phân tích hình tượng nhân vật khuất nguyên, kinh kha, hạng vũ trong sử ký từ đó nêu lên quan điểm sáng tác của tư mã thiên - Pdf 16

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: NGỮ VĂN- LỚP CỬ NHÂN VĂN 2B
MÔN: VĂN HỌC TRUNG QUỐC
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT KHUẤT NGUYÊN, KINH KHA, HẠNG VŨ
TRONG SỬ KÝ TỪ ĐÓ NÊU LÊN QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC CỦA TƯ MÃ THIÊN
Giảng viên hướng dẫn: Phan Thu Vân
Nhóm thực hiện : Nhóm Ô Ô
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 3 NĂM 201
Mục lục
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
I.TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1. Cuộc đời và sự nghiệp của Tư Mã Thiên
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp
1.2. Quan điểm sáng tác của Tư Mã Thiên
2. Giới thiệu sơ lược về sử kí
II. NỘI DUNG
1. Khái niệm hình tượng
2. Phương pháp chung xây dựng hình tượng nhân vật trong Sử Ký
3. Hình tượng nhân vật điển hình trong Sử Ký
3.1 Khuất Nguyên
3.2 Kinh Kha
3.3 Hạng Vũ
III. Kết luận
Tài liệu Tham Khảo
I.TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM:
1.Cuộc đời và sự nghiệp:
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Tư Mã Thiên:
Tư Mã Thiên sinh năm 145 TCN, ở Long Môn (nay là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây,
Trung Quốc), vì không có những tài liệu gì về ông, người ta chỉ dựa vào bức thư ông trả lời cho

tướng này. Hán Vũ Đế cho rằng Tư Mã Thiên, qua việc bảo vệ Lý Lăng, đã ngầm chê Lý Quảng
Lợi, anh vợ của Vũ Đế, là nhút nhát. Tư Mã Thiên bị tội tử hình, nếu không chuộc bằng tiền bạc
hoặc bị cung hình (thiến). Do không đủ tiền chuộc, ông đành chọn bị thiến và bị giam trong ngục
thất.
Sau khi được thả, Tư Mã Thiên được làm Trung thư lệnh, đây là chức quan to, ở gần vua,
được ra vào cung cấm, xem các tài liệu mật, chức này chỉ dành cho hoạn quan. Thỉnh thoảng ông
được đi theo vua trong các cuộc tuần du. Không được giữ chức Thái sử nữa, lại luôn cảm thấy
nhục nhã vì hình phạt, ông dồn tất cả tâm sức cho bộ Sử ký và hoàn thành nó năm 97 TCN (có
sách nói là năm 91 TCN, lúc ông trên 55 tuổi).
Những ngày tháng cuối đời của Tư Mã Thiên, không ai để ý tới ông cả và ông mất năm nào
cũng không biết rõ. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử công niên khảo có lẽ ông mất vào năm
60 tuổi, năm 86 TCN cùng một năm với Vũ đế.
1.2. Quan điểm sáng tác của Tư Mã Thiên
Trong sáng tác của mình, Tư Mã Thiên ý thức rất nghiêm túc trong việc “thành nhất gia chi
ngôn”, cũng là rất coi trọng chuyện “lập ngôn” vậy. Trong Thư gửi Chí Bá Lăng (Dữ Chí Bá
Lăng thư) ông có nói: “Thiên tôi nghe nói người quân tử có ba loại đáng quý: Thứ nhất là lập
đức, kế đến là lập công, kế nữa là lập ngôn”. Chính vì thế mà khi làm sử quan, Tư Mã Thiên
luôn có ý thức sâu sắc về sứ mệnh đặc biệt quan trọng của mình. Vì sự kiện Lý Lăng mà ông bị
khép tội và phải chịu hình phạt tàn khốc là “ cung hình”, điều này khiến ông đau đớn về thể xác,
nhục nhã về nhân cách, tinh thần nhưng ông đã nén nỗi đau riêng mà hoàn thành bộ Sử ký.
