lý thuyết tổng quan môn kinh tế thương mại - Pdf 16


1
Chương 1: Chương mở đầu 1.1. Bản chất kinh tế của thương mại
1.1.2. Bản chất kinh tế của thương mại
1.1.2.1. Một số cách tiếp cận khi nghiên cứu bản chất kinh tế của Thương mại
Nghiên cứu bản chất kinh tế của Thương mại chúng ta có nhiều cách tiếp cận khác
nhau. Trong giáo trình này chúng tôi sẽ đề cập tới 3 cách tiếp cận cơ bản nhất:
a. Thương mại - hoạt động kinh tế.
Nếu nhìn dưới góc độ một hoạt động kinh tế thì thương mại là một trong những hoạt
động kinh tế cơ bản và rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Mọi hoạt động thương mại đều bắt đầu bằng hành vi mua hàng và kết thúc bằng
hoạt động bán.Mục đích của hoạt động thương mại là nh
ằm tìm kiếm lợi nhuận. Có thể
tóm tắt hoạt động thương mại bằng công thức sau: T - H - T' .
Đối tượng của các hoạt động thương mại là các hàng hóa vá dịch vụ. Chủ thể của
hoạt động thưong mại gồm những người bán (người sản xuất hàng hóa, người cung ứng
dịch vụ, thương gia ) và những người mua( người sản xuất, thương gia, những người tiêu
dùng).Tuy nhiên tham gia vào ho
ạt động thương mại còn có một số người khác như :
người môi giới, người đại lý thương mại Hoạt động thương mại xảy ra trong khâu lưu
thông, trên thị trường với những điều kiện kinh tế, xã hôi, luật pháp, chính tri, và môi
trường vật chất cụ thể.
Trong hành vi mua, người ta chuyển đổi hình thái giá trị của hàng hóa từ hình thái
tiền tệ sang hình thái hiện vật và cùng với quá trình này là sự chuyển đổi v
ề sở hữu,
người mua đổi quyền sở hữu tiền tệ để có được quyền sở hữu hàng hóa. Nhờ vậy mà có
được quyền sử dụng sản phẩm cho việc thỏa mãn nhu cầu. Trong hành vi bán hàng, quá
trình diễn ra hoàn toàn ngược lại.

xuất ra đều phải trải qua khâu lưu thông, thông qua hoạ
t động mua bán bằng tiền mới có
thể chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của xã hội. Vì thế
khâu lưu thông rất quan trọng. Nó là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Nền kinh tế hàng
hóa giống như một cơ thể sống. Trong đó, lưu thông hàng hóa, thương mại được xem như
hệ tuần hoàn. Thương mại phát triển, lưu thông hàng hóa thông suốt là biểu hiện của nền
kinh tế
lành mạnh, thịnh vượng.
c. Thương mại - ngành kinh tế
Nếu nhìn dưới giác độ phân công lao động xã hội thì thương mại được coi là một
ngành kinh tế độc lập của nền kinh tế. Ngành thương mại chuyên đảm nhận chức năng tổ
chức lưu thông hàng hóa và cung ứng các dịch vụ cho xã hội thông qua việc thực hiện
mua bán nhằm sinh lợi.
1.1.2.2. Bản chất kinh tế của Thương mại
Nghiên cứu Thươ
ng mại dưới các góc độ cơ bản: Hoạt động kinh tế, khâu của quá
trình tái sản xuất xã hội cũng như góc độ ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân, chúng
ta đều nhận thấy đặc trưng chung nhất của Thương mại là buôn bán, trao đổi hàng hóa và
cung ứng dịch vụ gắn với tiền tệ và nhằm mục đích lợi nhuận.
Từ đó có thể rút ra bản chất kinh tế chung c
ủa Thương mại là:
Thương mại là tổng hợp các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn
và phát sinh cùng với trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằmi mục đích lợi nhuận.

3
Thương mại, tiếng Anh là “Commerce” , ngoài ra còn có thuật ngữ khác là Trade,
tiếng Pháp “Commerce”, tiếng Latinh “Commercium”, về cơ bản các từ này đều được
hiểu là buôn bán hàng hóa với mục đích sinh lợi.
Luật Thương mại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ghi:
Hoạt động Thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm: mua bán

thương mại diễn ra trên thị trường quốc tế. Thị trường thế giới và thị
trường nội địa là
những thị trường khác nhau vì vậy thương mại nội địa và ngoại thương được thực hiện
theo những hình thức và phương pháp hoàn toàn không giống nhau.
1.1.3.2. Theo các khâu của quá trình lưu thông
Người ta phân thành Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ.

