THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 16

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH & GIẢI PHÁP TÁI
CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LỚP CH KHOÁ 20 – TCDN ĐÊM 1
GVHD: PCS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 1

THÁNG 2 NĂM 2012
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ 6
TRƯỜNG TÀI CHÍNH (TTTC) 6
1.1 Cơ sở hình thành TTTC 6
1.2 Khái niệm TTTC: 7
1.3 Chức năng, vai trò TTTC: 8
1.3.1 Chức năng TTTC 8
1.3.2 Vai trò của TTTC 9
1. 4 Cơ cấu TTTC: 9
1.4.1 Thị trường /ền tệ: 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………………… 74
4
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi gia nhập WTO đến nay, Kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khó
khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Thị trường tài chính của Việt Nam
còn chưa hoàn thiện, vì vậy khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra đã gây ra nhiều tác
động xấu như tỷ giá tăng làm ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, lãi xuất tăng cao làm giảm
khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế gây khó khăn cho các doanh nghiệp,… điều đó về
lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định vĩ mô nền kinh tế.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH & GIẢI PHÁP TÁI
CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY sẽ giúp
chúng ta nhìn thấy được tổng quan thị trường tài chính, thấy được những ưu và khuyết
điểm để đưa ra được những giải pháp tái cấu trúc phù hợp, mô hình thị trường tài chính
mới phải linh hoạt để thích ứng với những biến động bất thường của kinh tế thế giới.
Cấu trúc bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường tài chính.
Chương 2: Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp tái cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam hiện nay.
Bài nghiên cứu vẫn có nhiều điểm chưa hoàn thiện rất mong sự góp ý của Giáo
viên hướng dẫn và các bạn đọc để bài hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn
Nhóm 1 TCDN1 K20
5
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ
TRƯỜNG TÀI CHÍNH (TTTC)
1.1 Cơ sở hình thành TTTC
TTTC là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện và tồn tại của
thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mẫu thuận giữa nhu
cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong nền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế luôn
tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về

động của TTTC;
 Cần có đội ngũ các nhà kinh doanh, các nhà quản lý am hiểu TTTC và phải có
đông đảo các nhà đầu tư có kiến thức, dám mạo hiểm trước những rủi ro có thể
xảy ra.
1.2 Khái niệm TTTC:
TTTC là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài
chính thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định. TTTC là
tổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế.
Để tạo lập và phát triển TTTC, cần kết hợp nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố
chính là:
• Đối tượng của TTTC: các nguồn cung cầu về vốn
7
• Các công cụ của TTTC: phải đa dạng, tạo ra các phương tiện thuận tiện để
chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính;
• Các chủ thể tham gia trên TTTC: pháp nhân hay thể nhân đại diện các
nguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi tham gia TTTC, chủ yếu là các NHTM,
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và các công ty môi giới
1.3 Chức năng, vai trò TTTC:
1.3.1 Chức năng TTTC
 Chức năng dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có khả năng cung ứng nguồn
tài chính đến những chủ thể cần nguồn tài chính:
a. TTTC đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh
doanh. Giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lợi
đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi.
b. TTTC thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh.
c. TTTC giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người
có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có
lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn
vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay

 Thị trường tín dụng trung, dài hạn: vốn được chuyển giao qua các trung
gian tài chính.
9
 Thị trường chứng khoán: diễn ra hoạt động trao đổi mua bán các chứng
khoán có thời hạn trên 1 năm thể hiện dưới hình thức trái phiếu, cổ phiếu và
các công cụ chứng khoán phái sinh.
Hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Các biến đổi (về giá cả, lãi
suất) trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn.
Ngược lại các thay đổi (về các chỉ số chứng khoán, thị giá cổ phiếu) của thị trường vốn
cũng phản ánh các hiện tượng tốt hay xấu trên thị trường tiền tệ. Các chính sách của nhà
nước như chính sách lãi suất, chính sách tiền tệ… nếu phù hợp sẽ tạo thuận lợi cho sự
hoạt động và phát triển của thị trường tiền tệ, nếu không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến sự
hoạt động của thị trường này.
1.5 Công cụ của TTTC
Để chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính, các công cụ chủ yếu được sử
dụng trên TTTC là các loại chứng khoán. Chứng khoán là chứng từ dưới dạng giấy tờ
hoặc ghi trên hệ thống thiết bị điện tử xác nhận các quyền hợp pháp của người sở hữu
chứng từ đó đối với người phát hành; hoặc chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng từ đó đối với người
phát hành.
Chứng khoán có nhiều loại khác nhau; có thể phân loại chứng khoán dựa theo các tiêu
thức khác nhau:
• Căn cứ vào kỳ hạn huy động: Chứng khoán ngắn hạn (dưới 1 năm) và Chứng
khoán trung và dài hạn (Trung hạn từ 1-5 năm, dài hạn là trên 5 năm)
• Căn cứ vào chủ thể phát hành: Chứng khoán chính phủ trung ương và địa phương;
Chứng khoán của các ngân hàng và tổ chức tín dụng và Chứng khoán doanh
nghiệp.
• Căn cứ vào lợi tức: Chứng khoán có lợi tức ổn định và Chứng khoán có lợi tức
không ổn định.
10

