Chính sách công nghiệp và tài chính
ở Việt Nam
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2005-2006
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á?
quốc tế trong đó Trung Quốc và Việt Nam hoạt động vào đầu thế kỷ mới rất khác với mơi
trường vào những năm 1950 và 1960 khi Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đơng Á phát
triển sớm khác hình thành chính sách cơng nghiệp của mình. Vòng đàm phán Uruguay và
q trình tồn cầu hóa nền kinh tế diễn ra nhanh chóng đã thay đổi các luật chơi. Những gì
có thể diễn ra vào giữa thế kỷ 20 khơng còn có thể chấp nhận được vào đầu thế kỷ 21.
Chẳng hạn như, trong thập kỷ 1950 đến hết thập kỷ 1970, các nhà quản lý kinh tế ở Nhật
Bản, Hàn Quốc và tỉnh Đài Loan (Trung Quốc) có thể sử dụng thuế quan và hạn ngạch một
cách rộng rãi để thúc đẩy ngành cơng nghiệp nào đó. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngồi
(FDI) bị hạn chế nghiêm trọng. Nhật Bản và Hàn Quốc được đón chào làm thành viên của
Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) mặc dù phần lớn những gì họ đang làm
lúc đó vi phạm những ngun tắc về thương mại tự do của GATT.
Trái lại, những cuộc đàm phán của Trung Quốc để gia nhập GATT và tổ chức thay thế
cho nó, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kéo dài cho hết những năm 1990 và năm
2000 Trung Quốc vẫn còn đang đàm phán với Liên minh Châu Âu. Như hiệp định thương
mại giữa Trung Quốc với Mỹ đã thể hiện, để trở thành thành viên của WTO, Trung Quốc sẽ
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
Những sự lựa chọn thật sự nào mà hai nước phải đối mặt?
Khơng chỉ chính mơi trường mới bên ngồi buộc Trung Quốc và Việt Nam phải nghĩ ra
hướng đi mới. Những phần việc đơn giản hơn của q trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường đã được hồn tất. Nơng nghiệp và thương mại được sắp xếp lại thành các đơn vị cạnh
tranh quy mơ nhỏ mà trên thực tế là của tư nhân và hoạt động chủ yếu theo các lực lượng thị
trường. Nhiều doanh nghiệp hương trấn ở Trung Quốc và một số liên doanh với các cơng ty
nước ngồi ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam cũng hoạt động theo quy luật thị trường. Nhưng
các doanh nghiệp nhà nước quy mơ vừa và lớn cũng như các ngân hàng quốc doanh vẫn còn
nằm trong vùng tranh tối tranh sáng giữa cơ chế chỉ huy và cơ chế thị trường. Dường như
việc Trung Quốc và Việt Nam khơng hồn tất q trình cải cách đã góp phần vào sự sụt giảm
của mức tăng trưởng kinh tế năm 1998 và 1999. Do đó, nếu cứ tiếp tục các chính sách của
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
3
thập kỷ vừa qua thì rất có thể tạo nên chi phí kinh tế ngày càng cao. Rất cần một hướng đi
mới.
Việc chuyển hướng ra bên ngồi của Trung Quốc và Việt Nam bao gồm nhiều vấn đề chứ
khơng đơn giản chỉ bác bỏ các chính sách tự cung tự cấp trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung trước đây. Chú trọng vào xuất khẩu hàng cơng nghiệp chế tạo có nghĩa là phải định
hướng lại cả hệ thống cơng nghiệp. Một hệ thống hướng nội có thể sản xuất ra hàng chất
lượng thấp cho thị trường đã chiếm lĩnh; trái lại một nền cơng nghiệp hướng ngoại phải cạnh
tranh cả về chất lượng lẫn chi phí với các nhà sản xuất có năng lực nhất trên thế giới. Các kỹ
năng tiếp thị hầu như khơng được biết đến trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung tự cung tự cấp
và những kỹ năng này khơng quan trọng lắm khi xuất khẩu khống sản nhưng chúng là một
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
4
phần thiết yếu của bất kỳ chiến lược xuất khẩu hàng cơng nghiệp chế tạo nào. Hệ thống
hướng nội cũng phải sản xuất ra máy móc sắt thép cho riêng mình bởi vì phát triển đòi hỏi
phải có tư liệu sản xuất và hệ thống này khơng tạo ra lượng ngoại hối đủ để chi trả cho việc
nhập khẩu những mặt hàng này. Nền cơng nghiệp hướng ngoại có thể xuất khẩu hàng cơng
nghiệp chế tạo tiêu dùng và nhập khẩu nhiều tư liệu sản xuất cần thiết ít nhất trong giai đoạn
Trái lại, cộng đồng Hoa kiều ở hải ngoại có kinh nghiệm lâu đời trong việc sử dụng các
mối quan hệ gia đình và cá nhân rộng rãi để tạo ra mơi trường an tồn cho các khoản đầu tư
của mình và họ chẳng gặp mấy khó khăn trong việc chuyển giao những kỹ năng đó cho
Trung Quốc lục địa. Thay vì thế, các nhà đầu tư Mỹ và Châu Âu dựa vào hợp đồng và hệ
thống pháp lý mạnh hỗ trợ những hợp đồng này. Nếu như Trung Quốc buộc phải phát triển
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
5
hệ thống pháp lý của mình nhanh chóng hơn thì Trung Quốc đáng lẽ đã gặp phải khó khăn
đáng kể trong việc thực hiện điều đó. Truyền thống Khổng giáo cộng với việc xóa bỏ hồn
tồn hệ thống pháp lý trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa (1966-76) đã khiến cho Trung Quốc
chẳng có bao nhiêu nền tảng pháp lý để dựa vào đó mà phát triển lên trong giai đoạn đầu của
thời kỳ cải cách. Trung Quốc có thể và đã thật sự thơng qua hàng loạt bộ luật mới sau khi
giai đoạn cải cách bắt đầu vào năm 1978 nhưng Đảng Cộng sản và chính phủ vốn đã quen
với việc ra quyết định chỉ với sự hạn chế một phần của luật pháp khơng dễ dàng từ bỏ thẩm
quyền tùy tiện của mình. Có thể nói như vậy đối với Việt Nam. Việc hướng ngoại của
tỷ lệ tăng trưởng cao trong GDP. Kết quả là Trung Quốc vật lộn để giữ tỷ lệ tăng trưởng
GDP trên 7% và nhiều người cảm thấy rằng tỷ lệ tăng trưởng chính thức gần 8% năm 1998
đã được thổi phồng lên do báo cáo sai lệch từ các tỉnh. Tăng trưởng GDP năm 1999 theo báo
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
6
cáo là 7%. Vì nhiều lý do chưa hiểu được một cách tường tận, nhưng những lý do này có lẽ
liên quan phần nào đến tác động nâng cao năng suất của cạnh tranh nước ngồi, tăng trưởng
dựa chủ yếu vào cầu nội địa có thể khơng có khả năng duy trì lâu dài các tỷ lệ tăng trưởng
GDP cao đã đạt được trong suốt thời kỳ xuất khẩu tăng mạnh. Rõ ràng Trung Quốc cần giữ
xuất khẩu tiếp tục tăng càng nhanh càng tốt, nhưng Trung Quốc cũng cần tạo ra sự gia tăng
nhanh hơn dựa trên cầu nội địa.