Nhưng trong Tư Mã Thiên luôn tồn tại tinh thần bất bình và phẫn uất với thực tại. Một
thực tại mà người hiền tài luôn bị đối xử một cách khắc nghiệt. Trong “Thái sử công tự tự”,
Tư Mã thiên đưa ra thuyết “Phát phẫn trứ thư”(Uất ức mà viết thành sách). Ông viết: “ Thái sử
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
công gặp cái họa Lý Lăng, bị cùm trói trong tù, bèn bùi ngùi mà rằng: “Đó là tội của ta! Đó là
tội của ta! Thân tàn không dùng được nữa rồi!”. Nhưng lại suy nghĩ kỹ mà rằng : Ôi! Viết sách
làm thơ, đó là điều những người trong lúc cùng dùng để truyền đạt cái ý nghĩ của mình. Xưa Tây
Bá bị tù ở Dĩu Lý nên diễn giải Chu Dịch; Khổng Tử gặp nạn ở đất Trần, đất Thái nên viết xuân
Thu; Khuất Nguyên bị đuổi, viết Ly Tao; Tả Khâu Minh bị mù mà làm quốc ngữ; Tôn Tẫn bị cụt
chân, bàn binh pháp; Lã Bất Vi bị đày sang Thục, đời truyền lại sách Lữ Lãm; Hàn Phi bị tù ở

Thiên nói chuyện người xưa nhưng thực ra là nói về mình. Tác phẩm viết ra từ những điều uất ức
không hề là những câu chuyện sáng tác riêng tư, mà biểu lộ nỗi bất bình chung của nhà văn đối
với thực tại.
Tư Mã Thiên còn ca ngợi những bậc anh hùng đã có công tiêu diệt bọn cường quyền,
những con người hết lòng vì dân vì nước. Đồng thời ông cũng bày tỏ sự đồng cảm với số phận
tài hoa nhưng bị xã hội mục nát đương thời chà đạp, đẩy họ vào những bi kịch.
Ngoài ra Tư Mã Thiên còn có quan điểm về sử học và việc viết sử rất độc đáo và khác biệt so
với những nhà sử học khác. Tư Mã Thiên nói về phương pháp viết sử của mình như sau: “tôi chỉ
thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có phải sáng tác đâu.” Câu nói này
thể hiện đúng cái quan điểm của tác giả và sử. Ngày nay chúng ta không nắm được tất cả những
tài liệu ông đã dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không bao giờ thay đổi tài liệu. Những
nhân vật thời Ân, Chu, chính là những nhân vật của Thượng Thư, những nhân vật thời Xuân
Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của Xuân Thu, Quốc Ngữ, Tả Truyện, Chiến quốc sách. Lời
nói của họ là lời họ nói trong thực tế, theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà
Tần là do chính tay tác giả chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng văn kiện vô
giá, nào chế, biểu, nào văn bia, thư phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận rất dài, tất cả
chiếm một phần ba tác phẩm; trong số đó phần lớn còn sống đến ngày nay vì nó gắn liền với số
phận của Sử Ký. Đành rằng, đây đó, có những chi tiết sai lầm vì tài liệu lúc bấy giờ số lớn là tài
liệu truyền miệng. Nhưng nói chung ông hết sức nghiêm túc.
Quan niệm viết sử này khác xa quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mã. Các nhà viết
sử cổ đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công trình nghệ thuật. Những nhân vật của họ đọc
những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy tồn tại với tính cách
những giả thuyết tiêu biểu cho chính kiến của họ. Chính vì vậy sử học hiện đại không xem đó là
những công trình khoa học, không ai lấy đó làm cơ sở chính cho sự nghiên cứu La Mã, Hy Lạp
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
cổ. Trái lại, Sử Ký từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn nhất của cổ sử Trung hoa. Bất kỳ ai muốn
nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của Trung quốc cổ cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiểu
nói, “một trăm đời sau, các sử quan không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không
thể bỏ quyển sách của ông”, chính là vì vậy.
Tư Mã Thiên là người cha của sử học Trung hoa, nhưng là một người cha khó bắt chước nhất.

hành động sai trái của chế độ thống trị mà cao nhất đó chính là những tên vua tàn ác, ngu si, ăn
chơi sa đọa, gây chiến tranh liên miên làm cho đời sống nhân dân lâm vào khổ cực, lầm than.
Mặc dù trong thời Hán ảnh hưởng của Nho giáo còn rất lớn nhưng Tư Mã Thiên ít chịu bị chi
phối bởi tư tưởng Nho giáo. Ông không đề cao những giai cấp thống trị, cùng những tư tưởng
Nho giáo hà khắc của Khổng Tử . Đối với bọn vua tàn ác, ông lên án và ca ngợi người anh hùng
vì nghĩa.
Ông luôn luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá nhân vật lịch sử.