4
Thương mại bán buôn chủ yếu xảy ra trong lĩnh vực buôn bán các sản phẩm vật thể.
Chủ thể của hoạt động thương mại bán buôn là những nhà sản xuất và thương gia. Chúng
phản ánh các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa những nhà sản xuất, giữa nhà sản xuất
với thương gia và giữa những người thương gia với nhau. Khi hoàn thành các hoạt động
mua bán buôn, hàng hóa vẫn chưa kết thúc quá trình l
ưu thông, chúng nằm lại trong khâu
sản xuất để sau khi kết thúc sản xuất lại tiếp tục quay trở lại lưu thông hoặc vẫn nằm
trong lưu thông để chờ bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thương mại bán lẻ: phản ánh mối quan hệ buôn bán hàng hóa và các dịch vụ giữa
những nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ hoặc các thương gia với bên kia là những
người tiêu dùng cuối cùng. Khi hoàn thành các hoạt động mua, bán lẻ hàng hóa sẽ k
ết
thúc quá trình lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng để thỏa mãn những nhu cầu khác
nhau của xã hội.
Sự phân biệt giữa thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ dựa chủ yếu về sự
khác biệt theo các khâu của quá trình lưu thông của sản phẩm. Bất kỳ mối quan hệ
thương mại nào mà một bên có sự tham gia của người tiêu dùng cuối cùng quan hệ
thương mại đó thuộc về thươ
ng mại bán lẻ và ngược lại thì đó là thương mại bán buôn.
Các hoạt động bán buôn diễn ra ở các chợ đầu mối, thị trường với trung tâm buôn bán
trong nước và quốc tế… Ngược lại, hoạt động bán lẻ diễn ra ở các chợ, các cửa hàng
chuyên doanh, tổng hợp, các siêu thị, hội chợ thương mại…

pháp điện tử trong môi trường điện tử. Thương mại điện tử chỉ xuất hiện trong xã hộ
i
hiện đại. Hiện nay thương mại điện tử đang phát triển rất nhanh chóng trên toàn thế giới
và đó là xu hướng phát triển tất yếu vừa là yếu tố hợp thành của nền kinh tế số hóa.
Theo định nghĩa phổ biến hiện nay, thương mại điện tử là phương thức hoạt động
thương mại bằng các phương pháp điện tử, là việc trao
đổi thông tin thương mại thông
qua các phương tiện công nghệ điện tử mà không cần phải in ra giấy trong bất cứ công
đoạn nào của quá trình giao dịch.
Các phương tiện điện tử được sử dụng trong phương thức mua bán này rất đa dạng:
điện thoại, máy fax, truyền hình,các hệ thống thiết bị công nghệ thanh toán điện tử, các
mạng nội bộ (intranet), mạng ngoại bộ (extranet), m
ạng toàn cầu internet…
Cần lưu ý rằng “Thương mại điện tử” còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với
cách hiểu thông thường chỉ là buôn bán các hàng hóa và dịch vụ. Trong thực tế, áp dụng
thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của gần như tất cả các hoạt động
kinh tế.
Thương mại điện tử sẽ trở thành ph
ương thức thương mại phổ biến trong xã hội
tương lai, tuy nhiên thương mại truyền thống vẫn giữ nguyên giá trị về kinh tế và văn hóa,
nó vẫn tồn tại song song cùng với thương mại điện tử mặc dù kinh tế thị trường và
thương mại thế giới không ngừng mở rộng và phát triển.
1.1.3.5. Phân loại theo mức độ cản trở thương mại
Người ta phân thành thươ
ng mại có bảo hộ và thương mại tự do hóa.
Thương mại bảo hộ thường được các quốc gia áp dụng trong một số lĩnh vực nhạy
cảm để bảo vệ các lợi ích quốc gia hoặc để bảo vệ sản xuất trong nước, nhất là đối với
những ngành công nghiệp non trẻ, mới hình thành. Các biện pháp thường được sử dụng
trong thương mại bảo hộ là thu
ế quan và các biện pháp phi thuế quan như: các biện pháp

xuất được nhiều vải vóc hơn và nước Mỹ cũng sẽ sản xuất được nhiều lúa mì hơn so với
khi hai nước đó còn ở tình trạng tự túc tự cấp. Nước Mỹ sẽ tiến hành trao đổi một phần
lúa mì để đổi lấy một l
ượng vải vóc của nước Anh. Người ta cũng chứng minh được rằng
cả 2 nước Mỹ và Anh sẽ cùng được hưởng lợi nhờ quan hệ thương mại với nhau.
1.2.2.Lý thuyết của D. Recardo hay còn gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh
Nhược điểm của lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của A. Smith là không lý giải
được hoạt động thương mại khi một trong hai nước có lợi thế tuy
ệt đối sản xuất tất cả các
mặt hàng. David Ricardo đã phát triển và đưa ra một lý thuyết tổng quát hơn về thương
mại so với lý thuyết của A. Smith đó là Lý thuyết lợi thế so sánh. Lí thuyết này được
trình bày trong tác phẩm “những nguyên lý của kinh tế chính trị học 1817”. Theo D.
Ricardo thương mại giữa 2 nước dựa trên lợi thế tương đối.
Lợi thế tương đối hay còn gọi là lợi thế so sánh
đề cập tới việc các quốc gia có thể
sản xuất ra khối lượng các mặt hàng giống nhau khi sử dụng các nguồn lực như nhau
nhưng với chi phí khác nhau.

