Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân
Triết học này, tôi xin chân thành cảm ơn đến các
thầy, cô giáo trong Khoa Lý luận Chính trị,
Trường Đại học Khoa học Huế; đặc biệt tôi xin
bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.s
Phan Doãn Việt, người đã tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện
Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thư
viện Trường Đại học Khoa học Huế, Trung tâm học
liệu Đại học Huế, gia đình, bạn bè đã tạo những
điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình
làm khóa luận.
Dù có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi
những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô giáo góp
ý để Khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trương Thị Hoài My
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
TW : Trung ương
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
CNH : Công nghiệp hóa
HĐH : Hiện đại hóa
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
Quan điểm toàn diện mà cơ sở lý luận của nó là nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy
vật macxít, là cẩm nang giúp chúng ta tránh được những đánh giá phiến diện,
sai lệch giản đơn về sự vật, hiện tượng. Nguyên lý này chỉ rõ tất cả các sự vật,
hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ. Vì vậy nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến của phép biện chứng duy vật có vai trò lớn trong chỉ đạo hoạt động thực
tiễn và nhận thức của con người trong đó có vấn đề giáo dục và đào tạo.
Ngày nay, khi Đảng và nhà nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hội
nhập quốc tế, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức lớn. Thực tiễn đó
đặt ra nhiều vấn đề đổi mới đối với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề
quan trọng là đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu
CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập
quốc tế.
Trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) đã đề ra công cuộc đổi mới căn bản
toàn diện về giáo dục và đào tạo được thực hiện theo tinh thần: “giáo dục và đào
tạo là một hệ thống xuyên suốt từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo
dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học; giáo dục chính quy và giáo dục thường
xuyên; giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội; chất lượng giáo dục phụ thuộc
vào các yếu tố đầu vào, quá trình đào tạo đến sử dụng kết quả đầu ra. Phát triển
giáo dục và đào tạo phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn
hóa của dân tộc, vừa đáp ứng yêu cầu hiện tại, vừa đón đầu những đòi hỏi của
tương lai và cần được ưu tiên đầu tư đi trước một bước, đảm bảo đồng bộ cả về
cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngủ nhà giáo”.
1
Bên cạnh các thành tựu và đóng góp quan trọng của giáo dục và đào tạo
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những yếu kém bất cập kéo dài
nhiều năm của giáo dục, đào tạo, đồng thời yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
đòi hỏi phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, từ quan điểm,
cơ sở lý luận về mối liên hệ phổ biến đã được nhiều tác giả nghiên cứu, chẳng
hạn: “ Lịch sử phép biện chứng” (6 tập) của Viện Hàn Lâm khoa học Liên
Xô, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “ Giáo trình Mác - Lênin” (2010),
Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội; Giáo trình trung cấp lý luận chính trị
“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”, Nxb, Lý luận chính
trị, học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,(2004); Quan điểm giáo dục và
đào tạo của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng ta.
Đối với việc vận dụng quan điểm toàn diện của Đảng ta trong Nghị
quyết TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
đáp ứng yêu cầu CHH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đây là vấn đề mới nên ít tác giả đề cập
và được quán triệt trong văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp Hành Trung
ương khóa XI của Đảng và trong các văn kiện đại hội của Đảng trong các
năm các nhiệm kì.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài: làm cơ sở lý luận của quan điểm toàn
diện, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm giáo dục và đào tạo
3
của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta vào công cuộc đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục và đào tạo trong nghị quyết TW 8 (khóa XI).
Để thực hiện mục đích đó khóa luận có 2 nhiệm vụ:
Một là: Trình bày quan điểm toàn diện – cơ sở lý luận của nó là mối
liên hệ phổ biến và quan điểm về giáo dục và đào tạo của chủ nghĩa Mác –
Lênin và của Đảng ta.
Hai là: Sự vận dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm toàn
diện và sự vận dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi mới
đào tạo
Chương 2: Sự vận dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
2.1. Những yêu cầu cấp bách của giáo dục và đào tạo đối với sự nghiệp
CNH, HĐH
2.2. Đánh giá chung về tình hình phát triển của sự nghiệp giáo dục và
đào tạo trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH
2.3. Sự vận dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN, QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1. Cơ sở lý luận về quan điểm toàn diện
Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến.
1.1.1. Khái niệm “mối liên hệ”
Thế giới được tạo thành từ những sự vật hiện tượng những quá trình
khác nhau. Vì vậy, chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau hay tồn tại biệt lập với nhau.
Theo từ điền Tiếng Việt, thì “mối” là “ đoạn đầu của sợi dây, sợi chỉ
dùng để buộc thắt lại với nhau; chổ nối , chổ thắt, chổ từ đó có thể quan hệ
với một tổ chức, cơ sở liên lạc”[20;640]. Còn “liên hệ” là chỉ sự vật, sự việc
có quan hệ làm cho ít nhiều tác động đến nhau, dựa trên những mối quan hệ
nhất định”[20;567]. Như vậy, mối liên hệ có thể được hiểu theo cách là sự
quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình
trong tự nhiên, xã hội và tư duy theo một cách thức, con đường của nó.