Việt Nam vẫn còn là một nước xuất khẩu rất nhỏ bé và tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao của
Việt Nam có thể được duy trì trong một khoảng thời gian dài mà khơng phải đối diện với vấn
đề thị trường khơng thể hấp thu hết những gì Việt Nam sản xuất. Vấn đề đối với Việt Nam là
phải khơi mào cho cuộc bùng nổ kim ngạch xuất khẩu hàng cơng nghiệp chế tạo. Xuất khẩu
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
7
Khơng phải chỉ có định hướng của một nước nhắm đến những ngun tắc của thị trường
quốc tế mới định hình cách thức tổ chức và dẫn dắt khu vực cơng nghiệp của nước đó. Đối
với Trung Quốc và Việt Nam, bản thân cơ cấu cơng nghiệp và khu vực tài chính trước đây để
lại cũng có ảnh hưởng đáng kể đối với cách thức tổ chức cơng nghiệp và đối với vai trò của
chính phủ trong việc điều hành và kiểm sốt cơng nghiệp và tài chính. Đặc biệt Trung Quốc
đã có gần ba thập kỷ phát triển cơng nghiệp trước khi tiến hành cải cách kinh tế – gần chín
thập kỷ nếu chúng ta lùi lại giai đoạn khi những nhà máy hiện đại đầu tiên được xây dựng
vào những năm 1890. Năm 1986 hay 1989 Việt Nam có khu vực cơng nghiệp nhỏ hơn nhiều
so với Trung Quốc nhưng cũng có một số ngành cơng nghiệp, và cơng nghiệp đã được phát
triển trong bối cảnh chiến tranh và theo cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Bất kể các ngun tắc của WTO là gì, bản chất của vấn đề mà các nhà hoạch định chính
sách cơng nghiệp ở Trung Quốc gặp phải được minh họa bằng các số liệu trong Bảng 6.1 và
Hình 6.1. Trước tiên khu vực cơng nghiệp khá lớn. Năm 1999 giá trị gia tăng trong cơng
nghiệp ở mức khá cao, đến 3,5 ngàn tỉ nhân dân tệ (427 tỉ US$). Bất kỳ nhà hoạch định
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á? Dwight H. Perkins Biên Dòch: Hoàng Phương
Hiệu Đính: Xinh Xinh
8Quy mơ sản lượng chỉ là phần đầu của vấn đề. Năm 1996 Trung Quốc có gần 8 triệu
doanh nghiệp cơng nghiệp. Trong số này, 6 triệu là doanh nghiệp cá thể với số lượng cơng
nhân nhiều lắm cũng chỉ có vài người. Chỉ có 506.000 doanh nghiệp (năm 1996) được xếp
loại là “đơn vị hạch tốn độc lập”, một thuật ngữ đại khái tương đương với cơng ty trách
nhiệm hữu hạn trong thế giới các nước cơng nghiệp.
1
Dễ dàng gạt ra 7,48 triệu đơn vị cơng
nghiệp khơng phải là đơn vị hạch tốn độc lập vì quy mơ nhỏ do đó khơng quan trọng nhưng
những doanh nghiệp này tạo ra 37% tổng sản lượng cơng nghiệp (tính theo giá trị gộp) năm
1996. Việc nỗ lực chỉ đạo phần hoạt động cơng nghiệp này thơng qua các kênh phi thị
trường chẳng hợp lý gì hơn so với nỗ lực kiểm sốt các hộ nơng dân cũng bằng cách đó.
Khơng có nhà hoạch định chính sách nào ở Bắc Kinh hay thậm chí ở địa phương có thể có đủ
lượng thơng tin kịp thời để đưa ra những chỉ đạo có ý nghĩa đối với hoạt động hàng ngày của
các doanh nghiệp cơng nghiệp nhỏ.
9
độc lập tập thể này tổng cộng chiếm khoảng 30% nữa trong tổng giá trị sản lượng của tất cả
các đơn vị cơng nghiệp hạch tốn độc lập.
Hiện nay có rất nhiều tài liệu về hình thức sở hữu thực chất của các TVE, nhưng có một
điểm mà ai cũng đồng ý là những xí nghiệp này khơng phải do chính quyền trung ương và
cũng khơng phải do chính quyền cấp tỉnh sở hữu hay quản lý. Các chính quyền địa phương,
thị trấn và đơi khi là các quận huyện có vai trò quan trọng đối với các TVE nhưng họ khơng
đóng vai trò chủ yếu của người đánh thuế hay nhà điều hành đối với các TVE. Những nơi
mà các TVE thành cơng rực rỡ nhất là những nơi chính quyền tích cực đẩy mạnh sự phát
triển của các xí nghiệp địa phương. Cũng khơng phải là q đáng khi nói rằng nhiều chính
quyền địa phương ứng xử giống như các tập đồn kinh doanh nhỏ. Quyền sở hữu tài sản
được xác định tương đối rõ theo ý nghĩa rằng rõ ràng địa phương kiểm sốt hoạt động của
các xí nghiệp này, nhận lợi ích và khơng chia sẻ lợi ích này với đơn vị chính quyền cấp cao
hơn, ngoại trừ một điều là những TVE này có đóng thuế. TVE phải đương đầu với những
hạn chế ngân sách cứng, mua nhập lượng trên thị trường, bán sản lượng ra thị trường và ký
kết hợp đồng với các xí nghiệp khác, bao gồm các cơng ty quốc doanh hay nước ngồi (Xem
thêm các chương của Qian và Lin và Yao).
Như thế, 114.000 doanh nghiệp nhà nước năm 1996 chỉ sản xuất 50% sản lượng của các
đơn vị hạch tốn độc lập và 29% tổng sản lượng cơng nghiệp. Điều này tương phản với tỉ
trọng 78% của doanh nghiệp nhà nước năm 1978 và 65% năm 1985, mặc dù con số năm
1978 khơng thể so sánh chính xác với con số của năm 1985 cũng như 1996.
2
Theo những
tính tốn này, tỉ trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong tổng sản lượng cơng nghiệp đã
giảm xuống còn chưa đến 1/3 và vẫn còn có hơn 100.000 doanh nghiệp. Con số này vẫn còn
q lớn nên chính quyền trung ương khơng thể chỉ đạo một cách hiệu quả được, đặc biệt với
hệ thống kế tốn yếu kém của nhiều doanh nghiệp loại này.