7
Do sự không đồng đều về lợi thế tuyệt đối, nếu mỗi nước chuyên môn hóa vào sản
xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối lớn hơn và dùng một phần để trao đổi với nước khác
bằng mặt hàng có lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn thì cả 2 nước sẽ cùng thu được lợi ích thông
qua thương mại.
Ví dụ:
Có 2 nước X và Y và cùng có 2 loại hàng dệt may và lúa mì.
Chi phí sản xu
ất hàng dệt may của nước X
a =
Chi phí sản xuất hàng dệt may của nước Y
Chi phí sản xuất lúa mì của nước X

t rẻ hơn một cách tương đối. Người ta cũng
chứng minh được rằng trong quan hệ thương mại này cả 2 quốc gia đều cùng có lợi.

8
1.2.4.Lý thuyết của Heckscher – Ohlin
Hai nhà kinh tế học Thụy Điển Eli Heckscher (1919) và Recto Ohlin (1933) đưa ra
một cách giải thích khác về nguồn gốc của lợi thế so sánh. Theo hai ông, lợi thế so sánh
của một quốc gia xuất phát từ sự khác biệt về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất. Các
yếu tố sản xuất mà lý thuyết này đề cập là: đất đai, lao động và tư bản.
Trên c
ơ sở lý thuyết về lợi thế tương đối, Heckscher và Ohlin đã phân tích ảnh
hưởng của các yếu tố sản xuất tiềm tàng đến thương mại và giải thích các động thái
thương mại xuất phát từ sự khác nhau về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất.
Một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản
xuất chúng sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó tương đối dư thừa và rẻ, đồng thời
sẽ nhập khẩu những mặt hàng khi sản xuất chúng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản xuất
mà nước đó tương đối khan hiếm và đắt. Cụ thể một quốc gia tương đối dư thừa lao động,
nhưng lại thiế
u vốn sẽ sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cần nhiều lao động và nhập
khẩu những mặt hàng cần nhiều vốn. Heckscher và Ohlin cũng cho rằng trong trường hợp
này, quan hệ thương mại làm lợi cho cả 2 quốc gia tham gia vào trao đổi
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học Kinh tế thương mại
2.3.1. Đối tượng, nội dung và kết cấu của môn học kinh tế thương mại
Kinh tế thương mại là môn học kinh tế, môn kinh tế ngành.
Giống như kinh tế chính trị học và kinh tế học là những môn khoa học nghiên cứu
các nguyên lý, các quy luật kinh tế chi phối và vận động nền kinh tế quốc dân. Kinh tế
thương mại dựa trên những nguyên lý mà kinh tế chính trị học, kinh tế học đã phát hiện
để đi sâu nghiên cứu các nguyên lý, các quy luật kinh tế nhằm bổ sung và cụ thể hóa
chúng trong lĩnh vực l

c phần này nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức căn bản nhất về Kinh tế
thương mại. Những khái niệm, phạm trù, nguyên lý và những quy luật trình bày trong
học phần này là những vấn đề chung và có tính phổ biến cho mọi nước, mọi nền kinh tế.
Học phần này bắt đầu nghiên cứu các khái niệm, phạm trù nhằm chỉ rõ bản chất
kinh tế của thương mại. Tiếp đó là các vấn
đề liên quan tới chức năng và các tác động
của thương mại trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Những vấn đề tiếp sau là
những vấn đề cốt lõi nhất của kinh tế thương mại hàng hóa, kinh tế thương mại dịch vụ
và các khía cạnh thương mại có liên quan tới đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ theo cách tiếp
cận của WTO. Từ đó tiếp tục nghiên cứu các vấ
n đề nguồn lực phát triển thương mại và
hiệu quả thương mại theo cách tiếp cận phát triển bền vững.
Học phần 2: Kinh tế thương mại.
Học phần này chủ yếu nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất và đặc thù của kinh tế
thương mại Việt nam trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nề
n kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Học phần này bắt đầu từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển thương
mại Việt nam nhằm tổng kết và rút ra những bài học từ lịch sử. Tiếp đến là nghiên cứu
những nội dung chủ yếu của quá trình chuyển đổi thương mại từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh t
ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam từ năm
1986. Phần cuối của học phần sẽ nghiên cứu những vấn đề cốt lõi và đặc thù của kinh tế
thương mại Việt nam như: thương mại và thị trường nông thôn, hội nhập thương mại Việt
nam với thế giới và khu vực, kế hoạch hóa thương mại vĩ mô
Khi đề
cập đến nội dung của môn học, có thể có rất nhiều những ý kiến khác nhau.
Những nội dung đề cập đến trong giáo trình này trước hết dựa vào chương trình môn học
đã được hội đồng khoa học trường Đại học Thương mại thông qua. Ngoài ra những người
biên soạn cố gắng chú trọng trình bày những vấn đề có tính chất phổ biến, và những vấn