Theo quan điểm biện chứng, khái niệm “liên hệ” phản ánh sự phụ
thống nhất vật chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực là cơ sở khách
quan của sự liên hệ phổ biến. Khái niệm liên hệ phổ biến được hình thành như
một trong những kết quả của sự khái quát thực tiễn và tri thức khoa học.
Phép biện chứng nói chung đều thừa nhận mối liên hệ phổ biến của
những sự vật, hiện tượng, quá trình cấu thành thế giới. Tuy vậy, khi nói về cơ
sở của sự liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm, coi cơ sở của sự liên hệ
phổ biến là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm
khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không
7
khoa học. Đứng trên quan điểm duy vật khoa học, phép biện chứng duy vật
khẳng định rằng, cơ sở của sự liên hệ là ở tính thống nhất vật chất của thế
giới. Theo quan điểm này, các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,
khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại
khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất. Ngay cả tư
tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc
tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của
chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.
Vượt lên trên quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật cho rằng
không thể hiểu được bất cứ một hiện tượng nào trong tự nhiên nếu người ta
tách nó ra khỏi những hiện tượng chung quanh mà ta xét. Vì bất cứ một hiện
tượng nào trong bất kỳ một lĩnh vực nào của tự nhiên cũng đều có thể biến
thành một cái vô nghĩa, nếu người ta tách nó ra khỏi những điều kiện chung
quanh để xét nó ngoài những điều kiện đó; trái lại, bất cứ hiện tượng nào cũng
đều có thể hiểu được, có thể chứng minh được, nếu người ta xét nó trong điều
kiện là nó có sự liên hệ không tách rời với những hiện tượng chung quanh chế
ước. Tự nhiên không phải như là một sự tích lũy ngẫu nhiên của các sự vật,
các hiện tượng tách rời nhau, riêng biệt và độc lập với nhau, mà như là một
thể thống nhất, có liên hệ nội bộ, trong đó các sự vật, hiện tượng đều có những
mối liên hệ hữu cơ với nhau, đều thúc đẩy lẫn nhau và chế ước cho nhau.
Luận điểm trên đây có một ý nghĩa rất lớn. Người ta không chú trọng
Các sự vật, hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa
thì cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế
giới vật chất. Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi
vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là
bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của quá
trình vật chất khách quan.
Như vậy, theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các
sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan. Theo quan điểm đó, sự
9
quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật,
hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập
không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người chỉ có thể nhận thức và
vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Ăngghen nhấn mạnh rằng hình thức của tính phổ biến là hình thức của
cái hoàn thành bên trong, là sự kết hợp nhiều cái hữu hạn thành cái vô hạn
Trong khoa học tự nhiên, hình thức biểu hiện của tính phổ biến là quy luật,
quy luật này cho phép dự kiến trước sự diễn biến của các quá trình và các
hiện tượng khác nhau trong điều kiện nhất định, tức là cho phép kế hoạch hóa
một cách hợp lý hoạt động sản xuất.
Để thấy rõ sự biểu hiện của mối liên hệ có tính phổ biến trong các sự
vật, hiện tượng và quá trình, chúng ta xem xét nó thông qua mối liên hệ giữa
các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật. Bởi vì, phạm trù là
những khái niệm rộng nhất phản ánh những đặc điểm, những thuộc tính hay
những mối liên hệ chung nhất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách
quan. Lênin viết: “ Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự
nhiên. Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên,
những phạm trù là những giai đoạn của sự tách biệt đó, tức là của sự nhận
thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và
nắm vững màng lưới”[13;102].
Chính điều đó đã tạo nên một thế giới phong phú, đa dạng nhưng vẫn vận
động theo quy luật chung.
Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị
sự tồn tại của mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ
cái riêng, từ những sự vật riêng lẽ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan
của con người bên ngoài cái riêng.
11
Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng nên nhận thức
phải tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để
tạo ra cái riêng. Mặt khác, cái chung lại biểu hiện thông qua cái riêng, nên
khi áp dụng cái chung phải tùy theo cái riêng cụ thể để vận dụng cho nó
thích hợp.
