LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hạch toán chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp với việc nâng cao
hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty
Xăng dầu khu vực III
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng Lời nói đầu
Những năm qua - khi nền kinh tế chuyển dịch từ cơ chế quản lý tập trung,
bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN - Cũng nh các đơn vị kinh tế quốc doanh khác, Công ty Xăng dầu khu
vực III gặp rất nhiều khó khăn. Là một doanh nghiệp chủ yếu kinh doanh
thơng mại nên vấn đề cốt lõi đặt ra đối với Công ty là làm thế nào để bán ra
những sản phẩm đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng và đạt mức lợi nhuận cao
nhất.
Trong doanh nghiệp thơng mại, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp (hay còn gọi là chi phí thời kỳ) là một trong những chỉ tiêu chất lợng
quan trọng. Sự phát sinh của 2 loại chi phí này ảnh hởng trực tiếp đến lợi
nhuận trong kỳ kinh doanh và đợc phản ánh trong Báo cáo Kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong từng kỳ báo cáo.
Nh vậy, việc giảm thấp cũng nh tiết kiệm chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp là rất quan trọng và có ý nghĩa vô cùng to lớn: tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp thơng mại hoàn thành tốt các chỉ tiêu kinh tế tài
chính, nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nớc, lợi ích của doanh nghiệp và của
ngời lao động Tuy nhiên, để thực hiện đợc điều này các nhà quản lý nói
chung và kế toán nói riêng phải thờng xuyên nắm bắt, phản ánh chính xác,
kịp thời những thông tin cần thiết bên ngoài cũng nh bên trong nội bộ doanh
2
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
Phần I
Lý luận chung về hạch toán chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong
doanh nghiệp thơng mại
A-những vấn đề chung về chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp
Hoạt động trong nền kinh tế thị trờng tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp
luôn chịu sự ảnh hởng mạnh mẽ nhiều yếu tố nh: yếu tố nhân lực, yếu tố
kinh tế, yếu tố khoa học công nghệ, yếu tố chính trị, văn hoá
Tuy nhiên, sự sống còn của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào khả năng
của nhà quản lý. Họ phải xác định đợc mục tiêu kinh doanh, đề ra các phơng
thức để đạt đợc mục tiêu đó đồng thời phải tiến hành kiểm tra, kiểm soát liên
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một kỳ kinh doanh nhất định (tháng, quý, năm ).
Khác với chi phí sản xuất là các chi phí gắn liền với quá trình sản xuất ra
sản phẩm, sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, chi phí bán hàng
đợc định nghĩa là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động phát sinh
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. Chi phí bán hàng đợc biểu hiện
bằng tiền nhng không phải tất cả các khoản chi bằng tiền trong thơng mại
đều là chi phí bán hàng. Trên thực tế, có những khoản chi phí bán hàng đợc
biểu hiện bằng hiện vật nh: hao hụt tự nhiên về hàng hoá, khấu hao tài sản cố
định (KH TSCĐ), phân bổ công cụ dụng cụ Chi phí bán hàng không tạo ra giá
trị và giá trị sử dụng mà chỉ có tác dụng thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
sản phẩm, hàng hoá.
Trớc đây ngời ta cho rằng: toàn bộ hao phí lao động sống và lao động
vật hoá tiêu hao trong quá trình mua, bán hàng đợc biểu hiện bằng tiền gọi là
chi phí lu thông hàng hoá. Quan niệm này là thiếu chính xác vì khi phân tích
từ nhiều phơng diện ta thấy rằng: hao phí lao động sống sẽ tạo ra giá trị mới
của sản phẩm hàng hoá, một phần dùng để bù đắp lại hao phí lao động cần
thiết biểu hiện dới hình thái tiền lơng (V), một phần tạo ra giá trị tăng thêm
biểu hiện dới hình thái thu nhập thuần tuý (M). Trên thực tế, ngời ta không
tính toàn bộ (V+M) vào chi phí bán hàng mà chỉ tính phần (V) có nghĩa là chỉ
gồm lao động sống cần thiết và một phần của (M).
