạng ở lá cũng rất nhiều, thờng thấy nhất là mặt lá không
phẳng đều gọi là nhăn lá ( crinkle), lá cuốn lại gọi là xoăn lá ( leaf roll) hoặc
cuốn lá ( leaf curl).
7
Ngoài ra rễ, thân, cành lá, xuất hiện bớu ( tumor) do vi khuẩn và tuyến
trùng gây ra. Thân, cành và gân lá hình thành các mô lồi lên nh tua mực. Một
số hiện tợng hoa biến thành lá ( phyllody) nghĩa là các bộ phận của hoa nh
tràng hoa biến thành lá xanh . Hầu hết các bệnh biến dạng do virus,
phytoplasma gây ra.
1.4.2. Đặc trng bệnh
Đặc trng bệnh đợc chia ra 5 loại :
1.4.2.1. Vật dạng bột.
Vật gây bệnh hình thành trực tiếp trên bề mặt cây, dới biểu bì hoặc mô
cây về sau nứt ra và phát tán ra ngoài. Chúng bao gồm bột gỉ sắt, bột trắng,
bột đen và bột gỉ trắng.
Bột gỉ sắt; mới đầu dới biểu bì hình thành các đốm màu vàng, nâu
hoặc nâu đỏ, sau khi nứt ra hình thành bột màu gỉ sắt. Nh bệnh gỉ sắt tếch, gỉ
sắt keo, gỉ sắt tre, gỉ sắt sắn dây, gỉ sắt rau đậu.
Bột trắng; mặt trên lá bệnh hình thành bột trắng, về sau biến màu sẫm
hơn nh bệnh phấn trắng da, phấn trắng keo

bệnh bồ hóng, rất lâu mới nhận thấy trạng thái bệnh thể hiện trên cây chủ.
Cũng có bệnh thể hiện trạng thái bệnh rất rõ rệt nhng đặc trng bệnh lại
không rõ nh các bệnh biến màu, bệnh biến dạng và phần lớn những bệnh
phát sinh sớm.
8
1.5. Những biến đổi triệu chứng và ứng dụng trong chẩn đoán
bệnh cây
Nhận bíêt đợc trạng thái bệnh và đặc trng bệnh là những căn cứ để
nhận biết và chuẩn đoán bệnh cây. Đối với nhiều bệnh thờng xuyên gặp ta có
thể nhận biết thông qua triệu chứng và có thể tiến hành chỉ đạo phòng trừ.
Nhng đối với những bệnh ít gặp và biến đổi nhiều cần phải phân tích, đối
chiếu với những tài liệu và thông qua kết hợp với việc kiểm tra vật gây bệnh
để tiến hành chẩn đoán. Và đối với những bệnh mới cần phải kết hợp việc
giám định vật gây bệnh, xác định sự xâm nhiễm để chẩn đoán.
Những biến đổi về triệu chứng thờng biểu hiện ở chỗ, khác bệnh nhng
cùng triệu chứng, cùng bệnh nhng khác triệu chứng, ẩn triệu chứng
Các vật gây bệnh khác nhau có thể gây ra những trạng thái bệnh tơng
tự, nh bệnh đốm lá có thể do virus, vi khuẩn, nấm gây ra. Những bệnh nh vậy
ta có thể dễ dàng nhận biết, nhng những lòai nấm nào gây ra bệnh đó lại phải
biết đợc hình thái vật gây bệnh thông qua quan sát dới kính hiển vi.
Tính phức tạp của triệu chứng bệnh cây còn biểu hiện ở sự biến đổi
nhiều loại, trong nhiều trờng hợp một loài cây trong đìều kiện nhất định sau
khi bị bệnh xuất hiện 1 loại triệu chứng, nhng nhiều bệnh hại trong đìều kiện
biến đổi có thể trong các giai đoạn khác nhau hoặc trên loài cây có tính
chống chịu bệnh khác nhau sẽ xuất hiện nhiều loại triệu chứng. Ví dụ bệnh
khảm lá biểu hiện khảm nhng ở giữa lá lại xuất hiện đốm khô. Một loài nấm
xâm nhiễm trên loài cây khác nhau có thể xuất hiện đốm bệnh có màu sắc
khác nhau.