định, có tính phổ biến, trên cơ sở đó chỉ ra bản chất c
ủa các hiện tượng, phát hiện ra các
quy luật và tính quy luật vận động của các hiện tượng các mối quan hệ kinh tế thương
mại.
Kinh tế thương mại là môn học chuyên môn chính trong chương trình đào tạo cử
nhân kinh tế thương mại của trường đại học Thương mại. Ngoài ra kinh tế thương mại
đại cương giữ vị trí của môn học cơ sở của các chuyên ngành quản trị kinh doanh, kinh
doanh quốc t
ế, tài chính và kế toán thương mại và các chuyên ngành khác của trường đại
học thương mại.
Kinh tế thương mại có quan hệ chặt chẽ với các môn khoa học khác như kinh tế học,
kinh tế chính trị học, kinh tế phát triển, lịch sử các học thuyết kinh tế Kinh tế thương
mại sử dụng các khái niệm và phạm trù đó trong lĩnh vực lưu thông và trao đổi buôn bán
các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị tr
ường.

11
Chương 2: Chức năng và Những tác động của thương mại
2.1. Chức năng của thương mại
2.1.1. Chức năng chung của thương mại
Được hình thành trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ phân công

Thương mại có chức năng thay đổi hình thái giá trị từ tiền sang hình thái vật chất
trong hành vi mua (T - H) và ngược lại trong hành vi bán.
Cùng với việc thay đổi hình thái giá trị là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu về
hàng hóa và tiền tệ. Quyền sở hữu tiền tệ chuyển từ người mua sang người bán và ngược
lại, quyền sở hữu hàng hóa chuyển từ
người bán sang người mua.
Nhờ chức năng này của thương mại mà người bán đạt được giá trị nhằm tìm kiếm
lợi
nhuận, người mua có được các giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng khác nhau
của họ.
Để thực hiện được chức năng này, thương mại phải tiến hành hàng loạt những hoạt
động gắn với việc thay đổi hình thái giá trị và chuyển đổi quyề
n sở hữu như: mua hàng,
bán hàng, xúc tiến thương mại, tiếp thị, quảng cáo
Về lý thuyết, các hoạt động này không tạo ra giá trị mới, không làm tăng giá trị sử
dụng của hàng hóa nhưng nó rất cần thiết và có ích cho xã hội.
2.1.2.2. Chức năng tổ chức quá trình phân phối hàng hóa, đưa hàng hóa từ lĩnh vực
sản xuất đến thị trường và tiếp tục hoạt động sản xuất trong lĩnh vự
c lưu thông
Sản xuất với tiêu dùng thường không ăn khớp với nhau về không gian, thời gian, số
lượng, chủng loại Vì vậy, thương mại cần thực hiện việc đưa các sản phẩm được sản
xuất ra đến các thị trường nơi mà con người có nhu cầu phù hợp các đòi hỏi của thị
trường về số lượng, cơ cấu, thời gian và không gian với chi phí thấp nhất.
Nhờ có chức năng này mà thương mại có thể tiếp tục thực hiện chức năng thay đổi
hình thái giá trị, thực hiện giá trị hàng hóa mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Cũng thông
qua chức năng này thương mại giải quyết được những mâu thuẫn vốn có giữa cung, cầu,
sản xuất và tiêu dùng trong điều kiện kinh tế hàng hóa.
Chức năng này của thương mại được thực hiện qua hàng lo
ạt những hoạt động khác
nhau.

i ngày càng
gia tăng.
Để gia tăng thời gian cho tiêu dùng trong điều kiện quĩ thời gian tự nhiên không đổi
thì vấn đề tiết kiệm và sử dung hợp lý quĩ thời gian trong tiêu dùng trở nên rất bức thiết.
Việc mở rộng các dịch vụ bán hàng đặc biệt là các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng
như: dịch vụ hoàn thiện sản phẩm , các dịch vụ chuẩn bị sẵn sàng nhất cho người tiêu
dùng và các dịch v
ụ liên quan đến quá trình tổ chức phục vụ quá trình tiêu dùng cá nhân
nhằm tạo sự thoải mái, thuận tiện, tiết kiệm thời gian cho người tiêu dùng đang ngày gắn
với hoạt động buôn bán và trở thành các hoạt động thuộc chức năng của thương mại
trong xã hội hiện đại.
Kinh tế thị trường hiện đại với các đặc trưng không phải là “khan hiếm” mà “dư
thừa” làm cho cạnh tranh khốc liệt ngày càng bu
ộc các doanh nghiệp thương mại cần
phải nhận thức sâu sắc hơn xu hướng thay đổi này trong chức năng của thương mại.
2.1.3. Biểu hiện các chức năng thương mại trong lĩnh vực dịch vụ
Do những đặc tính riêng biệt của dịch vụ: tính vô hình, sản xuất và tiêu dùng đồng
thời, nên chức năng của thương mại cũng có sự biểu hiện khác so với thương mạ
i hàng
hóa.
Thương mại dịch vụ thực hiện đồng thời cả chức năng sản xuất, chức năng lưu
thông và chức năng tổ chức tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ. Nghĩa là trong thương mại
dịch vụ các doanh nghiệp không chỉ thuần túy thực hiện việc mua bán, ngoài việc thực
hiện chức năng thương mại nó còn đồng thời thực hiện chức nă
ng sản xuất ra các dịch vụ