Trong chuẩn mực quốc tế IAS 1: Trình bày các Báo cáo Tài chính, chi
phí đợc phân loại theo chức năng bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản vật chất;
chi phí hao mòn tài sản phi vật chất và chi phí nhân viên. Còn trong kế toán
quản trị Mĩ, chi phí bán hàng hay tiếp thị bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để
thực hiện các đơn đặt hàng và giao thành phẩm đến khách hàng. Chi phí này
bao gồm: chi phí quảng cáo, giao dịch, hoa hồng bán hàng, lơng nhân viên
bán hàng và các chi phí gắn liền với kho cất thành phẩm.
thực hiện, phản ánh đúng đắn các khoản chi đã đợc ký duyệt và thực hiện
kiểm soát liên tục.
I.2- Nội dung của chi phí bán hàng
Theo thông lệ chung đã đợc áp dụng phổ biến ở các nớc trên thế giới,
tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng Ngành, từng
doanh nghiệp, chế độ kế toán Việt Nam đã quy định chi phí bán hàng đợc
chia ra theo nội dung sau:
Chi phí nhân viên:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải có 3 yếu tố cơ bản là lao
động, t liệu lao động và đối tợng lao động. Trong đó lao động của con ngời 5
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
là yếu tố trung tâm, giữ vai trò quyết định trong qua trình kinh doanh. Để tái
sản xuất sức lao động, ngời lao động sau khi đã sử dụng sức lao động của
mình tạo ra sản phẩm có ích thì sẽ đợc trả một số tiền thù lao nhất định gọi là
tiền lơng (hay tiền công).
Về bản chất, tiền lơng là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động hay
tiền lơng chính là một yếu tố chi phí kinh doanh. Mặt khác tiền lơng còn là
đòn bẩy kinh tế, kích thích ngời lao động tăng năng suất lao động, tiết kiệm
chi phí.
Các khoản trích bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh
phí công đoàn (KPCĐ) đợc trích theo lơng.
Trong chuẩn mực quốc tế IAS 19 "Lợi ích trả cho công nhân viên" đã quy
định rõ chi phí nhân viên hay lợi ích mà họ đợc hởng, bao gồm:
+ Các lợi ích ngắn hạn cho công nhân viên.
+ Các lợi ích sau khi hết hạn thời gian làm việc.
Khác với vật liệu, bao bì, dụng cụ đồ dùng là những t liệu lao động
không đủ tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng đợc quy định đối với
TSCĐ. Công cụ, đồ dùng tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, giá trị của
chúng đợc chuyển dần vào chi phí và giữ nguyên hình thái nh ban đầu.
Theo thông lệ chung đợc áp dụng phổ biến, nội dung chi phí công cụ, đồ
dùng phản ánh chi phí công cụ dụng cụ (CCDC) phục vụ cho quá trình tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá nh: dụng cụ đo lờng, phơng tiện tính toán, phơng tiện
làm việc
Chi phí khấu hao tài sản cố định:
TSCĐ là một bộ phận TSCĐ hữu hình hặc vô hình của doanh nghiệp có
giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, đáp ứng tiêu chuẩn là TSCĐ do Nhà nớc quy
định. Việc quy định tài sản nào là TSCĐ do từng nớc quy định. Theo chế độ
kế toán Việt Nam hiện hành, những tài sản có giá trị từ 5.000.000 đồng và thời
gian sử dụng từ 1 năm trở lên sẽ đợc xếp vào TSCĐ.
TSCĐ khi tham gia vào quá trình kinh doanh sẽ bị hao mòn. Nhận thức
đợc sự hao mòn nên khi sử dụng TSCĐ, các doanh nghiệp tính toán và phân
bổ nguyên giá TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán gọi là KH
TSCĐ. Mục đích của việc trích KH TSCĐ là giúp doanh nghiệp tính đúng, tính
đủ chi phí sử dụng TSCĐ và thu hồi vốn đầu t để tái tạo TSCĐ khi chúng bị
h hỏng.