Một số vật gây bệnh trên cây chủ chỉ gây bệnh nhẹ thâm chí không
biểu hiện triệu chứng rõ rệt gọi là bệnh tiềm ẩn ( latent infection) . Trong cây

thiếu chất có rất nhiều loại một là thiếu dinh dỡng, hai là tỷ lệ dinh dỡng
trong đất không hợp lý, ba là tính chất vật lý đất không phù hợp nh nhiệt độ
quá cao, nớc quá ít, pH quá cao hoặc quá thấp
Trong đất hàm lợng nguyên tố dinh dỡng quá cao đều ảnh hởng không
lợi cho cây. Ví dụ N dạng NO
3
quá nhiều sẽ làm cho cây mọc vống, chín
chậm, tính kháng bệnh yếu.Trong đất NH
4
quá nhiều làm cho bộ rễ bị hại, lá
biến màu sẫm, sinh trởng kém; trong đất N dạng NO
2
nhiều làm cho lá biến
màu, sinh trởng kém; đất thừa B có thể ức chế hạt nẩy mầm, gây ra chết cây
con, lá khô, cây thấp.
Một số nguyên tố dinh dỡng luôn luôn sản sinh ra những nguyên tố
dinh dỡng khác, gaya ra tác dụng xấu, ví dụ Mg,Cu,Zn quá nhiều làm cho rễ
giảm khả năng hấp thụ sắt, Fe, Mn quá nhiều sẽ ức chế khả năng hấp thụ
10
Mg; Mg quá nhiều ức chế sự hấp thụ Mo; NH
4
quá nhiều ức chế hấp thụ Mg
và K; Na quá nhiều sẽ gây ra hiện tợng thiếu Ca, kết quả làm cho cây bị
thiếu dinh dỡng.
Vì trong đất thiếu K hoặc nồng độ muối hoà tan trong đất quá cao
hoặc dùng đạm uree hoặc K quá nhiều hoặc đát khô hạn, độ ẩm không khí
thấp độ ẩm cao liên tục đều rất dễ xuất hiện triệu chứng thiếu K. Cà chua
thiếu K gây ra bệnh thối rốn quả, sinh lý tế bào rốn quả bị đảo lộn mất đi khả
năng khống chế nớc, mới đầu ở bộ phận rốn quả chứa đầy nớc về sau phát
triển rộng ra biến thành màu nâu vàng đến nâu đen, quả cứng lại lõm xuống

không thoáng khí, hoạt tính bộ rễ giảm thậm chí còn bị độc hại gây ra thối
rễ, sinh trởng cây chạm, lá dới tán vàng, rủ, rụng hoa, rụng quả, khi nghiêm
trọng có thể làm cho cây chết.
Nớc cung cấp không đều hoặc biến đổi quá lớn đều gây ra hiện tợng
tổn thơng cây, nhất là trong thời kỳ ra hoa, ra quả.
2.3. Nhiệt độ không thích hợp
Sự sinh trởng phát triển của cây đều phải trong phạm vi nhiệt độ nhất
định, nếu nhiệt độ quá cao hặc quá thấp vợt quá phạm vi đó, quá trình trao
đổi chất bị ngừng trệ, sinh trởng phát triển không bình thờng gây ra biến đổi
sinh lý mà bị bệnh. Nhiệt độ thích hợp cho từng loài cây khác nhau, sự phát
bệnh cùng không nh nhau.
11
Nhiệt độ cao làm cho tốc độ quang hợp giảm, tác dụng hô hấp tăng
lên, sự tích luỹ hợp chất cacbon giảm xuống, sinh trởng chậm, có lúc làm
cho cây mọc thấp, thành thục sớm. Nhiệt độ quá cao thờng làm cho thân lá,
quả bị thơng, vỏ cây khô cháy nứt ra, tạo nên bệnh loét thân, lá có thể biến
trắng hoặc đốm nâu. Trong điều kiện tự nhiên, nhiệt độ cao thờng làm cho
đất khô hạn, các vết thơng thờng ở về phía chiếu nắng. Bảo vệ và trồng cây
không kịp thời thông thoáng che bóng thờng làm cho cây bị khô lá rụng, hoa
rụng và quả rụng.