Đặc biệt khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu rõ sự gắn bó của nhân vật với số phận của
dân chúng. Ông thấy rõ Trần Thiệp “tài năng ở dưới mức trung bình”, nhưng đã làm được một
việc oanh liệt, chỉ vì được dân chúng ủng hộ. Sự phân tích của ông về sự thành công của Lưu
Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có một ý nghĩa to lớn. Dưới con mắt của ông, Hạng Vũ là một
con người phi thường “tài năng và chí khí hơn người”, “từ cận cổ đến nay chưa ai có được như
thế”. Về tư cách cá nhân mà nói, thì Lưu Bang kém Hạng Vũ về tất cả mọi mặt. Hạng Vũ là viên
tướng bách chiến bách thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi “đi bằng đầu gối, không ai dám
ngẩng lên nhìn”. Hạng Vũ thương người và trọng nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người “không
lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái”, ngạo mạn, vô lễ, “thấy khách đội mũ nhà nho, Bái Công liền
giật lấy mũ đái vào trong”. Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được thiên hạ. Đó là vì Lưu
Bang biết tự kiềm chế mình, lắng nghe theo lòng dân, luôn luôn chú ý đến dân chúng cho nên
dân chúng tin. Đúng như Hàn Tín nói, Hạng Vũ chỉ có cái nhân của người đàn bà, cái dũng của
một kẻ thất phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào tài năng của cá nhân mình, nghi ngờ tất cả; đã thế
lại hiếu sát làm cho nhân dân thất vọng. Lưu Bang đã thắng vì biết dựa vào dân, tận dụng tài
năng các tướng. Cách nhìn nhận như vậy rất đúng và khoa học. Nó làm người ta nhớ đến những
tác phẩm của Makiaven, ở đây, Tư Mã Thiên có thể sánh với những sử gia lớn nhất của thời cổ
đại.
2. Sử kí và ảnh hưởng của sử kí với Trung Quốc
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
2.1. Giới thiệu sơ lược về sử kí
Với bộ Sử ký, Tư Mã Thiên được tôn là Sử thánh, một trong Mười vị thánh trong lịch sử
Trung Quốc. Tư Mã Thiên làm chức Thái sử lệnh rồi Trung thư lệnh, đời nhà Hán. Sử ký là công
trình sử học lớn nhất của Trung Quốc và là một trong những quyển sử có tiếng nhất của thế giới.

(như phương pháp đàm thoại khiến các miêu tả thêm sống động), "phong cách sáng tạo" (ngôn
ngữ bình dân, dí dỏm và phong phú, như tác phẩm thơ không vần), "súc tích" (cách viết chỉ miêu
tả những điểm cốt yếu, ngắn gọn dễ hiểu) Sử ký của Tư Mã Thiên có hàng ngàn nhân vật điển
hình sống mãi trong văn học, điều đó làm cho ông có thể xếp ngang hàng với những nhà văn bậc
thầy của thế giới. Hệ thống nhân vật của ông thật đông đảo, thật đa dạng, đủ các nghề nghiệp, đủ
các đẳng cấp, từ các bậc đế vương, hàng ngũ quan lại, các triết gia… cho đến những thị dân,
nông dân ở mọi nơi, mọi chốn. Những hình tượng nhân vật như các bậc đế vương Hạng Vũ, Lưu
Bang, những tướng lĩnh tài ba Hàn Tín, Lý Quảng, thích khách can trường như Kinh Kha,
thương gia giảo hoạt như Lã Bất Vi, những thuyết khách tài giỏi “uốn ba tấc lưỡi” làm xoay
chuyển thiên hạ như Tô Tần, Trương Nghi, những triết gia bất tử như Khổng Khâu, Trang Tru,
v.v… không những đã trở thành những hình mẫu, những chuẩn mực nghệ thuật vĩnh cửu mà còn
là đề tài, là nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều thế hệ nhà văn kế tiếp.
Ở Sử Ký, không giống các văn bản lịch sử chính thức thời gian sau này, vốn chấp nhận
học thuyết Khổng giáo, tuyên bố quyền lực thần thánh của các vị Hoàng đế và loại trừ ra ngoài
vòng pháp luật mọi âm mưu chiếm ngôi báu, phong cách viết sử tự do và có chủ đích của Tư Mã
Thiên đã được nhiều nhà thơ và tiểu thuyết sau này học tập. Đa số các thiên Liệt truyện đều là
những đoạn văn miêu tả sống động các nhân vật và sự kiện, vì Tư Mã Thiên đã sử dụng một cách
chính xác các câu chuyện lịch sử trong quá khứ làm nguồn tư liệu của mình, và có điều chỉnh lại
cho đúng với thực tế.Ví dụ, ông viết truyện Kinh Kha ám sát Tần Thuỷ Hoàng trong thiên
“Thích khách liệt truyện” dựa trên lời kể của một vị quan trong triều nhà Tần và vụ ám sát xảy ra
khi vị quan đó đang có mặt tại đó
Sử ký gồm trên 52 vạn chữ, 130 thiên, xếp loại các thông tin thành 5 phần khác nhau: Bản
kỷ, Biểu, Thư, Thế gia và Liệt truyện.