Nh vậy, chi phí KH TSCĐ của bộ phận bảo quản, bán hàng bao gồm
khấu hao nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phơng tiện bốc dỡ, vận chuyển, phơng
tiện tính toán, đo lờng, kiểm tra chất lợng
Chi phí bảo hành:
Phản ánh những chi phí liên quan đến sản phẩm, hàng hoá sau khi tiêu thụ
nh: sửa chữa các hàng hoá bị lỗi, bị hỏng nhng vẫn nằm trong thời gian bảo
hành
văn hoá nghệ thuật của đời sống cán bộ công nhân viên, các chi phí phục vụ
cho các câu lạc bộ những chi phí này đợc bù đắp bằng quỹ xí nghiệp.
Những khoản chi phí về công tác Đảng, đoàn thanh niên, công
đoàn Những chi phí này đợc bù đắp bằng các khoản công đoàn, đảng phí do
thành viên của các tổ chức trên đóng góp.
Những chi phí do Ngân sách cấp đài thọ nh: kinh phí sự nghiệp, kinh
phí xây dựng cơ bản.
Những khoản hao hụt hàng hoá, vật t ngoài định mức do khuyết
điểm chủ quan của các doanh nghiệp hay cá nhân ngời phạm lỗi gây ra.
Những khoản phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm kỷ luật
thanh toán các khoản tiền thởng hoàn thành kế hoạch, thởng đột xuất 8
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
Theo quy định của Thông t số 76-TC/TCDN ngày 15 tháng 11 năm 1996
các doanh nghiệp phải tính đúng, tính đủ chi phí kinh doanh, tự trang trải mọi
khoản chi phí bằng thu nhập và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình.
Các khoản hoa hồng đại lý, uỷ thác phải thể hiện trong các hợp đồng đại
lý, uỷ thác và chỉ đợc hạch toán theo số thực chi khi có đủ chứng từ hợp pháp.
Đối với hoa hồng môi giới, doanh nghiệp phải xây dựng định mức chi và
quy chế quản lý chi tiêu gắn với hiệu quả kinh tế do môi giới mang lại. Hoa
hồng môi giới không đợc áp dụng cho các đối tợng là đại lý của doanh
nghiệp, các khách hàng đợc chỉ định, các chức danh quản lý trong doanh
nghiệp, những nhân viên làm nhiệm vụ cung ứng vật t, tiêu thụ hàng hoá
thành phẩm trong doanh nghiệp.
quản lý và chỉ đạo thực tiễn có cơ sở đi sâu vào quản lý trọng điểm từng loại
chi phí.
I.3- Phân loại chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là chỉ tiêu tổng hợp bao gồm nhiều loại chi phí khác
nhau. Để hiểu rõ bản chất của từng loại chi phí nhằm phục vụ cho công tác
quản lý tại doanh nghiệp đợc chặt chẽ và chính xác tối đa, ngời ta tiến hành
phân loại chi phí bán hàng.
Phân loại chi phí đúng đắn, khoa học, phù hợp với điều kiện quản lý kinh
tế là vấn đề có ý nghĩa lớn cả về lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lợng
quản lý chi phí, phát huy đợc chức năng kiểm tra, giám sát và tổ chức thông
tin cũng nh cung cấp thông tin một cách chính xác, phục vụ cho quá trình
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiện nay trên thế giới nói chung và việt Nam nói riêng đã có rất nhiều
tiêu thức để phân loại chi phí bán hàng. Việc phân loại chi phí bán hàng với
mục đích cuối cùng là để quản lý, sử dụng hiệu quả chi phí và tuỳ thuộc vào
đặc điểm kinh doanh của từng Ngành, từng doanh nghiệp, từng quốc gia. ở
nớc ta hiện nay, chi phí bán hàng đợc phân loại chủ yếu dựa vào một số tiêu
thức sau:
1-Phân loại chi phí bán hàng dựa vào tính chất của chi phí:
Là việc sắp xếp các khoản mục chi phí bán hàng có chung một tính chất
hoặc gần giống nhau về tính chất thành từng loại chi phí nhất định. Theo cách
phân loại này, chi phí bán hàng đợc chia thành:
Chi phí tiền lơng (hay còn gọi là chi phí nhân viên): Là toàn bộ số tiền
trả công lao động cho công nhân viên trong và ngoài danh sách phục vụ trực
tiếp cho quá trình kinh doanh.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm những chi phí nh tiền thuê ngoài
sửa chữa TSCĐ, tiền thuê bốc vác vận chuyển sản phẩm, hàng hoá đi tiêu thụ,
tiền hoa hồng trả cho đại lý bán hàng, tiền trả cho đơn vị nhận xuất khẩu uỷ
thác
Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm những khoản chi phí nh chi phí tiếp
theo yếu tố là chi phí ban đầu giản đơn, trong quá trình chi phí của doanh
nghiệp không thể tiếp tục chia nhỏ hơn các loại chi phí này. Hạch toán chi phí
theo cách này không những cho chúng ta biết trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá, doanh nghiệp cần phải chi ra những khoản chi phí gì, bao
nhiêu mà còn là cơ sở để lập các dự toán chi phí, kế hoạch quỹ lơng, tính toán
nhu cầu vốn lu động định mức.