Nhiệt dộ thấp thờng gây hại cho cây rất lớn. Cây bị rét hại thờng làm
cho cây sinh trởng chậm, mép lá và thịt là biến vàng, thụ phấn kém gây ra
hiện tợng rụng hoa, rụng quả và quả biến dạng. Cây cà chua ở nhiệt độ 15
o
C
kéo dài sẽ không sinh trởng phát triển bình thờng, quả nhỏ, cứng, ruột quả
rỗng quả chín không đổi màu. Nhiều cây gỗ bị rét hại thờng khô chồi, khô
ngọn. Nhiệt độ thấp còn làm cho cây con bị hại. Cây da , cà khi nhiệt độ
12
o

thể tích luỹ các hơi độc gây ra bệnh thối quả.
Sử dụng thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất kích thích
sinh trởng nếu sử dụng không hợp lý về chủng loại, phơng pháp, thời gian sẽ
gây ra các hiện tợng đốm lá, héo cây, trắng lá,xoăn lá và cây chết.
Đất và nớc bị ô nhiễm cũng gây ra các tác hại nghiêm trọng. Từ nhà
máy thải ra nớc thải, các chất tàn d thuốc trừ sâu trong đất và dầu hoả,chất
hữu cơ, kim loại nặng có thể ức chế sinh trởng của cây ảnh hởng đến sự hấp
thu nớc, dãn đến lá mất màu, khi nghiêm trọng có thể làm cho cây chết. Ma
axit cũng sẽ làm cho cây bị hại nghiêm trọng.
2.5. Sự tích luỹ muối thứ sinh trong đất
Trong việc trồng cây bảo vệ đất thờng dùng nhiều phân hoá học gây ra
hiện tợng tích luỹ phân bons và các chất d thừa, chúng kết hợp với các ion
12
khác hình thành các loại muối hoà tan, lại trong điều kiện môi trờng nửa kín
đã cản trở tác dụng rửa thấm của nớc, làm cho muối trong đất tích luỹ nhiều,
nồng độ muối vợt quá ngỡng nồng độ cho cây trồng làm cho muối thứ sinh
tích tụ, làm cho cây khó hấp thu nớc, biểu hiện triệu chứng cây héo. Các
muối sunphat Na, Mg với nồng độ cao ảnh hởng đến tính chất vật lý đất và
khả năng lợi dụng nớc của đất. Muối Na quá nhiều sẽ dẫn đến pH tăng lên
làm cho cây mất màu xanh, thấp lùn,lá héo khô. Khi nồng độ muối dới 0,3%
chỉ một ít cây bị hại,nồng độ cao trên 0,5% hầu hết cây trồng đều bị hại và
biểu hiện triệu chứng. Nồng độ trên 1%, nhiều cây trồng không thể sinh tr-
ởng. Căn cứ vào điều tra đất sử dụng trên 3 năm hàm lợng muối tầng đất mặt
vào khoảng 0,1%-0,5%, cây có thể bị hại ở mức độ khác nhau do muối thứ
sinh trong đất.
2.6. Chẩn đoán và phòng trừ bệnh không truyền nhiễm
Chẩn đoán bệnh không truyền nhiễm là một vấn đề phức tạp, nguyên
nhân gây ra bệnh không truyền nhiễm rất nhiều, triệu chứng rất giống với
bệnh truyền nhiễm, cho nên dẫn đến những khó khăn. Vì vậy không chỉ quan
sát triệu chứng còn phải tiến hành phân tích tổng hợp tìm hiểu thời gian,

thựuc vật, động vật và ngời gây ra bệnh. Trong cây trồng trên 80% bệnh do
nấm gây ra. Nấm gây bệnh trên cây có tác hại rất lớn đến sản lợng và chất l-
ợng cây trồng.
3.1.1. Đặc điểm chung của nấm
-Thể dinh dỡng của nấm
Kết cấu giai đoạn sinh trởng dinh dỡng của nấm gọi là thể dinh dỡng.