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
12 thiên Bản kỷ (Quyển 1-12): ghi lại tiểu sử của những vị vua nổi tiếng từ thời vị Hoàng Đế
thần thoại cho tới Tần Thuỷ Hoàng và các vị vua của nhà Hạ, nhà Thương, và nhà Chu. Tiểu sử
của bốn Hoàng đế và một hoàng hậu nhiếp chính (Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu
Vũ) nhà Tây Hán trước thời ông cũng được cho vào phần này.
10 thiên Biểu (Quyển 13-22): xây dựng bảng thời gian các sự kiện quan trọng.
8 thiên Thư (Quyển 23-30): là những đoạn sử về kinh tế, văn hóa, khoa học và tôn giáo trong

nói và hiểu được cá tình của nhân vật.
Với việc chọn góc nhìn về lịch sử khách quan và rất khoa học, Tư Mã Thiên không nhìn nhân
vật của mình bằng con mắt phong kiến, Nho gia giáo điều hà khắc bóp méo sự thật lịch sử. Ông
không qua những chi tiết có thể với một vài sử gia nó là vụn vặt như là câu nói hay hành động trẻ
con lúc còn nhỏ của nhân vật. Ông chọn lọc những chi tiết đó, chính những hành động lúc nhỏ
chính là nền tảng hình thành, ảnh hưởng đến con người nhân vật sau này.
Tư Mã Thiên đặc biệt là không bao giờ thuyết minh dài dòng mà chủ yếu để bản thân sự việc, cá
tính nhân vật tự nói lên tình cách của họ. Ông miêu tả nhân vật trung thực không che giấu cái xấu,
phô trương cái tốt. Ví như khi viết về Lưu Bang (Hán Cao Tổ) ông không ngần ngại khắc họa Lưu
Bang như một tên lưu manh, thủ đoạn.
Bên cạnh đó nhiều nhân vật trong Sử Ký cũng được Tư Mã Thiên đưa vào những chi tiết
hoang đường. Chính những chi tiết này làm cho nhân vật càng sống động thú vị hơn.
Nhân vật của Tư Mã Thiên cũng được miêu tả tâm lý thành công và sâu sắc.

3. Hình tượng nhân vật điển hình trong Sử Ký
3.1 KHUẤT NGUYÊN
Khuất Nguyên vốn là một nhà chính trị gia, một nhà thơ yêu nước. Vì bị người khác ganh tị
mà dèm pha ông nên Sở Hoài Vương đã tù đày Khuất Nguyên và dẫn đến kết cục là ông phải tự
tử ở sông Mịch La. Trước đó, hoàn cảnh và số phận của Khuất Nguyên không được ai biết đến.
Ông như là một người vô danh trong cái xã hội lúc bấy giờ. Nhưng nhờ có Sử Ký của Tư Mã
Thiên, Khuất Nguyên đã được người đời biết đến và trở thành một hình tượng nổi bật và điển
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
hình trong Sử Ký. Tư Mã Thiên đã kể lại chuyện Khuất Nguyên như kể về một người bạn, một
người tri kỉ mà ông luôn thấu hiểu nỗi lòng. . Do đó có thể nói rằng: “ trước ông không ai nói
đến Khuất Nguyên, sau ông không ai đánh giá Khuất Nguyên đúng bằng”
Khi miêu tả Khuất Nguyên, Tư Mã Thiên chỉ dùng vài nét tiêu biểu mà đã làm nổi lên nhân
vật điển hình. Khuất Nguyên một lòng vì dân vì nước mà bị dèm pha. Để xây dựng thành công
nhân vật Khuất Nguyên, ban đầu Tư Mã Thiên đã nói về tài năng, tấm lòng yêu nước và sự tín
nhiệm của Sở Hoài Vương dành cho ông.
“ Khuất Nguyên tên là Bình cùng họ với vua nước Sở. Bình làm chức tả đô đời Sở Hoài Vương,

Vương lo ngại bèn sai Trương Nghi giả vờ bỏ Tần, mang nhiều tiền của tình nguyện thờ nước
Sở. Trương Nghi nói:
- Tần ghét Tề, nhưng Tề lại hợp tung, thân với Sở. Nếu Sở tuyệt giao với Tề thì Tần sẽ xin dâng
sáu trăm dặm đất ở Thượng Ư.
Sở Hoài Vương tham đất, lại tin lời Trương Nghi, bèn tuyệt giao với Tề, sai sứ sang Tần nhận
đất. Trương Nghi nói dối sứ giả:
- Nghi hẹn cho nhà vua sáu dặm, chứ có phải làm sáu trăm dặm đâu.