3-Phân loại chi phí bán hàng trong mối quan hệ với khối lợng hàng hoá
luân chuyển:
Theo cách phân loại này, chi phí bán hàng đợc chia thành:
Chi phí bán hàng khả biến: là khoản chi phí có đặc trng cơ bản khi mức
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá thay đổi thì chi phí bán hàng cũng thay đổi theo và 11
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
thay đổi theo quan hệ tỷ lệ thuận, còn tỷ suất chi phí thì hầu nh không thay
đổi hoặc thay đổi không đáng kể theo chiều ngợc lại. Chi phí này bao gồm:
chi phí vận chuyển, chi phí bao bì đóng gói, chi phí hao hụt bảo quản, chi phí
chọn lọc, chi phí lơng theo hình thức khoán.
Chi phí bán hàng bất biến: là những khoản chi phí có đặc trng cơ bản là
khi mức tiêu thụ hàng hoá thay đổi nhng chi phí bán hàng vẫn giữ cố định,
còn tỷ suất chi phí thì thay đổi theo chiều ngợc lại. Chi phí này bao gồm:
lơng nhân viên bán hàng theo thời gian, chi phí KH TSCĐ, chi phí công cụ đồ
dùng, chi phí thuê cửa hàng, kho tàng bến bãi
Chi phí bán hàng bất biến chỉ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp của
12
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
Để phân loại chi phí bán hàng ngời ta còn dựa vào rất nhiều tiêu thức
khác nh: phân loại theo bản chất kinh tế, theo khâu kinh doanh, theo Ngành
kinh doanh
Tóm lại, trong thực tế có rất nhiều cách phân loại chi phí bán hàng song
cuối cùng nó chỉ nhằm đạt tới mục đích là hợp lý hoá chi phí để tiết kiệm tối đa
chi phí cũng nh để đạt đợc tối đa mức lợi nhuận. ở mỗi doanh nghiệp khác
nhau có thể lựa chọn những tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí bán hàng
sao cho phù hợp với yêu cầu quản lý của đơn vị mình để đạt hiệu quả sử dụng
chi phí tốt nhất.
I.4-Hạch toán chi phí bán hàng.
I.4.1-Hạch toán ban đầu
Chứng từ kế toán là phơng pháp thông tin và kiểm tra về trạng thái và sự
biến động của đối tợng hạch toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạo
và làm căn cứ phân loại tổng hợp kế toán. Nói cách khác, chứng từ kế toán có
thể đợc hiểu là những bằng chứng chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh
tế đã phát sinh và thực sự đã hoàn thành.
Chứng từ bao gồm: Chứng từ bắt buộc (doanh nghiệp Nhà nớc có 32
chứng từ, doanh nghiệp khác có 27 chứng từ) và chứng từ mang tính hớng dẫn
(doanh nghiệp Nhà nớc có 14 chứng từ, doanh nghiệp khác có 19 chứng từ).
Tất cả các loại chứng từ đều bắt buộc phải có đầy đủ 8 yếu tố cơ bản (tên gọi
chứng từ; ngày tháng năm lập; số hiệu chứng từ; tên gọi, địa chỉ của đơn vị cá
nhân lập; tên gọi và địa chỉ của cá nhân lập; nội dung nghiệp vụ kinh tế phát
sinh; chỉ tiêu về lợng và giá trị; chữ ký của ngời chịu trách nhiệm).