ngắn.
12
Mặt bằng lãi suất quá cao, có phần chưa được hợp lý: Từ những ngày đầu tháng
5/2011 đến nay, tình hình thị trường tiền tệ diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Mặc dù
NHNN ấn định mức lãi suất trần huy động là 14%, nhưng áp lực huy động vốn để giải
quyết vấn để thanh khoản và cho vay buộc các ngân hàng thương mại (NHTM) chạy đua,
đẩy mức lãi suất vượt quá mức trần qui định; trần lãi suất tiền gửi liên tiếp và phổ biến bị
xé rào, lãi suất huy động thực tế leo thang từ 16%, đến 17%, 19%/năm… Như vậy lãi
suất NHTM cho vay ra có thể đạt 18%, 20%/năm, thậm chí cá biệt là 25% cũng là điều
dễ hiểu. Điều này dẫn đến huy động vốn của NHTM khó khăn, thanh khoản trong hệ
thống ngân hàng thường căng thẳng, nhưng tốc độ tăng dư nợ của các NHTM vẫn cao.
Dư nợ tín dụng ngoại tệ tăng trưởng nhanh, gây áp lực lớn lên tỷ giá USD/
VND: Đến ngày 20/6/2011, tín dụng tăng 7,13% (trong đó tín dụng VND tăng 2,76%, tín
dụng bằng ngoại tệ tăng 23,47% ). Mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng Việt Nam và
ngoại tệ hiện nay là quá lớn đã tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp và ngay cả ngân
hàng thương mại tăng trưởng tín dụng ngoại tệ. Trong khi đó tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ
có xu hướng giảm vì người gửi tiền rút tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ, bán và gửi tiết kiệm lại
bằng đồng Việt Nam. Xu hướng này tạo nên rủi ro thanh khoản ngoại tệ cho hệ thống
ngân hàng và gây áp lực rất lớn tới tỷ giá.
Bên cạnh đó còn có các vấn đề như: thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao; hiệu quả
của đầu tư công thấp; nhập siêu vẫn ở mức cao; tăng trưởng có xu hướng chậm lại…
Những vấn đề vĩ mô này tác động đến thị trường tiền tệ ở nước ta rất lớn. Chúng ta hãy
đi phân tích chi tiết thực trạng thị trường tiền tệ ở Việt Nam như sau:
2.1.2 Thị trường liên ngân hàng:
Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời theo Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho phép các TCTD được thực hiện cho
vay và đi vay lẫn nhau và chính thức hoạt động từ tháng 07/1993. Theo quyết định số
114/QĐ-NH14 ngày 21/06/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động thị trường liên
ngân hàng và Quyết định số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung, sửa đổi
13

tệ, thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế:
+ “Đến nay, tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM chủ yếu được thực hiện
dưới các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố
giấy tờ có giá. Các hình thức cho vay theo chỉ định của Chính phủ trước đây
(từng chiếm tỷ trọng lớn trong cho vay tái cấp vốn) đã giảm mạnh qua các năm”
(Phúc Khắc Kế, 2006)
+ Cơ sở pháp lý cho các họat động nghiệp vụ tái cấp vốn hoàn thiện; thủ tục,
quy trình nghiệp vụ tái cấp vốn được cải thiện theo hướng tinh giản và thuận lợi.
Năm 2003, Luật sửa đổi một số điều của luật NHNN đã cho phép giấy tờ có giá
dài hạn như các loại trái phiếu của Chính phủ được sử dụng trong các giao dịch
giữa NHNN và các ngân hàng; NHNN ban hành đầy đủ các quy chế nghiệp vụ tái
cấp vốn. Thời gian xử lý đề nghị xin vay giảm xuống còn 2 ngày (trước đây 5
ngày).
+ Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu ngày càng được điều hành linh hoạt,
phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 2003 đến nay,
lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu được điều chỉnh dần để hình thành khung
lãi suất định hướng lãi suất thị trường. Cùng với việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu
để trở thành lãi suất sàn, NHNN đã thực hiện phân bổ hạn mức chiết khấu cho
từng ngân hàng. Qua đó, nghiệp vụ chiết khấu được điều chỉnh như một kênh
thường xuyên với giá rẻ từ NHNN. Trong khi đó nghiệp vụ cho vay có bảo đảm
bằng cầm cố giấy tờ có giá áp dụng lãi suất tái cấp vốn là mức lãi suất trần để
NHNN từng bước thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị trường.
H1: Biểu đồ so sánh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu qua các năm
15
Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước
− Như vậy, sự khác biệt giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là các tài
sản dùng để thế chấp cho việc vay mượn tiền khác nhau. Lãi suất chiết khấu áp
dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu,
chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. Còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng cho các
loại tài sản thế chấp có độ rủi ro cao hơn. Đây cũng là lí do giải thích cho việc lãi