Thứ hai, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
Mọi kết quả đều do nguyên nhân gây ra. Không có nhân thì không có
quả. Vì vậy, nguyên nhân phải có trước, kết quả có sau. Tất nhiên, mọi cái có
trước kết quả chưa hẳn đã là nguyên nhân, nhưng đã là nguyên nhân thì phải
có trước kết quả. Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng không phải cứ một
nguyên nhân thì cho một kết quả. Trong thực tế có nguyên nhân sinh ra nhiều
kết quả và ngược lại một kết quả lại do nhiều nguyên nhân. Điều này có thể
xảy ra trong mọi lĩnh vực, nhưng phức tạp nhất trong lĩnh vực xã hội. Xã hội
vốn là sự tổng hợp của những mối quan hệ đa dạng, đang chéo nên thường
quan hệ nhân quả cũng không đơn giản. Vì vậy, trong nhiều trường hợp nếu
không tính toán đầy đủ có thể rơi vào quan điểm phiến diện, giản đơn.
Khi nhân tạo ra quả thì lại trở thành một tác nhân để sinh ra quả khác
và cứ thế quan hệ nhân quả tiếp nối đến vô cùng tận. Vì vậy, khi xác định
quan hệ nhân quả thực tế chỉ là xác định một mắt khâu của quá trình vận động
mà thôi.
Vì một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân và vai trò của các
nguyên nhân không giống nhau nên triết học Mác chia nguyên nhân ra
thành nhiều loại.
dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa cái tất nhiên tức phạm trù chỉ cái do
những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong
những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như vậy với cái ngẫu nhiên một
13
phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất,
bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp nhiều
hoàn cảnh bên ngoài quyết định và có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện,
có thể xuất hiện như thế này, hoặc có thể xuất hiện khác đi.
Mối quan hệ này được Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định đều
tồn tại một cách khách quan. Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan
trọng trong sự phát triển của tự nhiên cũng như của xã hội. Tất nhiên bao giờ
cũng được thể hiện qua cái ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là sự thể hiện của cái
tất nhiên trong một điều kiện, một hoàn cảnh cụ thể. Nếu cái tất nhiên có tác
dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm cho
sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hay chậm. Ăngghen viết: “… cái mà
người ta quả quyết cho là tất yếu là hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy
cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên, lại là hình thức, dưới đó ẩn nấp cái
tất yếu”[15;431].
Trong mối quan hệ xác định, cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên có thể đổi
chổ cho nhau. Điều đó có nghĩa là xét trong mối quan hệ này là tất nhiên,
nhưng trong mối quan hệ khác lại là ngẫu nhiên.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau,
chúng không tồn tại dưới dạng biệt lập thuần túy cũng như không có cái ngẫu
nhiên thuần túy. Sự thống nhất này thể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng
thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn cái ngẫu
nhiên và hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho
cái tất nhiên. Điều đó có nghĩa là cái tất nhiên bao giờ cái khuynh hướng của
sự phát triển và mỗi khi biểu lộ mình thì khuynh hướng ấy bộc lộ ra những cái
ngẫu nhiên nào đó. Còn tất cả những ngẫu nhiên tồn tại không phải là thuần
túy mà là đã bao hàm cái tất nhiên. Cái tất nhiên chỉ có thể tạo ra từ cái ngẫu
15
Mặc dù, hình thức không phải chỉ là nhân tố bị động, nó có thể tác
động mạnh mẽ tới nội dung. Hình thức có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực
đến nội dung. Nếu hình thức phù hợp với nội dung thì nó sẽ làm phong phú
thêm nội dung, làm sâu sắc thêm nội dung, kể cả khi nó lạc hậu so với nội
dung hoặc vượt qua khuôn khổ quy định của nội dung thì nó kìm hãm nội
dung, nó sẽ làm sai lệch nội dung, thậm chí có thể phá vỡ nội dung.
Sự không phù hợp giữa nội dung và hình thức có thể dẫn tới xung đột
giữa chúng và đòi hỏi phải “vứt bỏ hình thức cũ”, xác lâp hình thức mới. Việc
thay đổi này là để đảm bảo nội dung luôn phát triển. Sự vận động của xã hội
theo chiều hướng đi lên, tuy vậy nó luôn bị các hình thức cũ kìm hãm. Quá
trình phát triển xã hội vứt bỏ nhiều hình thức đã lỗi thời, tạo điều kiện cho nội
dung cuộc sống luôn luôn phát triển đi từ thấp đến cao. Trong cuộc sống hiện
thực, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức hết sức đa dạng, một nội dung
có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức, một hình thức lại có thể phản ánh
nhiều nội dung.
Thứ năm, mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất bao giờ cũng được thể hiện qua hiện tượng, hiện tượng bao
giờ cũng phản ánh một mặt, một khía cạnh nào đó của bản chất. Mỗi bản
chất không phải chỉ được thể hiện qua một hiện tượng, mà thường bộc lộ
qua nhiều hiện tượng khác nhau. Tất nhiên, các hiện tượng phản ánh bản
chất không như nhau. Có hiện tượng phản ánh bản chất khá trực tiếp, rõ
ràng. Ngược lại, có hiện tượng phản ánh bản chất một cách quanh co, phức
tạp và trong nhiều trường hợp, các sự vật thường tìm cách che giấu bản chất
của mình.