14
và tổ chức cả quá trình tiêu dùng các dịch vụ cho khách hàng. Các chức năng này vế cơ
bản được thực hiện đồng thời ở cung một không gian và trong cùng một thời gian.
Trong thương mại dịch vụ về cơ bản không có các hoạt động vận tải, bảo quản, dự

gồm nhiều ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Ngành thương mại thông qua hoạt
động mua bán hàng hóa và dịch vụ với mục đích lợi nhuận có liên quan và tác động to
lớn tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đa dạ
ng của nền kinh tế.
Thứ tư: Thương mại còn được xem như một hệ thống kinh tế.
Thương mại là một tập hợp các yếu tố có mối liên hệ qua lại thực hiện việc trao đổi
mua bán hàng hóa và các dịch vụ thông qua tiền tệ vì lợi nhuận. Hệ thống thương mại
được hình thành bởi 2 hệ thống con là cung và cầu. Các hệ thống này hoạt động và liên
hệ vớ
i nhau qua hoạt động của người mua, người bán trên thị trường. Đó là một hệ thống

15
kinh tế mở với môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp, công nghệ, xã hội và môi trường
tự nhiên bên ngoài.
Thương mại một mặt chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường nói trên, những yếu
tố này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của thương mại nhưng ngược lại
thương mại cũng tác động trở lại làm biến đổi những yếu tố môi tr
ường.
Vì thế tác động thương mại không chỉ thuần túy mang tính chất kinh tế, thương mại còn
có tác động mang tính chất xã hội, chính trị, pháp luật, công nghệ và ảnh hưởng mật thiết
với môi trường tự nhiên.
2.2.2. Phân loại tác động của thương mại
Tác động của thương mại rất phức tạp và đa chiều. Chúng ta có thể phân loại tác
động thương mại trên một số tiêu chí cơ bản sau:
2.2.2.1. Theo xu hướ
ng ảnh hưởng của tác động
Tác động của thương mại được phân thành các tác động tích cực và tác động tiêu
cực.
Những tác động của thương mại mà kết quả của ảnh hưởng có thể là những lợi ích
(vật chất hoặc tinh thần) hoặc tạo ra sự thúc đẩy vận động của các quá trình kinh tế-xã

kinh tế
Tác động xã hội bao gồm nhữ
ng ảnh hưởng của thương mại tới sự ổn định chính trị
quốc gia, tới thực hiện đường lối, chính sách của nhà nước, ảnh hưởng tới hệ thống luật
pháp của quốc gia.Ngoài ra nó còn bao gồm cả những tác động thương mại tới yếu tố dân
cư, hôn nhân và tổ chức gia đình, mức sống và trình độ giáo dục, phong tục, tập quán, lối
sống, hệ th
ống giá trị trong xã hội.
Tác động môi trường tự nhiên bao gồm những ảnh hưởng của thương mại tới môi
trường sống: bảo tồn các yếu tố tự nhiên (khí hậu, nguồn nước, khoáng sản, hệ thực vật,
động vật ), các yếu tố hạ tầng (giao thông vận tải, hệ thống thông tin, truyền thông )
Con người càng ngày càng nhận thức sự cần thiết và quan trọng của sự phát triển
bền vững. Vì vậy nghiên cứu các tác động thương mại cần xem xét toàn diện không chỉ
ảnh hưởng về kinh tế mà cả những khía cạnh tác động thương mại về xã hội, môi trường
cũng ngày càng được chú trọng trong việc hoạch định chiến lược và chính sách thương
mại phát triển của các quốc gia.
2.2.2.4. Các cách phân loại khác
Ngoài các cách phân loại cơ bản trên, người ta còn có thể phân loại tác động thương
mại theo nhiều tiêu thứ
c khác như:
Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, tác động có thể lượng hóa được (đo lường được)
và những tác động khó đo lường được (nhiều tác động thương mại có thể cảm nhận được
bằng định tính song rất khó định lượng).
Một số tác động thương mại mà hậu quả của nó có thể khắc phục được dễ dàng,
nhưng cũng có nhi
ều tác động mà hậu quả lại có thể là vĩnh viễn không khắc phục được
hoặc nếu sửa chữa được thì phải tốn kém nhiều tiền của, sức lực và thời gian.
2.2.3. ý nghĩa của việc nghiên cứu những tác động của thương mại
Nghiên cứu những tác động của thương mại rất quan trọng, nó không chỉ giúp cho
việc thúc đẩy hoạt động thương mại ở