Chứng từ kế toán phải đợc lập một cách rõ ràng và trung thực, ghi đầy đủ
Cầu lập Lu
CT Lập CT Kí CT Thực hiện Ghi sổ I.4.2-Hạch toán tổng hợp chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng đợc hạch toán trên TK 641-Chi phí bán hàng.
Theo quy định hạch toán TK 641, toàn bộ chi phí bán hàng cuối kỳ đợc
kết chuyển vào bên Nợ TK 911- Xác định kết quả kinh doanh. Do đó, cuối
kỳ hạch toán TK 641 không có số d.
Đối với hoạt động có chu kỳ kinh doanh dài, trong kỳ không có hoặc có
ít sản phẩm hàng hoá đợc tiêu thụ thì cuối kỳ kết chuyển toàn bộ hoặc một
phần chi phí bán hàng vào bên Nợ TK142 (1422 - Chi phí chờ kết chuyển). Tức
là không phải tất cả chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ đều kết chuyển vào TK
xác định kết quả kinh doanh mà có thể treo trên TK142(1422) chờ phân bổ hay
chi phí trong Báo cáo Kết quả kinh doanh cha hẳn đã có chi phí kỳ này.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 641 nh sau:
Bên Nợ:
Tập hợp các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Bên Có:
Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng
Kết chuyển chi phí bán hàng vào TK 911để tính kết quả kinh doanh
trong kỳ. 14
sản xuất (nếu áp dụng phơng pháp kiểm kê định kỳ), chi tiết cho hoạt động
vận tải đến cuối tháng mới phân bổ cho đối tợng kinh doanh cụ thể. Ngoài ra,
những chi phí vận chuyển do đơn vị bán phải chịu nhng do các đơn vị mua
hàng tổ chức lấy thì phải hạch toán vào chi phí bán hàng của đơn vị mua hàng
phần chênh lệch giữa chi phí thực tế cao hơn so với chi phí theo định mức hai
bên đã thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
15
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
- Hao hụt vật t hàng hoá trong quá trình tiêu thụ vận chuyển ngoài định mức:
+ Nếu cha xác định đợc nguyên nhân, ghi:
Nợ TK 138(1381) - Phải thu khác
Có TK 156 - Hàng hoá
+ Khi xác định đợc nguyên nhân, theo quyết định xử lý của cấp trên, ghi:
Nợ TK 411, 821, 138, 641
Có TK 138(1381) - Phải thu khác
- Hao hụt vật t hàng hoá trong tiêu thụ, vận chuyển trong định mức, ghi:
Nợ TK 641- Chi phí bán hàng
Có TK 156 - Hàng hoá
-Về phân bổ chi phí bán hàng:
Trong các doanh nghiệp kinh doanh thơng mại thờng có rất nhiều mặt
hàng kinh doanh khác nhau. Để tạo điều kiện cho việc xác định chính xác kết
quả kinh doanh của từng mặt hàng, ngời ta tiến hành phân bổ chi phí bán
hàng cho từng mặt hàng kinh doanh. Có rất nhiều tiêu thức để phân bổ chi phí
BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Cuối tháng, khi tính ra số tiền lơng, phụ cấp phải trả cho nhân viên, ghi:
Nợ TK 641(6411) - Chi phí bán hàng
Có TK 334 - Phải trả công nhân viên
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng trong
kỳ, ghi:
Nợ TK 641(6411) - chi phí bán hàng
Có TK 338(3381,3382,3383) - Phải trả khác
Hạch toán chi phí vật liệu, bao bì:
- Trong kỳ, xuất dùng vật liệu cho bán hàng bao gồm: hoạt động bảo trì, đóng
gói, bảo quản sản phẩm, hàng hoá, sửa chữa TSCĐ (tự làm), ghi:
Nợ TK 641(6412) - Chi phí bán hàng
Có TK 152 - Nguyên vật liệu
Hạch toán chi phí dụng cụ, đồ dùng:
Xét về mặt giá trị, CCDC là những tài sản có giá trị dới 5.000.000 VNĐ
và bị hao mòn dần trong quá trình sử dụng. Bởi vậy, khi phân bổ giá trị của
CCDC vào chi phí kế toán phải sử dụng phơng pháp phân bổ sao cho thích
hợp.