Sứ thần Sở giận, ra về, nói lại với Hoài Vương. Hoài Vương giận, đem đại quân đánh Tần. Tần
đem quân đánh lại phá tan quân Sở ở sông Đan, sông Tỉnh, cém tám vạn đầu bắt tướng Sở là
Khuất Cái, lấy đất Hán Trung của Sở. Hoài Vương bèn đem tất cả quân trong nước Sở đánh sâu
vào nước Tần. Hai bên đánh nhau ở Lam Điền. Nước Ngụy nghe tin, đánh úp Sở, đem quân đến
đất Đặng. Quân Sở lo sợ từ nước Tần trở về, còn quân Tề thì giận không cứu Sở. Sở khốn to.”
Để làm tăng thêm sự hèn kém của Sở Hoài Vương, Tư Mã thiên còn kể thêm việc thả
Trương Nghi của ông ta. Vì nghe lời của Cận Thượng và sủng phi của mình là Trịnh Tụ mà bỏ
qua lời khuyên của Khuất Nguyên- người luôn trung thành với mình, Sở Hoài Vương đã tha cho
kẻ đã khiến mình bị mất nước, nhân dân khổ cực.
Thông qua việc khắc họa rõ nét sự ngu muội của Sở Hoài Vương, Tư Mã Thiên đã làm nổi
bật tinh thần trung quân ái quốc cao quý của Khuất Nguyên. Đối lập với một vị vua ngu ngốc và
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
hèn kém là một người văn nhân tài giỏi và hết mực trung thành. Tuy có bất bình trước sự mê
muội của Hoài Vương nhưng thay vì bỏ mặc không lo nghĩ thì Khuất Nguyên vẫn một lòng lo
nghĩ đến vua đến nước. Ông luôn tin tưởng rằng Hoài Vương sẽ có một ngày nhận ra nỗi oan
khuất của mình mà lại tin tưởng mình để mình có thể báo ơn vua, đền nợ nước.
“Khuất Bình cũng ghét chuyện ấy. Tuy bị ruồng bỏ, xua đuổi, ông vẫn lo toan nước Sở, lòng
vẫn nghĩ đến Hoài Vương, cứ mong trở về, mong có một ngày nào nhà vua tỉnh ngộ, tập tục sẽ
thay đổi. Lòng ông chỉ mong sao cho nhà vua được còn, nước được mạnh, trong một bài, ông
nhắc đi nhắc lại điều ấy đến ba lần. Nhưng rốt cục vẫn không làm sao được ! Điều đó, chứng tỏ
Hoài Vương suốt đời không tỉnh ngộ”
Tuy nhiên mong ước ấy của Khuất Nguyên không thể thành sự thật được. Sở Hoài Vương
không bao giờ tỉnh ngộ được. Để chứng minh cho sự không tỉnh ngộ đó của Sở Hoài Vương, Tư

“ Hư danh thực họa thù kham tiếu
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên”
( Oan thán)
Và cũng như Khuất Nguyên, Nguyễn trãi không lo cho riêng mình mà dành nỗi ưu tư lớn cho
vận mệnh nước nhà, cho thế hệ tương lai:
“ Hư danh tự thán thành Cơ, Đẩu
Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng”
( Mạn hứng III)
Nếu như trong thơ Nguyễn Trãi phảng phất nỗi buồn sâu lắng thì đó là nỗi buồn vì lí tưởng
chưa thành, tự thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm với dân với nước:
“ Quốc phú binh cường chăng có chước
Bằng tôi nào thuở ích chưng dân”
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
( Trần tình II)
Điều đó chứng tỏ Tư Mã Thiên đã xây dựng thành công hình tượng Khuất Nguyên để trở
thành hình tượng tiêu biểu cho lớp người tài hoa nhưng lại bị các thế lực xấu xa vùi dập, những
con người tuy có tài năng nhưng thời thế lại không cho phép họ phô diễn tài năng đó ra giúp đời
Có thể nói rằng hình tượng Khuất Nguyên được xây dựng gần giống với con người của Tư
Mã Thiên. Khuất Nguyên là người có tài nhưng lại gặp cảnh ngộ bi thảm cũng giống như Tư Mã
Thiên vì giúp bạn mà phải chịu nhục hình. Một điểm giống nhau nữa giữa Tư Mã Thiên và
Khuất Nguyên là nếu như Khuất Nguyên giận về nỗi nhà vua nghe không phân biệt phải trái, để
lời gièm pha che mất óc sáng suốt, để kẻ gian ác làm hại người trung thành, khiến cho người
ngay không có chỗ dung thân, cho nên lo buồn nghĩ ngợi mà làm ra Ly Tao thì Tư Mã Thiên từ
bi kịch của bản thân mà phẫn uất căm hận mà viết nên Sử kí. Điều này đã thể hiện được quan
niệm ““ Phát phẫn trứ thư” ( uất ức mà viết thành sách) của Tư Mã Thiên.