kho hàng. Nhìn nhận tổng thể quá trình lưu thông, hàng hoá chỉ thoát khỏi quá trình sản
xuất và vân động tới tiêu dùng nếu có sự thống nhất và kết hợp các quá trình bộ phận lưu
chuyển hàng hoá (mua, bán) và giao nhận (vận chuyển và kho hàng). Tuy nhiên, ở từng
khâu của quá trình lưu thông lại có sự mâu thuẫn và tách rời giữa lưu chuyểnhàng hoá và
giao nhận, hoặc mâu thuẫn trong từng quá trình bộ phận đó.
3.1.3. Các ph
ương thức mua bán chủ yếu trong thương mại hàng hóa
Có nhiều phương thức mua bán được sử dụng trong thương mại hàng hoá. Mỗi
phương thức mua bán, trao đổi thương mại đều có đặc điểm riêng, bao gồm những hình
thức cụ thể và có ý nghĩa thực tiễn ở các góc độ nghiên cứu khác nhau.
Đối với nhà kinh doanh, đòi hỏi vận dụng các phương thức mua bán hoặc xuất nhập
khẩu phù hợp với từng loại hàng hoá, điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp và hoàn
cảnh cụ thể của môi trường thương mại .

18
Đối với nhà nước, cần có chính sách khuyến khích phát triển các phương thức kinh
doanh tiến bộ, đa dạng, tạo thuận lợi về hành lang pháp lý cho doanh nghiệp sử dụng các
phương thức đó mà không gặp các trở ngại, rủi ro trong chính sách thương mại, đồng thời
bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bán và người mua, nhà sản xuất và người tiêu
dùng.
Dưới đây là một số phương thứ
c mua bán chủ yếu:
3.1.3.1. Mua bán buôn và mua bán lẻ
Mua bán buôn là phương thức trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể nhà sản xuất,
thương nhân nhưng hàng hoá vẫn còn trong khâu lưu thông, chưa đến lĩnh vực tiêu dùng.
Mua bán buôn và dự trữ kho hàng thường với khối lượng lớn. Thời gian chu chuyển hàng
hoá và thu hồi vốn nhanh. Thanh toán thông qua ngân hàng thương mại và sử dụng các
chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Mua bán lẻ là phương thức trao đổi giưã các chủ thể người sản xuất, thương nhân và
người tiêu dùng, hàng hoá ra khỏi lưu thông và bắt đầu đến lĩnh vực tiêu dùng. Mua bán

tiến hành các quan hệ và giao dịch trực tiếp mà thông qua môi giới. Người môi giới cũng
không bỏ vốn ra kinh doanh như người đại lý, mà chỉ chắp nối các quan hệ trao đổi thông
qua cung cấp các thông tin, tư vấn, làm cầu nối cho người mua, người bán tiếp xúc, ký
kết hợp đồng và triển khai hoạt động thương mại có hiệu quả. Họ được hưởng hoa hồng
từ cả người bán và người mua theo thoả thuận của mỗi lần giao dịch với người uỷ thác.
Người môi giới có thể được người bán hoặc người mua uỷ thác cả công việc bán và mua
hàng hoá. Phương thức này thường được áp dụng trong trường hợp người bán không biết
người mua hoặc ng
ược lại, ngoài ra còn có những yếu tố khác như năng lực giao dịch
trực tiếp bị hạn chế…
3.1.3.4. Mua bán truyền thống và qua mạng internet
Mua bán truyền thống. Đây là phương thức phổ biến, mang tính truyền thống lâu
đời trong lịch sử. Người bán và người mua phải tiếp xúc với nhau tại các địa điểm nhất
định để thực hiện các giao dịch mua bán và thanh toán. Các quan hệ mua bán diễn ra theo
hợp đồng hoặc không nhất thiết phải có thoả thuận từ trước.
Mua bán qua mạng internet. Khác với phương thức mua bán truyền thống, phương
thức trao
đổi này sử dụng mạng internet để tiến hành các giao dịch mua bán hoặc xuất
nhập khẩu. Phương thức này luôn luôn phải dựa vào nền tảng công nghệ thông tin, viễn
thông. Trong nền kinh tế số hoá, khi thương mại điện tử phát triển, các giao dịch thương
mại về cơ bản sẽ không cần đến giấy tờ.
Trên thực tế, mua bán qua mạng có thể khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối cùng,
nhưng cũng có thể kết hợp với các giao dịch của phương thức thương mại truyền thống
(chẳng hạn, tìm kiếm thông tin, đặt hàng qua mạng nhưng giao hàng và thanh toán thì
người mua trả tiền trực tiếp cho người bán hoặc người được uỷ quyền). Các hình thức cụ
thể về mua bán qua mạng tuỳ thuộc vào hạ tầng c
ủa thương mại điện tử và thói quen của
các chủ thể kinh doanh.
3.1.3.5. Mua bán thanh toán ngay và mua bán chịu
Mua bán thanh toán ngay có thể áp dụng cho toàn bộ lô hàng hoặc cả hợp đồng hoặc