Xét phơng thức sử dụng, CCDC đợc chia làm 3 loại: CCDC, bao bì luân
chuyển, đồ dùng cho thuê.
- Khi xuất dùng CCDC cho chi phí bán hàng theo phơng pháp phân bổ một
lần, căn cứ vào giá thực tế của CCDC, ghi:
Nợ TK 641(6413) - Chi phí bán hàng
Có TK 1422: CCDC đợc phân bổ
- Khi xuất dùng bao bì luân chuyển để sử dụng, căn cứ vào giá thực tế của bao
bì, ghi:
Nợ TK 1422:
Có TK 153(1532):
- Khi nhập lại bao bì luân chuyển, kế toán phải xác định giá trị hao mòn của
bao bì để phân bổ vào chi phí:
Nợ TK 641(6413): Phân bổ giá trị hao mòn của bao bì vào chi phí bán
hàng (bao gói sản phẩm, hàng hoá)
Có TK 1422:
Hạch toán chi phí TSCĐ:
Chi phí về TSCĐ tính vào chi phí bán hàng bao gồm 2 bộ phận: KH TSCĐ
và sửa chữa TSCĐ.
Theo chuẩn mực quốc tế IAS 16 Bất động sản, xởng và thiết bị: Khấu
hao phản ánh việc tiêu dùng các lợi ích kinh tế của một tài sản và đợc công 18
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
nhận là một khoản chi phí trừ khi nó đợc tính vào số mang sang của một tài
sản tự bổ sung. Số khấu hao đợc phân bổ dựa trên hệ thống tính vòng đời sử
dụng và phản ánh cách thức tiêu dùng dự tính.
Theo Quyết định số 166/1999/QĐ - BTC ngày 30 tháng 12 năm 1999 của
Bộ trởng Bộ Tài chính, các doanh nghiệp phải tính khấu hao theo phơng
pháp đờng thẳng (còn gọi là phơng pháp khấu hao bình quân).
đợc trích trớc vào chi phí bán hàng (sửa chữa lớn theo kế hoạch).
19
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
- Khi trích trớc chi phí sửa chữa TSCĐ vào chi phí bán hàng, ghi:
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng
Có TK 335 - Chi phí phải trả
- Khi sửa chữa TSCĐ thực tế phát sinh, tập hợp chi phí sửa chữa TSCĐ, ghi:
Nợ TK 241(2413) - Chi phí sửa chữa TSCĐ
Nợ TK 133 - Thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ (nếu có)
Có TK 214, 111, 112, 152, 331, 334, 338,
- Khi công việc sửa chữa hoàn thành, kế toán tính giá thành thực tế và tiến
hành kết chuyển, ghi:
Nợ TK 335 - Chi phí phải trả
Có TK 241(2413):
+ Nếu giá thành thực tế công việc sửa chữa lớn hơn giá thành dự toán thì
phần vợt dự toán sẽ đợc tính vào chi phí bán hàng của kỳ kết chuyển chi phí
sửa chữa:
Nợ TK 641- Chi phí bán hàng
Có Tk 335: Phần vợt dự toán.
+Ngợc lại, kế toán ghi:
Nợ TK 335: Phần dự toán thừa (đã trích trớc).
Có TK 721: Thu nhập bất thờng.
Có TK 335 - Chi phí phải trả
+ Nếu số trích trớc về chi phí bảo hành lớn hơn chi phí thực tế phát sinh thì
số chênh lệch ghi giảm chi phí:
Nợ TK 335 - Chi phí phải trả
Có TK 641(6415) - Chi phí bán hàng
Trờng hợp không trích trớc chi phí bảo hành:
- Số tiền phải trả cho đơn vị cấp dới, đơn vị nội bộ về chi phí bảo hành, ghi:
Nợ TK 641(6415) - Chi phí bán hàng
Có TK 111, 112, 336.