Tuyệt đại bộ phận thể dinh dỡng nấm là thể dạng sợi phân nhánh, thể dạng
sợi đơn gọi là sợi nấm (hypha), tập hợp các sợi nấm lại gọi là thể sợi nấm
( mycelium). Thông thờng sợi nấm dạng ống, đờng kính 2-30àm, lớn nhất có
thể đến 100àm. Sợi nấm không màu hoặc có màu, thành phần chủ yếu của
vách tế bào ngoài nấm noãn chứa xenluloza ra hầu hết là chất kitin. Trong tế
bào ngoài nhân ra còn có lới nội chất, ribosome,mitochondria,lipoid và dịch
bào. Sợi nấm bậc cao có vách ngăn (septum), chia sợi nấm ra nhiều tế
bào,mối tế bào có 1-2 nhân còn sợi nấm bậc thấp không có vách ngăn có
nhiều nhân. (hình 3.1)
Sợi nấm thờng do bào tử nẩy mầm mà thành, chúng sinh trởng về phía
ngọn và kéo dài ra. Sợi nấm có khả năng sinh trởng mạnh, một đoạn sợi nấm
trong điều kiện thích hợp đều có thể sinh trởng. Ngoài ra một số loài nấm thể
dinh dỡng không phải dạng sợi mà là một khối nguyên sinh chất
( plasmodium) thành khối nhiều nhân, không có vách tế bào hình dạng luôn
biến đổi nh nấm nhầy; hoặc có vách tế bào, hình trứng đơn bào nh nấm men.
Thể sợi nấm là một kết cấu hút dinh dỡng, nấm ký sinh sợi nấm xâm
nhập vào giữa tế bào hoặc trong tế bào cây chủ hút các chất dinh dỡng. Sau
khi thể sợi Nấm tiếp xúc với vách tế bào hoặc nguyên sinh chất trong tế bào
cây chủ chất dinh dỡng và nớc thông qua tác dụng thẩm thấu và trao đổi ion
đi vào trong sợi nấm. Một số nấm sau khi xâm nhập và cây chủ luôn luôn
hình thành kết cấu hút dinh dỡng đặc biệt gọi là vói hút (haustorium) chui
vào bên trong tế bào cây chủ để hút dinh dỡng và nớc. Hình dạng vòi hút có
rất nhiều dạng tuỳ theo loài nấm, nh bệnh phấn trắng vòi hút dạng xoè bàn
tay, Nấm mốc sơng dạng sợi hoặc dạng nắm đấm, nấm gỉ sắt có dạng ngón

3.1.1.1. Sinh sản vô tính(asexual reproduction) và các loại bào tử vô tính
Sinh sản vô tính là thể dinh dỡng trực tiếp hình thành bào tủ không qua
giao phối. Những bào tử đợc hình thành gọi là bào tử vô tính, cũng giống nh
các cơ quan sinh sản vô tính của thực vật nh củ, vẩy, thân cầu. Thông thờng
có 3 loại bào tử:
(1) Bào tử động (zoospore) là những bào tử mọc trong nang bào tử
( zoosporangium). Nang bào tử động do sợi nấm hoặc đỉnh cuống nang
bào tử phình lên mà thành. Bào tử động không có vách tế bào, có 1-2
lông roi, khi thoát ra có thể bơi trong nớc.
(2) Bào tử nang (sporangiospore) là bào tử mọc trong nang bào tử
(sporangium). Nang bào tủ do đỉnh cuống nang phình lên mà thành. Bào
tử nang có vách tế vào, không có lông roi, sau khi thoát ra chúng lây lan
nhờ gió.
(3) Bào tử phân sinh (conidium) do sợi nấm phân hoá thành cuống bào tử,
trên cuống bào tử có bào tử. Sau khi chín chúng tách ra khỏi cuống bào
tử. Bào tử phân sinh có rất nhiều loài, khác nhau về hình dạng, màu sắc,
kích thớc và phơng thức mọc. Mức độ phân hoá thành cuống bào tử cũng
không nh nhaumọc rừi, mọc cụm, mọc trong vỏ bào tử ( pycnidium) hoặc
trong đĩa bào tử ( acervulus) ( Hình 3.6)
16
3.1.1.2. Sinh sản hữu tính (sexual reproduction) và các loại bào tử hữu
tính
Nấm sinh trởng phát triển đến một giai đoạn tiến hành sinh sản hữu tính.