Gia công thương mại: Là phương thức trao đổi mà bên nhận gia công tiếp nhận vật
tư, nguyên liệu do bên đặt gia công giao hoặc bán cho, cùng bản vẽ thiết kế và tiến hành
lắp ráp, chế tạo sản phẩm theo yêu cầu kỹ thuật đã quy định trước, sau đó giao hoặc bán
lại hàng hoá cho bên đặt gia công. Bên nhận gia công sẽ nhận được một khoản thù lao
(gọi là phí gia công) theo thoả thuận trong hợp đồng. Đây là ph
ương thức thường được áp
dụng trong thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển (nơi có nhiều lao động,
giá nhân công thấp ) trong một số lĩnh vực như dệt may, da giày,
Đấu giá: Là phương thức mua bán đặc biệt, trong đó hàng hoá được tổ chức bán
công khai tại một địa điểm nhất định, những người mua được xem trước hàng hoá, tự do
cạnh tranh về giá và cuố
i cùng hàng hoá được bán cho người trả giá cao nhất. Những mặt
hàng áp dụng phương thức mua bán này thường là những hàng hoá khó tiêu chuẩn hoá.
Đấu thầu: Là phương thức mua bán đăc biệt, trong đó người mua (là người gọi
thầu) công bố các điều kiện mua hàng để người bán (người dự thầu) báo giá cả và các
điều kiện trả tiền, sau đó người mua sẽ chọn mua của người báo giá rẻ nhất và điều ki
ện
về tín dụng, giao hàng phù hợp hơn cả so với yêu cầu mà người mua đã đưa ra. Phương
thức này áp dụng phổ biến trong mua sắm (đấu thầu mua hàng) và thi công (đấu thầu dịch
vụ xây lắp) cấc công trình.

21
3.2. Những vấn đề cơ bản của kinh tế thương maị hàng hóa
3.2.1. Nhu cầu có khả năng thanh toán về hàng hóa
3.2.1.1. Nhu cầu có khả năng thanh toán, quỹ mua và sức mua hàng hoá
Nhu cầu có khả năng thanh toán là một bộ phận của nhu cầu nói chung. Đó là nhu
cầu về hàng hoá bị giới hạn bởi khả năng thanh toán bằng tiền hay các tài sản thanh toán
của dân cư và xã hội. Nhu cầu có khả năng thanh toán luôn được thể hiện trên thị trường
ở tổng số và cơ cấu hàng hoá mà xã hội và dân cư đòi hỏi thị trường phải thoả mãn trong
một khoảng thời gian nhất đị

p bằng tiền tăng lên, thì thường nhu cầu có khả năng thanh toán sẽ mở rộng
và cơ cấu của nhu cầu cũng thay đổi theo hướng sử dụng nhiều hàng phi lương thực, thực
phẩm hơn và ngược lại.

22
Ngoài ra, hướng sử dụng thu nhập bằng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô và cơ
cấu chi tiêu của dân cư, của xã hội để mua hàng hoá trên thị trường. Nếu dân cư giảm dự
trữ hoặc không gửi tiết kiệm tiền mặt thì chi tiêu mua hàng hoá và thanh toán dịch vụ sẽ
tăng lên. Nếu giảm chi tiêu cho dịch vụ thì nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và
xã hội về
hàng hoá sẽ tăng và ngược lại.
c. Nhóm yếu tố về sản xuất, cung ứng
Sản xuất và cung ứng có sự phù hợp về quy mô, cơ cấu và chất lượng hàng hoá
cũng như tính đều đặn, đảm bảo tiến độ thời gian giao hàng theo yêu cầu của thị trường
sẽ làm tăng nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội và ngược lại.
Hoạt động sản xuất, cung ứng vớ
i tính ổn định càng cao và chi phí càng thấp càng
kích thích làm tăng nhu cầu có khả năng thanh toán.
d. Nhóm yếu tố về giá cả, thị trường và cạnh tranh
Giá hàng tiêu dùng tăng thông thường làm hạn chế hoặc giảm nhu cầu có khả năng
thanh toán của dân cư và ngược lại. Giá các mặt hàng bổ sung gia tăng sẽ không kích
thích nhu cầu có khả năng thanh toán. Giá mặt hàng thay thế giảm sẽ làm chuyển dịch
nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư sang mặt hàng thay thế đó.
Hạ tầng của thị trường về kỹ thuật, về dân cư và pháp lý, dung lượng thị trường,
quan hệ
cung cầu, xu hướng cạnh tranh về chất lượng, về dịch vụ hỗ trợ như quảng cáo,
tư vấn, giao nhận, … đều ảnh hưởng tới nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và xã
hội.
e. Nhóm yếu tố về chính sách điều tiết vĩ mô của chính phủ
Chính sách của chính phủ có thể điều tiết cung, cầu và mối quan hệ đó, cũng như