10
nữa – họ cũng khơng thể bắt chước cách thức kiểm sốt đối với sự phát triển cơng nghiệp mà
Tổng thống Park Chung Hee thực hiện ở Hàn Quốc những năm 1970. Ở Hàn Quốc vào đầu
những năm 1970, 46 tập đồn cơng nghiệp lớn nhất (chaebol) chiếm 37% giá trị gia tăng
trong cơng nghiệp chế tạo và 19% tổng GDP phi nơng nghiệp. Chỉ tính riêng 5 chaebol hàng
đầu thơi cũng đã chiếm 15% giá trị gia tăng trong cơng nghiệp chế tạo. Các doanh nghiệp
quốc doanh ở Hàn Quốc lúc đó chiếm 13% nữa trong tổng GDP phi nơng nghiệp (Jones và
Sakong 1980: 148, 260-66). Do đó hơn một nửa giá trị gia tăng trong cơng nghiệp chế tạo
nằm trong tay chưa tới 200 doanh nghiệp. Tổng thống Park và các bộ trưởng của mình
thường hay gặp gỡ các vị lãnh đạo những doanh nghiệp này và thường đích thân theo dõi sự
tiến triển của chúng trong việc thực hiện chính sách cơng nghiệp tồn quốc.
Vấn đề các nhà hoạch định chính sách cơng nghiệp Trung Quốc đương đầu cũng chính là
vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách ở nhiều nơi khác phải đương đầu– dân số cực kỳ
đơng của Trung Quốc. Số lượng doanh nghiệp cần có để chiếm một nửa tổng sản lượng cơng
nghiệp Trung Quốc lên đến con số hàng trăm ngàn doanh nghiệp. Nếu Trung Quốc cố gắng
giảm con số này xuống còn khoảng vài trăm doanh nghiệp, chiếm 1/3 hoặc hơn giá trị gia
tăng trong cơng nghiệp chế tạo thì những doanh nghiệp này – sau khi được củng cố – sẽ phải
lớn gấp 10 đến 20 lần các chaebol của Hàn Quốc những năm 1970.
Rất khó nhận thấy Trung Quốc làm thế nào để có thể tiến hành chính sách cơng nghiệp
chủ động tích cực theo đường lối thúc đẩy cơng nghiệp hóa chất và cơng nghiệp nặng của
Hàn Quốc những năm 1970. Theo cách đó của Hàn Quốc thì văn phòng Tổng thống thiết kế
cách thức phát triển tồn bộ khu vực cơng nghiệp nặng, xuống đến từng nhà máy và bao gồm
cả quy mơ của từng nhà máy riêng lẻ. Sau đó văn phòng Tổng thống thương lượng với các
nhà lãnh đạo của chaebol để xác định ai sẽ là người thực hiện các kế hoạch của chính phủ.
Bằng cách này, Tổng thống Hàn Quốc, sau khi làm việc với ủy ban bao gồm vài chục chun
gia, có khả năng đưa ra những chỉ đạo thực tiễn để phát triển khu vực mà sau này chiếm hơn
một nửa tổng sản lượng cơng nghiệp chế tạo của Hàn Quốc và chiếm tỉ trọng tương đương
trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Trung Quốc đang ở giai đoạn sớm hơn nhiều của q trình tăng trưởng có thể làm cho cơ chế
này hoạt động có hiệu quả giống như Nhật Bản vào những năm 1960 và 1970. Do vậy cũng
có thể mơ hình MITI với việc chính phủ đi đầu trong nỗ lực cơng nghiệp có thể đem lại hiệu
quả tốt hơn đối với Trung Quốc so với mơ hình Hàn Quốc hay tốt hơn so với cũng mơ hình
này ở Nhật Bản những năm 1990. Tuy nhiên, rất có thể bộ máy hoạch định chính sách cơng
nghiệp của Trung Quốc quay trở về chính q khứ của Trung Quốc và hoạt động với nhiều
khía cạnh giống như Ủy ban Kế hoạch Nhà nước trước đây. Chắc chắn rằng điều đó có thể
xảy ra nếu những người thực hiện chính sách cơng nghiệp Trung Quốc đại đa số đều là các
quan chức từ bộ máy lập kế hoạch trước đây.
Các nhà hoạch định chính sách cơng nghiệp Việt Nam đã khơng và hiện nay cũng khơng
phải đối mặt với vấn đề của Trung Quốc, tức số lượng q lớn các doanh nghiệp cơng
nghiệp. Tổng số doanh nghiệp quốc doanh giảm từ 3020 năm 1989 xuống còn 1958 năm
1995, phần lớn là vì Việt Nam đóng cửa các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn khơng hiệu
quả do chính quyền địa phương quản lý. Số lượng doanh nghiệp do chính quyền trung ương
trực tiếp quản lý khơng thay đổi nhiều trong thời kỳ đổi mới (hay cải cách), tổng cộng có 549
doanh nghiệp năm 1995 (Ngân hàng Thế giới 1997: bảng 8.1; Việt Nam, Tổng Cục Thống kê
1994: 79). Thậm chí những số liệu này có phần thể hiện q cao tổng số bởi vì liên doanh
giữa doanh nghiệp nước ngồi và Việt Nam phần lớn đều được gộp trong khu vực nhà nước.
Số lượng doanh nghiệp tư nhân chỉ trên 1000; chỉ có trên 5000 hợp tác xã cơng nghiệp (giảm
từ 21.900 vào năm 1989) và thêm khoảng 368.000 cơ sở cơng nghiệp hộ gia đình (năm
1992). Tuy nhiên, tỉ trọng của khu vực quốc doanh trong tổng giá trị sản lượng cơng nghiệp
ở Việt Nam cao hơn nhiều so với Trung Quốc. Tỉ trọng của khu vực quốc doanh trong tổng
sản lượng cơng nghiệp năm 1992 là 71% và tỉ trọng này tăng trong suốt thời kỳ đổi mới
những năm 1990. Khu vực kinh tế hộ gia đình đóng góp hầu hết phần còn lại trong sản
lượng cơng nghiệp (24% năm 1992).
Do đó chính phủ trung ương Việt Nam đã trực tiếp kiểm sốt hầu hết sản lượng cơng
nghiệp thậm chí sau thập kỷ đổi mới. Bằng cách kiểm sốt vài trăm doanh nghiệp, các nhà
hoạch định chính sách chính phủ ở Hà Nội, về mặt ngun tắc, có thể chỉ đạo và giám sát hầu
trước đây. Nhưng người Châu Á, cũng giống như những người khác, cũng xem xét kinh
nghiệm của Hàn Quốc và Nhật Bản vào những năm 1960 và 1970 và kết luận rằng những
nước này chắc hẳn đã đang đi đúng hướng. Các nhà lịch sử kinh tế học từ lâu đã chỉ ra rằng
trong q trình phát triển kinh tế ở những nước đi sau, nhà nước thường đóng vai trò lớn hơn
so với các nước cơng nghiệp đi đầu. Một trong những “lợi thế của sự tụt hậu” đó là người đi
sau có thể học hỏi từ những người đi trước và viên chức cao cấp của chính phủ đơi khi có đủ
khả năng tiến hành những học hỏi cần thiết (quan điểm này được thể hiện rõ ràng nhất trong
các tác phẩm của Alexander Gerschenkron; xem Gerschenkron 1962). Các viên chức cao
cấp của chính phủ Việt Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm của Hàn Quốc và Nhật
Bản, áp dụng những gì có hiệu quả trong chính sách cơng nghiệp của các nước đó và điều
chỉnh lại hay tránh lập lại những lỗi lầm rõ ràng của Hàn Quốc hay Nhật Bản? Về vấn đề đó,
với việc Trung Quốc hạn chế vai trò của chính phủ tới mức độ có thể kiểm sốt được thì liệu
Trung Quốc có thể làm giống như thế được hay khơng?