Sinh sản hữu tính của nấm là phơng thức kết hợp hai tế bào hoăc hai cơ quan
mà hình thành bào tử. Những bào tử sinh ra gọi là bào tử hữu tính, nó tờng đ-
ơng với hạt giống của thực vật bậc cao. Đa số nấm trên thể sợi phân hoá
thành cơ quan giới tính và tiến hành giao phối. Những tế bào giới tính gọi là
phôi ( gamete), cơ quan giới tính gọi là nang phôi ( gametangium). Nấm có
quá trình sinh sản hữu tính và thành 3 giai đoạn là chất phối ( plasmogamy),
nhân phối ( karyogamy) và giảm phân ( meiosis) .Giai đoạn đầu do 2 tế bào

Sinh sản hữu tính của nấm có hiện tợng phân hóa. Một số một sợi nấm có
thể hình thành sinh sản hữu tính gọi là giao phối đồng tông (homothallism),
nhng phần lớn nấm do 2 sợi khác tính giao phối để hoàn thành sinh sản hữu
tính gọi là giao phối khác tông (heterothallism). Giao phối khác tông có tính
biến dị lớn hơn giao phối đồng tông. Điều này có lợi cho khả năng sống và
thích nghi của nấm, bảo vệ đợc tính đa dạng của nấm.
3.1.2. Vòng đời của nấm
Từ một bào tử trải qua các giai đoạn sinh trởng phát triển cuối cùng
hình thành bào tử giống nh bào tử cũ. Quá trình đó gọi là vòng đời (life
cycle). Vòng đời điển hình của nấm bao gồm giai đoạn vô tính và giai đoạn
hữu tính. Sau khi hình thành bào tử hữu tính của giai đoạn hữu tính, chúng
nẩy mầm hình thành thể sợi nấm, trong điều kiện thích hợp thể sợi nấm hình
thành bào tử vô tính, bào tử vô tính nẩy mầm thành sợi nấm. Về sau sợi nấm
bớc vào giai đoạn hữu tính, trải qua chất phối, song nhân, nhân phối, giảm
phân hình thành bào tử hữu tính. Bào tử hữu tính nẩy mầm thành sợi nấm.
Giai đoạn vô tính trong mùa sinh trởng có thể trải qua nhiều lần, hình thành
hàng loạt bào tử vô tính, lây lan, gây dịch. Giai đoạn hữu tính chỉ trải qua
một lần chỉ có tác dụng bảo vệ nòi giống và qua đông mùa xuân năm sau lại
xâm nhiễm.
Từ sự biến đổi nhân tế bào trong vòng đời ta thấy một vòng đời hoàn
chỉnh do hai giai đoạn thể đơn bội và thể song bội tổ thành. Hai tế bào đơn
bội trải qua chất phối, nhân phối hình thành thể nhị bội, rồi trải qua giảm
phân bớc avfo giai đoạn thể đơn bội. Cũng có loại nấm sau khi chất phối
không qua nhân phối mà hình thành tế bào thể đơn bội song nhân, tế bào
song nhân này hình thành thể sợi nấm song nhân và sống độc lập. Căn cứ vào
các giai đoạn đơn bội, song bội và song nhân có hay không và dài hay ngắn
ngời ta chia vòng đời của nấm ra làm 5 loại: (1) Loại vô tính, chỉ có giai
đoạn vô tính nh nấm bất toàn. (2) Loại đơn bội, thể dinh dỡng và sinh sản vô
tính là thể đơn bội, trong quá trình sinh sản hữu tính sau khi chất phối là qua
nhân phối và giảm phân, giai đoạn thể nhị bội rất ngắn nh nấm tiếp hợp. (3)

xếp vào giới động vật nguyên sinh. Vì vậy, năm 1992 Barr đề nghị nấm nên
chia ra 3 giới và gọi chung là sinh vật nấm (union of fungi), sinh vật giới
nấm đợc gọi là nấm thật ( true fungi), nấm noãn nên xếp vào nấm giả
( pseudofungi). Giới nấm bao gồm 3 bộ phận nấm thật, nấm giả và nấm
nhầy.