Bản chất mang tính ổn định tương đối, còn hiện tượng biến đổi thường
xuyên. Hiện tượng là sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, nhưng điều kiện,
hoàn cảnh bên ngoài không đồng nhất, vì vậy ở những môi trường khác nhau
thì hiện tượng cũng khác nhau. Trong thực tế, bản chất cũng không phải là cái
16
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến,
tính khách quan của sự liên hệ , mà còn chỉ ra tính đa dạng của nó. Các sự vật,
hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác
nhau, giữ vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó. Mặt khác,
cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể
khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển
của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau. Do đó, không thể đồng
nhất tính chất, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật
nhất định, trong những điều kiện khác nhau… Căn cứ vào tính chất, đặc trưng
của từng mối liên hệ có thể phân loại thành các mối liên hệ sau:
Có mối liên hệ bên ngoài, tức là sự liên hệ của các sự vật, hiên tượng
với nhau. Có mối lên hệ bên trong, tức là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau
giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận, các quá trình bên trong sự vật, cấu
thành sự vật. Có những mối liên hệ chung của thế giới, lại có những mối liên
hệ riêng biệt trong từng lĩnh vực, từng sự vật, từng hiên tượng cụ thể. Có mối
liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng; lại có những mối liên
hệ gián tiếp, trong đó các sự vật hiện tượng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau
phải thông qua một hay nhiều khâu trung gian. Có mối liên hệ tất nhiên lại có
mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật,
đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật; lại có mối liên hệ
không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và phát triển của
nó. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật có mối liên hệ chủ yếu, quyết
định sự tồn tại và phát triển của sự vật trong giai đoạn đó, lại có mối liên hệ
thứ yếu. Các sự vật, hiện tượng trải qua giai đoạn phát triển khác nhau. Chính
sự liên hệ tác động qua lại của các giai đoạn kế tiếp nhau ấy quyết định tính
liên tục trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển của chúng, tuỳ theo
18
phương hướng của sự tác động mà có mối liên hệ thuận chiều, ngược chiều,
mối kiên hệ đơn hoặc mối liên hệ kép…
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại của các sự vật, hiện tượng trên thế
mới có thể nhận thức đúng bản chất của sự vật.
- Phải xem xét các mối liên hệ của sự vật không phải là xem xét một
cách dàn trải, đồng loạt như nhau, theo kiểu “ bình quân chủ nghĩa”, mà phải
đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ. Từ trong tổng số những mối
liên hệ ấy, trước hết phải rút ra được những mối liên hệ cơ bản, chủ yếu -
những mối liên hệ quy định bản chất, quyết định khuynh hướng phát triển của
sự vật, trong suốt quá trình, cũng như ở mỗi giai đoạn tồn tại của sự vật.
Như vậy, quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối liên
hệ của các sự vật, coi chúng là cơ sở là căn cứ đầy đủ để từ đó rút ra được bản
chất của sự vật. Từ chổ hiểu được bản chất của sự vật, phải quay lại giải thích
được các mối liên hệ khác của sự vật rồi liên kết chúng lại thành một hệ thống
hoàn chỉnh. Cho đến khi đó mới hiểu được thấu đáo sự vật, mới có giải pháp
đồng bộ, đúng đắn, khoa học khi giải quyết sự vật.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện,
siêu hình, chỉ thấy một mặt, không thấy toàn bộ. Quan điểm toàn diên cũng
hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa chiết trung. Thực chất của chủ nghĩa chiết
trung là kết hợp một cách vô nguyên tắc nhiều mối quan hệ, nhiều sự vật,
nhiều hiện tượng… khác nhau tạo thành một mớ hỗn độn các sự kiện, không
phân biệt cái bản chất với cái không bản chất, cái chủ yếu với cái không chủ
yếu, dẫn tới lúng túng, chủ quan trong nhận thức. Nhìn bề ngoài thì chủ
nghĩa chiết trung có vẻ như “toàn diện”, nhưng thực chất trái với quan điểm
toàn diện của phép biện chứng duy vật.
20
Chủ nghĩa chiết trung và phép ngụy biện thường đi với nhau. Ngụy
biện là đem những mặt, những mối liên hệ thứ yếu làm chủ yếu, không cơ bản
làm cơ bản, chuyển cái cá biệt thành cái phổ biến. Thuật ngụy biện đưa ra
những lập luận có vẻ như đúng đắn, có sức “ thuyết phục”, có vẻ như toàn
diện, nhưng thực chất chỉ là sự vận dụng một cách chủ quan, vô nguyên tắc
tính mềm dẻo, linh hoạt của các khái niệm, phạm trù, là đối lập với quan điểm
toàn diện. Nói về sự khác nhau này, Lênin chỉ rõ: “Tính linh hoạt đó áp dụng