Có ba lý do, nảy sinh từ giai đoạn gần đây và tình hình hiện nay, lý giải tại sao Việt Nam
và Trung Quốc có thể gặp khó khăn lớn trong việc thực hiện chính sách cơng nghiệp theo
kiểu Hàn Quốc hay Nhật Bản một cách hiệu quả cho dù các ngun tắc của cơ chế kinh tế
quốc tế cho phép làm như vậy. Điều trước tiên đó là bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kinh tế (economic bureaucracy) ở cả hai nước được xây dựng và đào tạo để thực hiện cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, chứ khơng phải kiểu hoạch định chiến lược mà Hàn Quốc và Nhật
Bản áp dụng. Hệ thống hoạch định chiến lược dựa nhiều vào “sự hướng dẫn”, lực lượng thị
trường, và khu vực tư nhân khi đến giai đoạn thực hiện kế hoạch. Để thực hiện kế hoạch, các
nhà hoạch định trung ương trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trơng cậy vào các mệnh
lệnh, được hỗ trợ bằng sự kiểm sốt trực tiếp đối với hầu hết nhập lượng. Việt Nam và
Trung Quốc dĩ nhiên có thể xóa đi bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế hiện nay
của mình và xét ở một mức độ nào đó thì họ cũng đã làm như thế. Năm 1998 Trung Quốc
bắt đầu giảm mạnh biên chế của chính phủ. Sau đó cả hai nước có thể xây dựng lại bộ máy
quản lý kinh tế mới theo mơ hình của Hàn Quốc và Nhật Bản. Việc cơ cấu lại như thế có thể
thực hiện được nhưng rất có thể khơng xảy ra. Điều có khả năng xảy ra hơn là chính quyết
định xây dựng hệ thống hoạch định chiến lược theo kiểu Hàn Quốc hay Nhật Bản trở thành
làm được cơng việc đó. Người ta cũng kỳ vọng các doanh nghiệp quốc doanh Hàn Quốc
hoạt động tốt xét về kinh tế và tài chính và đó là lý do chính lý giải tại sao cơng ty thép
khổng lồ POSCO hoạt động tốt được như vậy. Vào những năm 1990, khi chính trị đóng một
vai trò quan trọng trong các quyết định cơng nghiệp và kinh tế ở Hàn Quốc thì kết quả là sự
phá sản của cơng ty thép Hanbo và khủng hoảng nợ năm 1997-98.
Nhật Bản cũng tách chính trị và tham nhũng khỏi MITI vào thời hồng kim của tổ chức
này.
5
Các nhà chính trị gây ảnh hưởng rất lớn đến việc chi tiêu của nhà nước vào các cơng
trình cơng chánh nhưng các quan chức vốn là chun gia trong những ngành có liên quan lại
là người đưa ra chính sách cơng nghiệp; các chính sách tài chính và thương mại được sử
dụng để hỗ trợ quyết định có tính kỹ thuật đó. Các tiêu chuẩn kỹ thuật sử dụng khơng phải
lúc nào cũng là các tiêu chuẩn lý tưởng hay chính xác để có thể đạt được sự phát triển cơng
nghiệp hiệu quả, nhưng những người ra quyết định về chính sách cơng nghiệp cố gắng làm
điều tốt nhất cho đất nước mình. Họ khơng tạo ra đặc lợi cho chính mình hay cho những nhà
cầm quyền chính trị.
Chính trị và tham nhũng là những yếu tố thường xun xuất hiện trong cách thức đưa ra
và thực hiện các quyết định kinh tế ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc trong những năm 1990.
Các cơ quan quốc tế khi cố gắng đo lường mức độ tham nhũng ảnh hưởng đến các quyết định
kinh doanh thường xếp Trung Quốc và Việt Nam ở khoảng cuối danh sách và đứng đầu là
các quốc gia như Singapore gần như khơng có tham nhũng trong kinh doanh.
6
Các đơn vị hải quan tại cả hai nước thường đòi lại quả nếu muốn nhập khẩu hàng vào
nước mình. Các quyết định dựa vào chính trị khơng có dính líu đến tham nhũng có thể cũng
có tác hại y như vậy. Một nhà máy hóa dầu đặt tại miền Trung Việt Nam cách xa nguồn
cung và xa thị trường có thể trở thành một sự lãng phí to lớn đối với nguồn lực đầu tư còn
hạn chế của đất nước. Dự án đập Ba Núi (Three Gorges) ở Trung Quốc được thực hiện dựa
khác nhau để có thể đưa ra quyết định. Tổng thống Park Chung Hee chủ yếu dựa vào qn
đội hiện đại cộng với những người nơng dân vùng nơng thơn để có được sự ủng hộ chính trị
cho mình và ơng ta khơng cần phải mua chuộc sự ủng hộ của các chính trị gia hay tài phiệt
cơng nghiệp khác. Họ hồn tồn lệ thuộc vào ơng ấy.
Có nhiều cách để giảm vai trò chính trị trong việc ra các quyết định kinh tế. Cách dễ thấy
nhất là để cho khu vực tư nhân tự đưa ra hầu hết các quyết định của chính mình mà khơng có
sự can thiệp của nhà nước, nhưng nếu làm như vậy, Trung Quốc và Việt Nam rất khó có thể
giải quyết vấn đề làm thế nào để xây dựng được cơ sở hạ tầng cần thiết. Vì cả lý do chính trị
lẫn lý do kinh tế, chính phủ rất có thể đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển cơ sở hạ tầng
trong giai đoạn ít nhất một hoặc hai thập kỷ tới. Hầu hết các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng
tại các nước khác ở Châu Á, bao gồm Nhật Bản vào nửa đầu của thế kỷ 20, đều do nhà nước
thực hiện.
7
Nỗ lực nhằm giảm đến mức thấp nhất tác động chính trị đối với hiệu quả của
những dự án này sẽ phụ thuộc vào các biện pháp như sử dụng nhiều hơn thể thức đấu thầu
(đấu thầu cơng khai các dự án trên cơ sở cạnh tranh) và minh bạch hơn nữa (chẳng hạn như
cho phép báo chí đưa tin về những sai phạm cũng như thành cơng).