Khuất Nguyên vì luôn ray rứt với lẽ sống của con người, với thực trạng của cuộc đời. Ông
giận vua không phân biệt phải trái, nghe lời kẻ nịnh thần mà làm hại người trung thành. Thất
vọng trước cuộc đời ông đã làm bài “ Ly tao”. Và Tư Mã Thiên không chỉ viết về cuộc đời Khuất
Nguyên mà còn đưa ra những nhận định về văn phong của “ Ly tao”, nói về giá trị của nó. Điều
đó chứng tỏ ông thực sự hiểu rõ nỗi lòng của Khuất Nguyên.”. Có thể thấy rằng Tư Mã Thiên đã

không biết người mà mắc vạ, Kinh Dịch nói: Giếng sạch chẳng ăn, lòng ta băn khoăn ! Đạo ta
có thể đem ra dùng, vua sáng dùng đạo ta, mọi người đều nhờ phúc . Vua không sáng thì thực là
vô phúc vậy”
Qua đó thể hiện tư tưởng sâu sắc của Tư Mã Thiên thông qua ngòi bút của ông. Không với
những nhà sử học khác, ông không e ngại cường quyền, viết đúng những gì mắt thấy tai nghe.
Ông đứng về tư tưởng của nhân dân mà phán xét. Ông oán ghét những tên vua chúa hoang dâm
vô độ, hại nước hại dân nên ngòi bút của ông không hề khoan nhượng mà thẳng tay chỉ trích
chúng. Còn đối với những người tài hoa có công với nhân dân, một lòng yêu mến nhân dân thì
ông dùng hết lời khen ngợi. Có thể nói ngòi bút của Tư Mã Thiên là ngòi bút ghi chép đúng sự
thật, trung thành với sự thật lịch sử.
Vì thương cảm cho cuộc đời đầy khí tiết của Khuất Nguyên mà không ai được biết đến.
Ông đã sửa lại sự bất công đó bằng việc ghi chép thêm sự việc những người đời sau vì ngưỡng
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
mộ tấm gương trung kiên của Khuất Nguyên mà đến viếng thăm nơi ông nhảy xuống sông. Vì
bọn vua chúa đều mê muội trong việc dùng người cho nên Khuất Nguyên mới đâm đầu xuống
sông Mịch La rồi Gỉa Nghi mới phải điếu Khuất Nguyên để tự điếu mình. Và Tư Mã Thiên đã
ghi chép nỗi lòng của hai nhà thơ ấy cũng như là ghi chép nỗi lòng của mình nữa. “Sau khi
Khuất Nguyên chết đuối ở Mịch La hơn trăm năm, đến đời Hán, có Giả Nghị làm thái thú của
Trường Sa Vương, qua sông Tương ném thư xuống sông để điếu Khuất Nguyên”
3.2 Kinh Kha
Hình tượng Kinh Kha trước hết được ghi trong sử sách tự hơn hai ngàn năm qua, đó là lịch
sử sau được các văn nhân đem viết thành dã sử như trong “Đông Chu Liệt Quốc”.Kinh Kha
trong “Sử Ký” của Tư Mã Thiên chỉ được ghi chép văn tắt chừng mười trang ở mục “Thích
Khách Liệt Truyện” nhưng đã dựng lên một hình tượng khá độc đáo về Kinh Kha.
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã có những câu thơ về hình tượng người anh hùng này:
“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư
Kìa uy dũng kẻ sang Tần không trở lại
Đã trùm lấn Yêu Ly, hề át Chuyên Chư
Ôi Kinh Kha!

tuy nhỏ nhưng lại khắc họa đậm nét cá tính của Kinh Kha: thâm trầm và mang một tâm sự u uẩn.
Kinh Kha chỉ kết thân với người tâm giao ý hợp cho dù người đó là địa vị thấp hay cao,như Cáp
Nhiếp hay với Lỗ Cao Tiễn, hay trong bất kì hoàn cảnh nào, trong quán thịt chó, tưởng chừng
như là nơi “trần tục” nhưng từ nơi đó lại sinh ra một tình bạn đẹp. Cách chọn bạn tâm giao của
Kinh kha cũng cho thấy được tính cách và tâm hồn của nhân vật này.
Với Tư Mã Thiên, một nhân vật lịch sử không chỉ được miêu tả trong khi họ đóng vai trò
lịch sử mà họ được miêu tả trong cả cuộc sống đời thường, ở cả những lúc khốn khó nhất, cùng
quẫn nhất. Vì theo ông, có như vậy thì nhân vật mới không phải đóng kịch để trình diễn vai trò
lịch sử của mình, mới thấy, mới hiểu được một cách chân thật nhất và có cách nhìn nhận chính
xác về nhân vật này. Chính vì điều này mà hệ thống nhân vật trong “Sử ký” nói chung và nhân
vật Kinh kha nói riêng hiện lên trên từng thiên truyện hết sức đặc sắc và nổi bật.