Về phân loại nấm, quan điểm của các nhà khoa học cha nhất trí, nhiều
ngời nêu ra các hệ thống khác nhau, trong đó hệ thống của ainsworth
19
(1971,1973) đã đợc nhiều ngời tiếp thu. Hệ thống này ông chia nấm ra làm 2
ngành: nấm nhầy ( Myxomycota) thể dinh dỡng là khối nhầy biến dạng và
nấm thật ( Eumycota) thể dinh dỡng chủ yếu là sợi nấm. Hầu hết nấm gây
bệnh cây thuộc ngành nấm thật. Căn cứ vào thể dinh dỡng, sinh sản vô tính
và sinh sản hữu tính, ngành nấm thật đợc chia ra 5 ngành phụ: ngành phụ
nấm lông roi ( Mastigomycotina) ngành phụ nấm tiếp hợp ( Zygomycotina)
ngành phụ nấm túi ( ascomycotina), ngành phụ nấm đảm
( Basidiomycotina) và ngành phụ nấm bất toàn ( Deuteromycotina)
Bảng khoá phân loại của chúng nh sau:
(1) Sinh sản vô tính hình thành bào tử động, sinh sản hữu tính hình thành bào
tử noãn Ngành phụ nấm lông roi
(2) Sinh sản vô tính không có bào tử động, sinh sản hữu tính có thể sản sinh:
+ Bào tử tiếp hợp Ngành phụ nấm tiếp hợp
+ Bào tử túi Ngành phụ nấm túi
+ Bào tử đảm Ngành phụ nấm đảm
(3) Sinh sản vô tính lhông có bào tử động, cha phát hiện giai đoạn hữu tính
Ngành phụ nấm bất toàn.
Đơn vị phân loại của các cấp nấm là: giới, ngành (-mycota), ngành
phụ (-mycotina), lớp ( -mycetes) lớp phụ (- mycetidae), bộ (-ales), họ
( aceae), chi, loài. Loài là đơn vị phân loại cơ bản nhất của nấm, những loài
thân thuộc là chi. Đặc điểm hình thái là cơ sở phân loài, đặc điểm giữa các
loài chủ yếu là hình thái, có lúc còn căn cứ vào sự khác nhau về sinh thái,

trng chủ yếu thể sợi nấm không có vách ngăn, một ít đơn bào; sinh sản vô
tính hình thành bào tử động có lông roi; sinh sản hữu tính hình thành bào tử
nang hoặc bào tử noaaxn. Ta thờng gặp một sô chi nấm sau:
(1) Chi nấm bớu rễ ( Plasmodiophora). Thể dinh dỡng là một khối nguyên
sinh chất, bào tử nang mọc rải rác trong tế bào cây chủ (hình 3.10) .
Nang bào tử ngủ nghỉ nẩy mầm hình thành bào tử đọng cso 2 lông roi
không bằng nhau. Chúng thờng gây tác hại cho cây họ chữ thập, nh bớu
rễ cây rau cải.
(2) Chi nấm mốc thối ( Pythium). Cuống bào nang dạng sợi. Nang bào tử
hình cầu hoặc dạng củ gừng, sau khi chín không rụng, khi nẩy mầm hnfh
thành nang bọt, trong nang bọt chứa bào tử đọng. Sinh sản hữu tính trogn
mỗi noãn cầu hình thành 1 bào tử noãn ( hình 3.11). Nấm mộc thối thờng
sống trong đất ẩm nhiều dinh dỡng gây ra bệnh thối rễ cây con ở vờn ơm
và các vờn rau.
(3) Chi nấm mốc dịch ( Phytophthora), nang bào tử hình thành trên cuống
bào nang. Nang bào tử hình cầu, hình trứng hoặc hình quả lê, sau khi
chín chúng rụng đi, khi nẩy mầm hình thành bào tử động hoặc trực tiếp
nẩy mầm thành ống mầm. Bào tử động hình thành trong nang bào tủ
không hình thành nang bọt. Sinh sản hữu tính cũng hình thành 1 bào tử
noãn trong noãn cầu (hình 3.12) . Chúng có tính ký sinh mạnh, sống dới
nớc và trên cạn. Nấm này gây bệnh trên nhiều loài cây nh cam quýt, ớt
cay, cà chua, khoai tây
21
(4) Các chi nấm mốc sơng . Mốc sơng là nấm lông roi bậc cao ký sinh trên
cây, sợi nấm lan rộng giã gian bào và hình thành vòi hút trong tế bào,
cuống bào nang sinh trởng có hạn phân nhành và nhọn đỉnh là căn cứ
phân các chi của nấm này. Nang bào tử mọc trên cuống bào nang, nang
bào tử hình trứng, đỉnh có núm hoạc không có núm, khi nẩy mầm hình
thành bào tử động hoặc trực tiếp mọc mầm. Sinh sản hữu tính chỉ hình
thành 1 bào tử noãn trong noãn cầu ( hình 3.13). Nấm mốc sơng bao

sâu, Nấm túi không hoàn chỉnh, Nấm hạch,nám xoang,nám túi sâu, nấm
đĩa , bộ, họ. Đối với bệnh cây ta thờng gặp mấy chi sau:
(1) Chi nấm túi ngoài ( Taphrina) túi lộ ra ngoài xếp song song trên mặt cây
chủ. Trong túi có 8 bào tử, bào tử đơn bào, không màu hình bầu dục hoặc
hình tròn. Sinh sản vô tính của nấm túi ngoài bào tử túi nẩy mầm trong
túi mà hình thành bào tử àm ( hình 3.16). Nấm túi ngoài thờng gay bệnh
cây quyết và cây ăn quả. Chúng làm cho quả biến dạng, làm cho là xoăn
lại, nh bệnh xoăn lá đào ( T. deformans).