Rất nhiều các biện pháp có thể được sử dụng để kiểm sốt tình trạng tham nhũng và tìm
kiếm đặc lợi (rent seeking)
∗
nhưng các biện pháp quan trọng nhất bao gồm việc giảm đi cơ
hội thực hiện hành vi tham nhũng và tìm kiếm đặc lợi. Nếu cơ hội ít đi thì khi đó có thể kiểm
sốt số lượng mục tiêu hạn chế hơn. Hầu hết các cơ hội để tìm kiếm đặc lợi đều xuất phát từ
nỗ lực của chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế thơng qua việc cấp phép và các thủ tục
tương tự. Khi một doanh nghiệp cần xin phép một viên chức và viên chức này có quyền tùy
tiện (hay tùy ý) cấp hoặc khơng cấp phép thì cơ hội nảy sinh đối với việc chi trả khơng chính
thức và thơng thường việc này bất hợp pháp. Quyền tùy tiện thương lượng thuế hay xác định
chủng loại hàng nhập khẩu chịu thuế cũng tạo ra cơ hội giống như vậy. Danh sách còn dài
một phần là do khả năng tập trung nỗ lực vào một số ít lĩnh vực còn lại mà cơ hội tham
nhũng vẫn còn tồn tại.
Chính sách cơng nghiệp chủ động tích cực đối nghịch với nỗ lực giảm hành vi tìm kiếm
đặc lợi. Các cơng cụ được sử dụng để thực thi những sáng kiến chính sách cơng nghiệp của
chính phủ có liên quan và thậm chí đòi hỏi phải có các loại giấy phép khác nhau, sự kiểm
sốt của chính phủ đối với các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, và các khoản cho vay với lãi
suất được trợ cấp do chính phủ chỉ đạo. Thơng thường các viên chức tiến hành hình thức can
thiệp này phải được trao cho quyền tùy tiện cao độ. Đơi khi bất cứ ai nộp đơn xin đều có thể
được hưởng các khoản trợ cấp trên cơ sở chính sách cơng nghiệp, tuy nhiên điều này khơng
phải là lúc nào cũng xảy ra.
Từ những gì đã thảo luận bên trên về chính trị và tìm kiếm đặc lợi, Trung Quốc và Việt
Nam có thể rút ra ý nghĩa rất rõ ràng đối với chính sách cơng nghiệp của mình. Ngoại trừ
việc trở lại một cách kỳ diệu với tinh thần cách mạng của những năm 1950 ở Trung Quốc và
những năm 1960 và 1970 ở Việt Nam (và cơ chế giám sát rất chặt chẽ), việc đưa ra quyết
định của chính phủ ở cả hai quốc gia này sẽ bị chính trị ảnh hưởng rất nhiều. Hành vi tìm
kiếm đặc lợi cũng sẽ phổ biến khi cơ hội cho phép. Nếu hai quốc gia nỗ lực đưa vào áp dụng
chính sách cơng nghiệp theo kiểu MITI thì kết quả thường sẽ dẫn đến việc quyết định đầu tư
và các quyết định kinh tế khác thấp hơn mức tối ưu xa. Do vậy, tăng trưởng kinh tế có thể sẽ
sụt giảm và việc tìm kiếm đặc lợi có thể làm xói mòn chính khả năng đáng tin cậy của chính
phủ.
Điều tương tự như vậy cũng đã và đang xảy ra khơng phải vì Trung Quốc và Việt Nam
đưa vào áp dụng mơ hình cơ chế của Hàn Quốc và Nhật Bản mà chính bởi vì nhiều chính
sách can thiệp của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây vẫn chưa bị loại bỏ. Mối nguy
hiểm nằm ở chỗ sức hấp dẫn trong cách tiếp cận của Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ dẫn đến các
quyết định vốn thật sự làm cho chính sách phát triển cơng nghiệp rơi vào khu vực tranh tối
tranh sáng giữa cơ chế kế hoạch hóa và cơ chế thị trường. Giải pháp thay thế khác là Trung
Quốc và Việt Nam phải loại bỏ hầu hết các thủ tục can thiệp vào sự vận hành của thị trường.
đáng kể vào các chiến lược thay thế hàng nhập khẩu và vào việc nhà nước tiếp tục chi phối
tất cả ngoại trừ các doanh nghiệp nhỏ nhất và các doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngồi
kiểm sốt hay quản lý. Nhiều nhà đầu tư nước ngồi bắt đầu rút ra khỏi Việt Nam năm 1998
và 1999, một phần do các cuộc khủng hoảng tại đất nước của mình, nhưng một phần cũng do
gặp phải khó khăn khi phải đối phó với tình trạng quan liêu của bộ máy quản lý nhà nước.
Chừng nào tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn cao – trung bình khoảng 9%/ năm từ
năm 1992 cho tới hết năm 1997 trước khi giảm xuống còn từ 4-5%/ năm vào năm 1998 và
1999 – thì chừng đó vẫn còn chưa thể có sự thay đổi căn bản về cách tiếp cận đối với phát
triển cơng nghiệp. Tuy nhiên, nếu mức tăng trưởng giảm mạnh hay thậm chí nếu vẫn ở mức
như năm 1998 và 1999 thì những tranh cãi về tương lai của chính sách cơng nghiệp sẽ trở
nên sơi nổi hơn.
So với Việt Nam, Trung Quốc đã đi xa hơn trong các cuộc tranh luận của mình đối với vai
trò thích hợp của nhà nước trong cơng nghiệp. Quyết định đẩy mạnh các cuộc đàm phán để
gia nhập WTO là ví dụ tốt nhất cho thấy rằng nhiều nhà lãnh đạo kinh tế Trung Quốc đã nhận
ra nhu cầu cần có bước tiến quyết định để thực hiện những ngun tắc của cơ chế kinh tế
tồn cầu. Tương tự, quyết định của chính phủ trung ương chỉ trực tiếp kiểm sốt 500 doanh
nghiệp nhà nước, hay thậm chí 1000, có thể được xem như việc loại bỏ bớt vai trò trực tiếp
rộng lớn của nhà nước trong sự phát triển cơng nghiệp theo đường lối của Hàn Quốc những
năm 1970. Vai trò can thiệp vào cơng nghiệp trực tiếp từ trung ương hiện vẫn còn ở Trung
Quốc nhằm vào hai mục tiêu hạn chế hơn. Mục tiêu thứ nhất là chọn một ngành cơng nghiệp
nào đó, hay nhiều nhất là vài ngành, và sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước để làm cho ngành
cơng nghiệp đó đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Còn mục tiêu thứ hai là cho
các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ thêm thời gian để một là có khả năng sinh lợi
trở lại, hai là phá sản nhưng phải bảo đảm khơng gây xáo trộn về mặt chính trị. Vấn đề các
doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ sẽ được xem xét ở phần tiếp theo của chương này.