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
Kinh Kha chỉ là một tân khách. Người ta chưa thấy Kinh Kha là dũng sĩ ở một cử chỉ hay
giọng nói nào cả. Mãi đến khi Thái Tử Đan bày tỏ công việc nhờ Kinh Kha, Kinh Kha đã nói
rằng: “Đó là một việc lớn của nước, thần hèn kém sợ không đáng sai khiến”. Đó không phải là
câu nói nhún mình, mà là sự thật. Thái Tử Đan dập đầu cố xin thì Kinh Kha lại từ chối nhiều lần
rồi mới nhận lời. Kinh Kha là người biết tự tri, một người biết suy nghĩ thấu đáo, xét kĩ trước khi
làm công việc gì mà đây lại còn là việc nước hệ trọng.
Kinh Kha cũng là một kẻ sĩ không hành động khinh suất, nóng vội. Kinh Kha bảo với
Thái Tử Đan rằng: “Tôi có một người bạn quen là Cáp Nhiếp chưa đến, muốn đợi bạn tôi giúp
sức mới có hy vọng thành việc được”. Nhưng vì cái họa Tần đến mau quá, vua Tần đã sai đại
tướng Vương Tiễn đi lấn đất đã sang đến nước Yên. Kinh Kha đành liều đi, trong bụng tuyệt
vọng.
Từng chi tiết nhỏ được Tư Mã Thiên chú trọng làm nổi bật lên tính cách của nhân vật
chính, nhất là qua từng sự việc cụ thể.
Bên sông Dịch Thủy, mọi người đều “mặc áo mũ trắng” để tiễn đưa Kinh Kha- tiễn đưa
người hiệp sĩ lên đường sẽ không bao giờ quay trở lại. Cao Tiệm Ly gẫy đàn trúc, Kinh Kha theo
nhịp mà hát. Tiếng đàn và lời hát bi tráng làm “ kẻ sĩ đều sụt sùi nức nở”:
“Gió hiu hắt, chừ. Dịch Thủy lạnh ghê
Tráng sĩ ra đi, chừ, không bao giờ về”

ngoạn qua Chiết Giang: “ có thể cướp và thay thế hắn”. Từ những chi tiết nhỏ ấy được tác giả
khai thác ta có thể thấy được Hạng Vũ có chí khí hơn người đây là nét tính cách nổi bật của ông.
Hạng Vũ rất dũng cảm, gần như Hạng Vũ không sợ một ai, chỉ có người khác sợ Hạng Vũ.
Hạng Vũ “thân cao hơn tám thước, có thể vác nổi chiếc đỉnh”. Chỉ với một câu mà Tư Mã Thiên
đã dựng nên hình tượng Hạng Vũ hơn người và có sức mạnh phi thường.
Hình tượng anh hùng Hạng Vũ còn được khắc họa qua từng trận đánh. Khi vua tôi Triệu
vương bị quân Tần vây khốn ở Cự Lộc. Có hơn mười doanh quân chư hầu đến cứu Triệu, nhưng
tất cả đều bất động, riêng Hạng Vũ cùng quân Sở quyết sống mái với quân Tần, lấy một chọi
mười, trải chín cuộc huyết chiến với quân Tần, tiếng hô chém giết vang trời động đất, quân
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
tướng lũ chư hầu sợ đến bạc mặt, sau này đại phá quân Tần, cứu được Triệu vương. Quân Sở can
đảm, lại có sức mạnh, Hạng Vũ cảm thấy không cho họ có đất dụng võ là lãng phí, thật đáng
tiếc. Vì vậy, Hạng Vũ luôn giễu võ giương oai. Tuy là thống soái, nhưng Hạng Vũ thích xông
pha nơi hiểm trận. Mỗi lần chiến đấu, Hạng Vũ thường xông lên trước ba quân, tới đâu quét sạch
tới đó. Thường là, Hạng Vũ chưa động rới binh khí, chỉ cần trừng mắt nhìn, đối phương đã hồn
bay phách lạc, mắt không dám nhìn, tay chân cứng đờ, tè cả ra quần, tan rã hoàn toàn.
Hạng Vũ luôn muốn quyết đấu với chủ soái đối phương. Hạng Vũ nói với Lưu Bang:
“Mấy năm nay thiên hạ xao xuyến khốn khổ, chỉ vì hai chúng ta”. Hạng Vương muốn cùng Hán
Vương khiêu chiến, quyết một phen sống mái, không nên làm khổ nhân dân thiên hạ nữa. Đúng
là khí khái của anh hùng.