nhỏ, mạng lưới hẹp, quản trị chưa tốt lại đi vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân
hàng để kinh doanh. Đó là một thực tế đáng lo ngại đã và đang tồn tại lâu nay.
Điều nguy hiểm ở chỗ, do “bốc ngắn cắn dài” nên khi bên cho vay đòi nợ họ lâm
vào thiếu thanh khoản và NHNN phải căn sức ra “chữa cháy” nhất là tết Nguyên
Đán hàng năm. Không ít trường hợp NHNN phải “bơm” thẳng vài ba nghìn tỷ đến
một vài ngân hàng để ứng cứu .
17
+ Điều này thể hiện rõ ở việc, ngày 06-12-2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Nguyễn Văn Bình cho biết NHNN đã nhất trí để Ngân hàng Đệ Nhất, Ngân hàng
Tín Nghĩa và Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn hợp nhất thành
ngân hàng mới. Về lý do đồng ý để 3 ngân hàng trên hợp nhất, Thống đốc Nguyễn
Văn Bình cho biết thời gian qua cả 3 ngân hàng đã mất khả năng thanh khoản tạm
thời. Nguyên nhân chính của tình trạng trên, theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình, 3
ngân hàng này đã vay ngắn hạn để cho vay trung và dài. “Khi thị trường biến động,
nguồn vốn khó khăn thì ngân hàng mất khả năng thanh khoản tạm thời”. Sự sáp
nhập này cho phép 3 ngân hàng hỗ trợ, bổ trợ cho nhau, tiết giảm chi chí khi sáp
nhập 3 bộ máy thành 1 bộ máy; nâng cao năng lực quản trị, lựa chọn được cán bộ
tốt nhất. Việc sáp nhập cũng giúp ngân hàng hợp nhất có tiềm lực lớn hơn, tiếp cận
thị trường rộng lớn hơn.
− Vai trò của NHNN trong việc thu thập thông tin diễn biến thị trường liên ngân
hàng và tham gia điều tiết thị trường khá mờ nhạt, đặc biệt là cơ chế xử lý trong
trường hợp cung lớn hơn cầu vốn trên thị trường.
+ Ngày nay, mặc dù một vài đại gia “tưới vốn” cho các ngân hàng con của mình
rồi thổi giá trên thị trường liên ngân hàng bị “phanh” lại. Nhưng điều này chưa
đồng nghĩa với việc NHNN đã hoàn toàn kiểm soát được lỗ hổng, cũng như tình
trạng “lách luật” mà trước tiên là “cuộc chơi” lãi suất đang trong tay các ngân hàng
nhỏ. Để có thể vay được trên thị trường liên ngân hàng không ít các ngân hàng nhỏ
sẵn sàng bằng mọi cách để mở rộng quy mô vốn trên thị trường dân cư và tổ chức
khác. Thậm chí lãnh đạo một ban ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV) phản ánh rằng, có ngân hàng cổ phần cho một dàn nhân viên ăn mặc đồng