Nỗ lực của chính phủ Trung Quốc trong việc phát triển một hoặc vài ngành cơng nghiệp
then chốt có thể được xem như là chiến lược ngành cơng nghiệp non trẻ, mặc dù một số
doanh nghiệp loại này đã tồn tại trong nhiều thập kỷ. Hay chúng ta có thể coi nỗ lực đó là
Trung Quốc khơng phải lúc nào cũng dễ dàng làm cho các cơ quan có thẩm quyền tại địa
phương tn thủ những gì họ đã ký kết. Dẫu vậy, chẳng có mấy ai nghi ngờ thực tế là nỗ lực
thúc đẩy gia nhập WTO cho thấy rằng nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận ra nhu cầu phát
triển các ngành cơng nghiệp chiến lược của mình theo cách thức phù hợp với những ngun
tắc của hệ thống thương mại mở, đúng như quy định trong các hiệp định quốc tế chi phối cơ
chế tồn cầu.
Có nhiều lý do có sức thuyết phục lý giải tại sao Trung Quốc vẫn còn chịu nhiều áp lực
buộc tiến đến nền kinh tế thị trường hồn tồn với việc chính phủ giảm mạnh sự can thiệp
của mình trong việc phát triển khu vực cơng nghiệp. Khu vực này q lớn và bao gồm q
nhiều (hàng ngàn) doanh nghiệp, đến nỗi Bắc Kinh khơng thể kiểm sốt một cách có hiệu
quả. Có q nhiều yếu tố chính trị và tìm kiếm đặc lợi trong q trình ra quyết định kinh tế
của Trung Quốc đến nỗi khơng thể đưa ra các quyết định phát triển cơng nghiệp chủ yếu dựa
trên các tiêu chuẩn kinh tế và kỹ thuật thích hợp. Và các ngun tắc của hệ thống thương
mại thế giới – các ngun tắc mà Trung Quốc phải dựa vào đó để tiếp tục phát triển hàng
xuất khẩu của mình – rõ ràng mâu thuẫn với chính sách trọng thương tương tự như các chính
sách mà các nước khác ở Đơng Á trước đây áp dụng.
Có phải những lý do thuyết phục nêu trên có nghĩa rằng Trung Quốc sẽ từ bỏ nỗ lực duy
trì chính sách cơng nghiệp chủ động tích cực theo mơ hình Hàn Quốc và Nhật Bản hay theo
một mơ hình nào khác? Dẫu cho đối với một quan sát viên là nhà kinh tế bên ngồi Trung
Quốc, các lập luận trên có sức thuyết phục đến đâu đi nữa thì cũng sẽ phải mất một thời gian
dài trước khi những lập luận như vậy được chấp nhập hồn tồn ở Trung Quốc, đặc biệt ở
cấp địa phương, nơi mà phần lớn các quyết định liên quan đến việc thực thi những ngun
tắc tồn cầu sẽ diễn ra. Nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã có kinh nghiệm trong bộ
máy kế hoạch hóa tập trung. Hơn nữa, Trung Quốc đã có hàng thế kỷ cai trị với bộ máy
hành chính tập trung. Thái độ và cách làm việc đã ăn sâu như thế khơng thể biến mất một
sớm một chiều được. Nhưng các yếu tố truyền thống khơng quyết định tất cả. Khi truyền
thống và kinh nghiệm cá nhân mâu thuẫn với những đòi hỏi của tình hình hiện tại thì thơng
thường truyền thống và kinh nghiệm phải nhường bước. Q trình này phải mất nhiều thời
Con đường dẫn đến cải cách doanh nghiệp nhà nước
Cho đến lúc này, bài viết tập trung thảo luận về vai trò của chính sách cơng nghiệp của chính
phủ trong việc định hình sự phát triển các doanh nghiệp cơng nghiệp ở Trung Quốc và Việt
Nam. Những người đưa ra quyết định về cách thức tổ chức các doanh nghiệp này phải đối
mặt với những sự lựa chọn nào?
Hầu hết các vấn đề ở đây liên quan đến việc Trung Quốc và Việt Nam nên tiến hành hồn
tất q trình cải cách doanh nghiệp nhà nước như thế nào. Dĩ nhiên, có nhiều vấn đề trong
lĩnh vực này khơng liên quan đến vấn đề khó khăn của doanh nghiệp nhà nước. Chẳng hạn,
câu hỏi liệu các TVE có phải là làn sóng cơng nghiệp trong tương lai của Trung Quốc hay
khơng và nếu có thì chúng sẽ phải thay đổi như thế nào để vẫn có tính cạnh tranh. Vấn đề
này, cũng giống như nhiều vấn đề khác, có thể được xác định trước hết bởi các lực lượng thị
trường và sau đó mới được xác định bởi những ngun tắc do Bắc Kinh định ra. Các TVE
Trung Quốc cũng là chủ đề thảo luận trong chương 7 của Lin và Yao, trong tài liệu này.
9
Tuy nhiên vấn đề khó khăn của doanh nghiệp nhà nước khơng phải là vấn đề chỉ cần để cho
các lực lượng thị trường giải quyết là có ngay giải pháp. Nói cách khác, một mình các lực
lượng thị trường chỉ có thể “giải quyết” vấn đề khó khăn của doanh nghiệp nhà nước nếu các
chính phủ Việt Nam và Trung Quốc cho phép các lực lượng thị trường làm điều này, nhưng
cả hai chính phủ khơng sẵn lòng cho phép thị trường tự do áp đặt giải pháp, vì nhiều lý do
chính trị hoặc xã hội, trong số nhiều lý do khác.
Có nhiều góc độ để xem xét vấn đề khó khăn của doanh nghiệp nhà nước. Trong nhiều
năm Trung Quốc và Việt Nam nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ là trao cho các doanh
nghiệp này sự tự chủ hạn chế. Phần thưởng dựa trên thành tích hoạt động của các đơn vị,
hàng hóa sản xuất vượt mức chỉ tiêu chính phủ giao có thể đem bán với giá cao hơn trên thị
trường, và có thể mua các nhập lượng trên thị trường nếu hệ thống phân bổ của nhà nước
khơng có các nhập lượng này. Khi hệ thống phân bổ của nhà nước dần dần khơng còn nữa
trong các lĩnh vực từ hóa dầu cho đến sắt thép trước đây đều do các doanh nghiệp nhà nước
đóng vai trò chủ đạo, và nhiều doanh nghiệp trong số này vẫn chưa được tư nhân hóa.
Những doanh nghiệp nhà nước này hướng chủ yếu vào thị trường nội địa và khơng phải là
nguồn gốc cho thành quả xuất khẩu năng động của Đài Loan nhưng chúng cũng khơng làm
trì trệ nhiều lắm đối với khả năng xuất khẩu của Đài Loan.