(2) Các chi nấm phấn trắng thuộc bộ phấn trắng ( Erysiphales) Chúng đều là
nấm ký sinh trên cây, sợi nấm hình thành vòi hút trong tế bào biểu bì để
hút dinh dỡng. Quả túi là một loại vỏ túi kín. Trong túi có 1 hoặc nhiều
túi. Ngoài túi có nhiều sợi phụ có hình thái khác nhau và là một căn cứ để
phân chia các chi. Sinh sản vô tính hình thành cuống bào tử phân sinh
mọc thẳng phân hoá từ sợi Nấm, trên cuống bào tử hình thành bào tử hình
bầu dục , không màu, đơn bào. Chúng thành bột màu trắng nên gọi là
23
bệnh phấn trắng. Nấm phấn trắng bao gồm các chi: vỏ 1 túi sợi phân
nhánh (Podosphaera), chi vỏ cầu kim ( Phyllactinia) chi sợi móc câu (
Uncinula), chi vỏ sợi đơn ( Sphaerotheca) và chi nấm phấn trắng
( Erisiphe). ( hình 3.17)Chúng thờng gây nên bệnh phấn trắng trên các
loài cây ăn quả, cây cao su, cây dẻ và một số cây cảnh.
(3) Các chi nấm bồ hóng thuộc Bộ nấm bồ hóng ( Meliolales). Thể sợi Nấm
mcọ trên mặt cây chủ, màu đen có sợi phụ và lông cứng. Vỏ túi hình cầu,
chứa ít túi, mỗi túi có 2-8 bào tử. Bào tử túi hình bầu dục, màu nâu có 2-4
vách ngăn. Nấm này ký sinh mạnh gây bệnh trên nhiều loài cây rừng và
cây ăn quả.
(4) Các chi nấm vỏ cầu thuộc bộ vỏ cầu ( Sphaeriales). Túi nằm trong vỏ
hình cầu, có miệng ở đỉnh. Trong bộ này ta thờng gặp các chi: vỏ đỏ
chùm ( Nectria) gây bệnh trên cây lá rộng, nấm mốc đỏ ( Gibberella)
gây bệnh lúa von, gây hại cành dâu, chi vàng trúc ( Shiraia) gây bệnh

hình thành bào tử phân sinh Hầu hết chúng sống hoại sinh. Ta thờng gặp
các chi Nấm đĩa hạch ( Sclerotinia) (hình 3.26), đĩa nấm mọc trên hạch,
chi nấm đĩa chuỗi ( Monilia) ( hình 3.27), đĩa túi dạng phễu, mọc trên
hạch nấm giả. Túi hình ống tròn, bào tử túi đơn bào không màu hình bầu
dục. Gây bệnh thối nâu quả đào, quả lê
3.1.4.4. Ngành phụ nấm đảm.
Ngành phụ nấm đảm là một loại nấm bậc cao nhất, ký sinh hoặc hoại
sinh, trong đó bao gồm cả những nấm ăn và nấm làm thuốc chữa bệnh, nh
25

Trích đoạn Đất và phân Lây lan tự nhiên Sơ xâm nhiễm và tái xâm nhiễm Điều kiện môi trờng Động thái không gian của dịch bệnh cây
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status