Trờng hợp doanh nghiệp không có bộ phận bảo hành độc lập:
Trờng hợp trích trớc chi phí bảo hành hàng hoá:
- Khi trích trớc chi phí bảo hành hàng hoá trong kỳ, ghi:
Nợ TK 641(6415) - Chi phí bán hàng
Có TK 335 - Chi phí phải trả
- Số tiền phải trả cho cấp dới, cho đơn vị nội bộ, ghi:
Nợ TK 335 - Chi phí phải trả
Có TK 336, 111, 112
- Khi chi phí bảo hành hàng hoá phát sinh thực tế, ghi:
Nợ TK 335 - Chi phí phải trả
Có TK 111, 152, 214, 334,
- Khi hết thời hạn bảo hành hàng hoá, tính và xác định số chênh lệch giữa chi
phí thực tế với số trích trớc về chi phí bảo hành.
- Nếu sản phẩm, dịch vụ dùng vào hoạt động chịu thuế GTGT thì số thuế
GTGT phải nộp đợc khấu trừ, ghi:
Nợ TK 641- Chi phí bán hàng (Giá cha có thuế GTGT)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Giá bán cha có thuế
GTGT)
Có TK 333(3331) - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nớc.
- Nếu sản phẩm, dịch vụ dùng vào hoạt động không chịu thuế GTGT thì số
thuế GTGT phải nộp của sản phẩm, dịch vụ sử dụng nội bộ tính vào chi phí bán
hàng, ghi:
Nợ TK 641(6412, 6413, 6417, 6418) - Chi phí bán hàng
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 333(3331) - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nớc.
22
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
Hạch toán chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác:
- Khi phát sinh các khoản chi phí này, ghi:
Nợ TK 641(6417, 6418) - Chi phí bán hàng
Nợ TK 133(1331) - Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK 111, 112, 331
- Khi phát sinh các khoản ghi giảm chi phí bán hàng nh: vật liệu dùng thừa trả
lại kho, công cụ đồ dùng dùng không hết , ghi:
Nợ TK 111, 112, 152, 335:
23
Báo cáo thực tập Nguyễn Vĩnh Thanh Tùng
Theo yếu tố chi phí:
Phơng pháp kế toán chi tiết chi phí bán hàng theo yếu tố chi phí đợc áp
dụng ở các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lu thông sản phẩm hàng hoá. Các yếu
tố chi phí phát sinh trong quá trình mua bán hàng hoá đợc kế toán theo dõi
trên các sổ chi tiết, các tờ kê chi tiết, và cuối tháng chuyển cho kế toán chi phí
bán hàng tổng hợp. Phơng pháp này đáp ứng đợc yêu cầu của công tác kế
toán tài chính, cung cấp thông tin nhanh cho ngời quản lý về các yếu tố chi
phí phát sinh trong kỳ, từ đó đề ra đợc các biện pháp quản lý kinh tế tài chính
phù hợp với cơ chế quản lý mới.
Theo địa điểm phát sinh:
Đây là phơng pháp hạch toán chi tiết chi phí đang đợc vận dụng phổ
biến. Theo phơng pháp này, những chi phí trực tiếp phát sinh ở các đơn vị phụ
thuộc đợc hạch toán trực tiếp, còn những chi phí liên quan đến địa điểm thì
phân bổ hợp lý từng khoản chi phí. Để thực hiện tốt kế toán chi tiết chi phí
theo địa điểm phát sinh cần phải tổ chức tốt công tác kế toán, giao chỉ tiêu chi
phí cho các đơn vị trực thuộc và kiểm tra việc thực hiện chỉ tiêu một cách chặt
chẽ.
Theo nhóm mặt hàng kinh doanh:
Phơng pháp này áp dụng chủ yếu đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu
chuyên doanh. Chi phí bán hàng bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí chung.
Những khoản chi phí thuộc nhóm mặt hàng kinh doanh nào thì sẽ đợc hạch
toán trực tiếp vào nhóm mặt hàng đó. Đối với những chi phí phát sinh liên quan
đến nhiều nhóm mặt hàng thì sẽ đợc phân bổ theo tiêu thức hợp lý cho từng