Cần phải có các điều kiện nghiêm ngặt để đi đến thành cơng đối với doanh nghiệp nhà
nước ở những nơi khác của Châu Á. Tất cả những doanh nghiệp này đều được hưởng một
mức độ tự chủ cao. Thành tích hoạt động của ban giám đốc được đánh giá chủ yếu hay thậm
chí duy nhất dựa vào khả năng tạo ra lợi nhuận lâu dài cho doanh nghiệp. Ở đây hầu như
khơng có tình trạng đa mục tiêu – các doanh nghiệp nhà nước ở những nơi khác trên thế giới
thường được áp đặt nhiều mục tiêu. Quyền tự chủ và định hướng lợi nhuận thường khó đạt
được. POSCO được điều hành bởi một cá nhân mà về phương diện chính trị có nhiều ảnh
hưởng hơn so với hầu hết các vị bộ trưởng đương thời. Singapore có khả năng tách rời hồn
tồn các doanh nghiệp nói trên khỏi các yếu tố chính trị địa phương.
Trung Quốc và Việt Nam phải làm gì để cho các doanh nghiệp nhà nước quy mơ lớn
thành cơng và liệu những điều cần phải làm có khả thi trong bối cảnh Trung Quốc và Việt
Nam hay khơng?
10
Khơng có gì là bí mật đối với việc cần phải làm gì. Các doanh nghiệp
nhà nước phải được trao cho quyền tự chủ hồn tồn và chủ yếu đáp ứng đối với các lực
lượng thị trường mà thơi. Những bước đi cần thiết để đạt được mục đích đó đã được thảo
luận rất nhiều tại Trung Quốc và ít hơn một chút tại Việt Nam. Sau đây là những vấn đề
chính yếu.
Trước hết, các doanh nghiệp nhà nước phải tự đứng trên đơi chân của mình về mặt tài
chính và đối mặt với hạn chế ngân sách cứng. Tiền vay phải được hồn trả theo lãi suất thị
trường, mà nếu khơng làm được như vậy sẽ dẫn đến phá sản. Thuế phải dựa trên các luật lệ
và thuế suất cố định và khơng phụ thuộc vào sự thương lượng giữa doanh nghiệp và người
khẩu và bức tường bảo hộ cũng cao như thế tránh khỏi khu vực tư nhân vốn khơng được cấp
giấy phép cần có để hoạt động trong những lĩnh vực mà các doanh nghiệp nhà nước đang
tham gia mạnh mẽ.
Thứ hai, ban giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước phải được chọn bởi những người
mà mối quan tâm chủ yếu hoặc duy nhất là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Trái lại tại
Trung Quốc và Việt Nam, các nhà quản lý thường do các cán bộ cao cấp của đảng hay chính
phủ chọn. Những người này áp dụng nhiều tiêu chí để chọn lựa mà chỉ có một trong số các
tiêu chí đó là lợi nhuận. Một giải pháp cho vấn đề này có thể là tư nhân hóa doanh nghiệp
nhà nước và cuối cùng đó có thể là giải pháp được lựa chọn. Tuy nhiên, về mặt chính thức,
cả hai nước bác bỏ việc tư nhân hóa hồn tồn. Trái lại, Trung Quốc quyết định gỡ bỏ trách
nhiệm của chính quyền trung ương đối với số phận của tất cả các doanh nghiệp nhà nước trừ
500 trong số 2000 doanh nghiệp nhà nước, điều này thực chất là cho phép tư nhân hóa rộng
khắp dưới một hình thức nào đó. TVE cũng được hưởng hầu hết các quyền sở hữu tài sản
mà các doanh nghiệp tư nhân được hưởng mặc dù người chủ thực hiện những quyền này là
thị trấn hay làng xã. Việt Nam chưa quyết định tư nhân hóa tất cả các doanh nghiệp nhà
nước của mình trừ một số doanh nghiệp lớn.
Cả Trung Quốc và Việt Nam đã thử nghiệm cơ chế cổ phần hóa hay cơng ty hóa khác với
tư nhân hóa. Tại Việt Nam, tính cho đến 1998, chỉ có một tá doanh nghiệp nhà nước được cổ
phần hóa trong khi con số đó ở Trung Quốc lên đến nhiều ngàn. Cổ phần hóa có thể trở
thành cơng cụ để tạo ra các hội đồng quản trị mà hội đồng này có thể bảo đảm các nhà quản
lý xí nghiệp chủ yếu chú trọng vào kiếm lợi nhuận chứ khơng phải là làm hài lòng cấp trên
của họ trong chính phủ hay trong đảng. Các cổ đơng khơng nhất thiết phải là các cá nhân
hay tổ chức. Các doanh nghiệp nhà nước hay các định chế khác như quỹ hưu bổng cơng
cộng có thể là thành viên quan tâm đến lợi nhuận trong hội đồng quản trị cơng ty. Tại Việt
Nam, về mặt ngun tắc, hội đồng quản trị có quyền th hoặc đuổi việc các giám đốc và đó
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Tuy nhiên, các chi phí xã hội và chính trị khác cũng có liên quan đến việc cải cách các
doanh nghiệp nhà nước. Một chi phí làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo lắng nhất là
khả năng phá sản sẽ dẫn đến thất nghiệp hàng loạt và bất ổn xã hội. Hàng triệu cơng nhân đã
bị cho nghỉ việc từ năm 1997 cho đến hết năm 1999 và một số bất ổn nhất định đã xảy ra. Hệ
thống bảo hiểm thất nghiệp tồn tại nhưng phạm vi của nó chưa bao phủ tồn quốc. Việt Nam
khơng gặp phải vấn đề tương tự một phần là do chính phủ, ngay khi kiểm sốt được lạm phát,
đã chấm dứt q trình giảm biên chế các doanh nghiệp nhà nước. Ngồi ra lao động trong
khu vực quốc doanh ở Việt Nam chỉ có 700.000 cơng nhân so với 42,8 triệu cơng nhân trong
các xí nghiệp cơng nghiệp nhà nước ở Trung Quốc.
Các vấn đề chính trị của việc cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc trở nên trầm
trọng hơn do những doanh nghiệp này cấp hầu hết nhà cửa, lương hưu và tất cả bảo hiểm y tế
cho nhân viên của mình. Các khoản nợ lương hưu q lớn là một lý do tại sao có q nhiều
doanh nghiệp nhà nước đang thua lỗ. Bảo hiểm y tế dành cho cơng nhân viên trong các
doanh nghiệp nhà nước cũng nhiều hơn so với bất kỳ người nào khác ở Trung Quốc. Phá sản
doanh nghiệp có nguy cơ đe dọa sức khỏe, lương hưu và nhà cửa của những cơng nhân viên
này. Nhiều cuộc thử nghiệm với ý định hướng đến hệ thống quốc gia về lương hưu và y tế
đã được tiến hành tại Trung Quốc trong nhiều năm. Việc trợ cấp nhà cửa cũng dần dần được
loại bỏ thơng qua q trình tư nhân hóa hoặc bằng cách tính tiền th theo giá thị trường đối
với bất động sản nhà nước. Nhưng q trình này ở Trung Quốc diễn ra chậm chạp và khó
khăn.