Yếu tố về thị trường. Giá cả hàng hoá và các sản phẩm thay thế, những thay đổi của
nhu cầu, tình hình cạnh tranh trong nước và quốc tế, … có thể ảnh hưởng tới quy mô hay
cơ cấu cung ứng hàng hoá trên thị trường.
Các chính sách vĩ mô đối với cung và nguồn hàng bao gồm các chính sách thương
mại, đầu tư, tài chính, đất đai, tài nguyên môi trường, …và quy hoạch phát triển nguồn
hàng.
3.2.2.2. Nguồn hàng cung ứng trên thị trường
a. Khái niệm
Nguồn hàng là nguồn tạo ra hàng hoá để cung ứng trên thị trường. Đó là nơi phát
ra các luồng hàng hoá vận động trên thị trường trong nước và quốc tế, là nơi cung ứng
hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản xuất nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên, nguồn
hàng không phải đơn thuần là khái niệm chỉ vị trí địa lý, nơi khởi nguồn các dòng chảy
của hàng hoá vào kênh phân phối, mà còn hàm chứa quy mô, cơ cấu và sự phân bố nguồ
n
hàng, tiềm năng đưa hàng hoá ra thị trường trong một khoảng thời gian nhất định.
b. Tạo lập nguồn hàng cung ứng trên thị trường
Nguồn hàng có 2 loại: nguồn hàng trong nước và nguồn nhập khẩu. Mỗi nguồn hàng
có vị trí, vai trò quan trọng khác nhau đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Một mặt quy mô, cơ cấu và sự phân bố nguồn hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động cung ứng hàng hoá trên thị trường. Mặt khác, sự phát triển của nguồn hàng phụ
thuộc vào sản xuất, các quy hoạch phát triển kinh tế
và chính sách vĩ mô của chính phủ
về tài chính, thương mại và đầu tư cũng như các hỗ trợ khác về hạ tầng cơ sở, các yếu tố
của môi trường quốc tế.
Nhà nước cần phải có chính sách tạo lập và phát triển nguồn hàng, đảm bảo nguồn
hàng mang tính ổn định, hợp lý và cân đối. Doanh nghiệp cũng cần chủ động tham gia
đầu tư vào các khu vực nguồn hàng để tạo ra c
ơ sở vật chất cho hoạt động cung ứng liên
tục, mang tính cạnh tranh và có hiệu quả, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế


móc thiết bị, phụ tùng, công nghệ là những “đầu vào” phục sản xuất được lưu thông
trên thị trường.
Dự trữ hàng tiêu dùng bao gồm hàng lương thực, thực phẩm và hàng công nghiệp
tiêu dùng được lưu thông trên thị trường phục vụ tiêu dùng đời sống dân cư.
b. Theo mục đích sử dụng
Dự trữ thường xuyên bao gồm toàn bộ những hàng hoá thường xuyên phải có bán
trên thị trường. Nếu thiếu hàng sẽ gián đoạn lưu thông, gây khó khăn trở ngại cho sản
xuất và đời sống (Ví dụ: xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng, lương thực, thực phẩm ).

25
Dự trữ thời vụ, là những hàng hoá được hình thành ở vào thời vụ của sản xuất và
tiêu dùng nhằm tận dụng tối đa các cơ hội trong mua và bán hàng hoá hoặc khắc phục
tính thời vụ của sản xuất và tiêu dùng (chẳng hạn, kinh doanh hàng nông sản, hàng thuỷ
sản ở vào mùa thu hoạch, hàng tiêu dùng trong các dịp lễ, tết, … và chính sách vĩ mô của
chính phủ đối với dự trữ lưu thông đối với các m
ặt hàng có tính thời vụ đó) .
Dự trữ bảo hiểm là loại dự trữ đề phòng những rủi ro, bất trắc xảy ra (chẳng hạn, do
bán nhanh hết hàng, do vận chuyển hàng đến chậm, do thiên tai, do chiến tranh ).
c. Các phân loại khác (theo quy mô, thời gian, hình thức biểu hiện và sự vận động của dự
trữ)

Theo quy mô gồm có dự trữ thấp nhất, cao nhất và bình quân. Theo thời gian gồm
có dự trữ đầu kỳ, cuối kỳ. Theo hình thức biểu hiện có dự trữ hiện vật, trị giá dự trữ và
thời gian (số ngày) dự trữ hàng hoá. Theo quá trình vận động gồm hàng hoá dự trữ trong
các kho hàng, hàng hoá đang trên đường đi, hàng gửi bán hoặc quảng cáo tại các hội chợ
thương mại.
3.2.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tớ
i dự trữ hàng hoá
Các yếu tố thuộc về sản xuất như quy mô, cơ cấu, trình độ, tính chất và sự phân bố
sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status