Thắng bại của chiến tranh, nói đến cùng là thắng bại của đấu tranh chính trị, ít ra cũng là
thắng bại của chiến lược chiến thuật, không can hệ gì tới cơ thể lớn bé, tới sức lực của chủ soái.
Hạng Vũ coi đánh trận như đánh nhau, coi chính trị như kịch hát, giản đơn như con trẻ. Mọi
người đều rõ, “quân cần tinh không nhiều, tướng cần mưu không cần mạnh”. Hạng Vũ không
phải không biết điều này, không thế đã chẳng phải học binh pháp, còn nói, không học cái “chỉ
đánh được một người” mà đòi học cái “đánh được cả vạn người” Tiếc rằng khi gặp việc, Hạng
Vũ không dùng tới cái “đánh cả vạn người”, mà chỉ dùng tới cái “đánh được một người”. Rõ
ràng Hạng Vũ không phải soái tài, chỉ là thất phu có sức mạnh và rất dã man, ác bá.
Cái mạnh của thất phu là cái mạnh của một người, cái mạnh của tướng soái là cái mạnh
của vạn người. Trên chiến trường không thể không có sức mạnh, “hai quân giao tranh, quân

Như lúc Phạm Tăng đưa mắt ra hiệu, Hạng Vũ vẫn không có phản ứng, cuối cùng thì Lưu Bang
như con ngan đã luộc chín lại bay mất. Phạm Tăng tức giận, chửi rủa: “trẻ con không thể cùng
bày mưu kế.”
Từ lâu Phạm Tăng đã hiểu: “Quân vương đôi lúc không đành lòng”. “Không đành lòng”
chính là “lòng nhân của đàn bà”.
Từ cách kể, miêu tả đầy dụng ý của tác giả đã bày ra trước mắt người đọc một góc khuất
trong Hạng Vũ. Thực ra Hạng Vũ bề ngoài rất cứng rắn nhưng trong lòng lại rất yếu đuối. Hạng
Vũ là người thích sĩ diện. Người thích sĩ diện thì nội tâm đều rất yếu đuối. Duy chỉ có người yếu
đuối thì mới thích sĩ diện. Hạng Vũ vì không muốn có bất kỳ một thương tổn nào, nên mới liều
mạng giữ cho được sĩ diện của mình. Luôn luôn nghĩ đến sĩ diện, nên Hạng Vũ mới tự vẫn ở Ô
Giang: “Dẫu cho các phụ lão Giang Đông có thương mà phong vương cho ta, thì ta còn mặt mũi
nào nhìn thấy họ” và đã lưu lại một câu danh ngôn về sĩ diện: “Còn mặt mũi nào nhìn phụ lão
Giang Đông”. Vì sao không còn mặt mũi nào? Ngoài những ý nghĩ khác, còn vì muốn được sự
MÔN Văn Học Trung Quốc Nhóm Ô Ô
thương xót. Đối với một người suốt đời chỉ muốn mạnh như Hạng Vũ thì thương xót là thương
hại. Vì vậy Hạng Vũ mới nguyện chết. Tự giết mình thì sĩ diện mới còn, lòng dạ được thanh
thản.
Tính cách, nội tâm Hạng Vũ luôn có mâu thuẫn và xung đột. Nói trắng ra, Hạng Vũ là
một nhà nghệ thuật hành vi bất hạnh, như một đứa trẻ bị đẩy ra chiến trường, nơi chém giết.
Hạng Vũ không nghĩ nhiều về giết người, nhưng lại không thể không giết người, không nghĩ
nhiều về đánh trận nhưng lại không thể không đánh trận. Hạng Vũ còn có cách lựa chọn nào
khác? Hạng Vũ không có cuộc sống khác, chẳng còn cách nào có thể thể hiện được giá trị sinh
tồn, hoàn thành hành vi nghệ thuật của mình chỉ còn biết thông qua việc giết người mở đầu hành
trình cuộc sống, chỉ biết thông qua chiến tranh để hoàn thành cuộc sống. Vì vậy, Hạng Vũ vừa
thích giết người, vừa thích đánh trận. Nhưng đằng sau sự dũng cảm là nhu nhược, đằng sau sự
tàn nhẫn là tình thương. Hạng Vũ giết người như ngóe, nhưng trong thâm tâm lại có chút khiếp
sợ. Hạng Vũ đánh trận nào cũng thắng, nhưng trong tận đáy lòng lại có phần cảm giác thất bại.
Chính vì nội tâm khiếp sợ, nên mới liên tục giết người. Chính vì sợ thất bại, nên mới gắng sức để
thắng lợi. Chỉ có những dòng máu tươi không ngừng chảy mới rửa sạch được nỗi nhục nhã sinh
ra từ sự yếu đuối, và cũng chỉ có thắng lợi liên tiếp thắng lợi mới an ủi được tâm trạng đau khổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status