Bất kể các vấn đề chính trị xung quanh nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay thế hệ thống
dựa vào doanh nghiệp bằng hệ thống quỹ hưu bổng và phúc lợi quốc gia, các vấn đề đó đều
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
Sự hỗ trợ của Việt Nam đối với FDI có phần hạn chế hơn so với Trung Quốc, một phần là
do Việt Nam chưa quyết định được cách làm thế nào để đối xử với các doanh nghiệp tư nhân
một cách tổng qt hơn. Bất chấp các vấn đề khó khăn mà nhà đầu tư nước ngồi gặp phải
tại Việt Nam – các vấn đề dẫn đến việc FDI sụt giảm năm 1998 và 1999 – chúng ta có thể nói
rằng các nhà đầu tư nước ngồi vẫn còn được đối xử tốt hơn so với các doanh nghiệp tư nhân
trong nước. Khu vực sản xuất hàng cơng nghiệp chế tạo xuất khẩu của Việt Nam, dù nhỏ,
nhưng hồn tồn phụ thuộc vào FDI.
Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều khơng dựa nhiều vào FDI để phát triển như Singapore
và Hồng Kơng, và cả hai nước cũng sẽ khơng, cho dù họ phải làm như vậy, dành cho các
doanh nghiệp nước ngồi sự đối xử quốc gia một cách rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực. Đơn
giản là khơng có đủ FDI trên thế giới để mang lại cho một quốc gia có 1,2 tỉ người những gì
mà FDI đã mang lại cho một quốc gia có 2,8 triệu người hay cho một lãnh thổ có 5,8 triệu
người. Hồng Kơng là một phần của Trung Quốc và cơ chế kinh tế Hồng Kơng có ảnh hưởng
lớn đến cách thức điều hành kinh doanh tại tỉnh láng giềng Quảng Đơng và các tỉnh khác.
Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam khơng đi theo cách tiếp cận của Nhật Bản và Hàn Quốc
đối với đầu tư trực tiếp nước ngồi nhưng nhiều người ở Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn say
mê các tập đồn lớn của Nhật Bản và Hàn Quốc (chaebol ở Hàn Quốc và keiretsu ở Nhật Bản).
Do đó, chính phủ Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu tiến hành thành lập các tập đồn lớn cho
riêng mình. Thường thì điều này bao gồm nhập một số doanh nghiệp lại với nhau thành một
đơn vị lớn. Trong một số trường hợp, các cơ quan nhà nước có quan hệ với những doanh
nghiệp này cũng được gộp chung trong các tập đồn mới. Người ta tin rằng những đơn vị có
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á?
tập đồn khác nhưng có q nhiều ngàn jituan đến mức chúng khơng hề giống tí nào với
chaebol của Hàn Quốc hay keiretsu của Nhật Bản; và chúng cũng khơng phải là bộ máy
hoạch định chính sách của Trung Quốc giả dạng. Do đó q trình sáp nhập hay mua lại hay
nắm quyền kiểm sốt đã bắt đầu tiếp nhận một số đặc tính của các q trình tương tự trong
các nền kinh tế thị trường mặc dù vai trò của chính phủ vẫn còn rất lớn.
Việc có các tập đồn lớn trong bối cảnh của Trung Quốc hay Việt Nam thì khơng nhất
thiết có gì sai cả. Cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiện hữu là sản phẩm của cơ chế kế hoạch
hóa tập trung trước đây và trong nhiều trường hợp có lẽ khơng hợp lý mấy theo cơ chế thị
trường hiện nay. Vấn đề là có phải các viên chức chính phủ là những người thích hợp để
quyết định việc thành lập một tập đồn nào đó khơng hay quyết định thành lập đó nên để cho
lực lượng thị trường. Nhưng nếu q trình này để cho lực lượng thị trường thì liệu các doanh
nghiệp nhà nước có đủ khả năng thực hiện các bước đi cần thiết để sáp nhập với các doanh
nghiệp khác? Giải đáp phần nào cho câu hỏi này trong trường hợp của Trung Quốc là các
doanh nghiệp lớn quốc doanh và ngồi quốc doanh thực sự đang trong q trình sáp nhập và
mua lại hoặc nắm quyền kiểm sốt. Tuy nhiên nếu muốn q trình này diễn tiến sn sẻ và
hiệu quả thì chính phủ sẽ phải đưa ra các ngun tắc theo đó một doanh nghiệp có thể sáp
nhập hoặc mua lại hay nắm quyền kiểm sốt một doanh nghiệp khác. Cho đến cuối những
1990, chính phủ Trung Quốc và Việt Nam đóng vai trò người ra quyết định tùy tiện chứ
khơng phải là người tạo ra luật chơi. Tuy nhiên nếu chính phủ thật sự chủ yếu đóng vai trò
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Chính sách công nghiệp và tài chính ở
Trung quốc và Việt nam: mô hình mới
hay chỉ là sự lặp lại kinh nghiệm của đông á?
cơng suất từ 2 đến 4 tấn mà thơi.
Tuy vậy, dường như cơ cấu tổ chức cơng nghiệp của Trung Quốc ít tập trung hơn so với
diện tích cho phép của mình. Trung Quốc khơng phải là vùng đất của các tập đồn khổng lồ
theo mơ hình của Hàn Quốc và cũng khơng phải vùng đất của các tập đồn được sự hỗ trợ
của hàng ngàn doanh nghiệp cung ứng nhỏ phụ thuộc giống như của Nhật Bản. Cùng với
hàng chục ngàn hợp tác xã và các xí nghiệp tư nhân ở đơ thị, đó là chưa kể đến hàng ngàn
liên doanh nhỏ với các doanh nghiệp Hồng Kơng và Đài Loan, sự bùng nổ của TVE đã làm
thay đổi cơ cấu cơng nghiệp Trung Quốc có lẽ trong một thời gian rất dài. Nếu trước đây
Trung Quốc tiếp tục phát triển cơng nghiệp theo lối Stalin của những năm 1950 với việc nhấn
mạnh vào các ngành cơng nghiệp nặng ở Đơng Bắc thì Trung Quốc giờ đây có thể có một cơ
cấu tổ chức rất khác. Thay vào đó, Trung Quốc chủ động vạch ra con đường phát triển riêng,
dựa nhiều hơn hẳn vào các nhà sản xuất chế tạo quy mơ nhỏ rải rác ở khắp đất nước.
Chương trình cơng nghiệp hóa quy mơ nhỏ này khởi đầu một cách thảm hại với chương trình
sắt thép “sân sau” nhưng đã tiến hành nhiều điều chỉnh lớn và những xí nghiệp nhỏ này đã
phục vụ Trung Quốc rất tốt trong vòng hai hay ba thập kỷ qua. Kinh nghiệm của Trung
Quốc khơng giống hồn tồn với bất kỳ quốc gia nào khác ở Châu Á. Trường hợp gần giống