thầu trái phiếu giảm dần, thậm chí, có phiên không có thành viên nào tham gia . Mặc dù
kho bạc NN và NHNN đã có nhiều cố gắng, lãi suất chào ở mức cao nhưng dường như
19
thị trường vẫn quá “yên ắng” lượng tiền thu về qua kênh này vẫn quá khiêm tốn so với
lượng tiền thu được từ các kênh huy động vốn khác .
Nếu chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, sở giao dịch NN kết hợp với kho bạc
NN ( KBNN ) đã tổ chức được 21 phiên, kỳ hạn phát hành là 364 ngày nhưng số tiền
huy động chỉ là 2.150 tỷ đồng. Đây là một kết quả rất thấp so với các năm trước đây. Cụ
thể, năm 2010 huy động được 8.350 tỷ đồng, năm 2009 là 10.714 tỷ đồng và năm 2008 là
20.730 tỷ đồng.
Trong tổng số hơn hai chục phiên đấu thầu vừa qua thì có đến 16/21 phiên không
có khối lượng trúng thầu. Điều đáng nói nữa là, ngoài việc khối lượng trúng thầu khá
khiêm tốn thì số lượng thành viên tham gia cũng rất ít, trung bình chỉ có từ 1 đến 2 thành
viên tham gia/phiên và thường tập trung vào một vài thành viên. Cá biệt có những phiên
không có thành viên tham gia dự thầu . chi tiết như sau
Bảng 1: kết quả đấu thầu tín phiếu 6 tháng đầu năm 2011
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời gian Số thành
viên dự
thầu
Số thành
viên trúng
thầu
Khối
lượng dự
kiến
Khối
lượng
trúng thầu
Tỷ lệ trúng

13.92
11.0 Phiên
12/2011
13.0-14.0 -
Phiên 2/2011 10.70-12.0 10.95 Phiên
13/2011
12.0-20.0 12.0
Phiên 3/2011 10.84-12.0 - Phiên
14/2011
14.0-16.0 -
Phiên 4/2011 10.6-12.0 10.7 Phiên
15/2011
14.0-15.5 -
Phiên 5/2011 11.20-12.5 - Phiên
16/2011
13.5-13.6 -
Phiên 6/2011 11.06-
12.10
- Phiên
17/2011
13.0-15.40 -
Phiên7/2011 11.80-14.0 - Phiên
18/2011
13.20-
13.20
-
Phiên 8/2011 - Phiên
19/2011
13.50 -
Phiên 9/2011 - Phiên

22
toán, chưa áp dụng cho các đối tượng là công ty chứng khoán , các quỹ đầu tư. Do vậy,
phần nào đã hạn chế sự tham gia của các thành viên đấu thầu có nhu cầu không phải là
các TCTD.
− Số lượng nhà đầu tư đã được công nhận là thành viên được công nhận là thành
viên tham gia đấu thầu tín phiếu đông nhưng trên thực tế số thành viên tham gia
mỗi phiên là rất ít , đặc biệt là NH TMCP và chi nhành NH nước ngoài. Cá biệt có
những thành viên có tên trong danh sách nhưng chưa từng tham gia đấu thầu.
Nguyên nhân chủ yếu là khối các NH này chưa quan tâm đến thị trường này do
đầu tư vào TPCP có kỳ hạn 3-5 năm có mức lãi suất cao hơn và thời gian đầu tư
phù hợp hơn. Điều dẫn đến lượng vốn khả dụng dư thừa đầu tư vào tín phiếu còn
hạn chế.
− Việc đầu tư vào tín phiếu của các thành viên nhằm mục đích dự phòng an toàn về
khả năng thanh toán vào các giai đoạn cao điểm qua giao dịch nghiệp vụ thị trường
mở với NHNN. Việc mua/bán các giấy tờ có giá giữa các TCTD trên thị trường
liên ngân hàng chưa được thực hiện phần vì do cơ sở hạ tầng ( công nghệ, pháp
lỳ ) của thị trường thứ cấp chưa phát triển , phần vì do chưa có ướng dẫn chi tiết.
− Quy trình phát hành tín phiếu thời gian qua cũng bộc lộ bất cập, chưa khoa học và
có thiếu lịch biểu cụ thể để nhà đầu tư có kế hoạch chủ động tham gia khi có nhu
cầu. Mặt khác, thời gian qua, chưa tổ chức hình thức đấu thầu cạnh tranh và không
cạnh tranh lãi suất trong một phiên đấu thầu mặc dù đã cò quy định về vấn đề này
(Quy chế số 935/2004QĐ-NHNN ngày 23/07/2004 của NHNN về đấu thầu tín
phiếu kho bạc , trái phiếu ngoại tệ qua NHNN )
− Công tác lưu ký và chuyển nhượng tín phiếu cũng là một vấn đề cần tháo gỡ .
Hiện nay tín phiếu phát hành qua NHNN chỉ thực hiện tại sở giao dịch NHNN mà
chưa được lư ký và chuyển nhượng nên trái chủ chỉ có thể tham gia các giao dịch
trên thị trường tiền tệ với NHNN ( OMO, tái cấp vốn, thấu chi và cho vay qua đêm
…). Nói cách khác do hạn chế trong việc lưu ký nên việc chuyển nhượng giữa các
23
nhà đầu tư tín phiếu tại Việt Nam vẫn chưa được thực hiện như thông lệ tại các

công cụ khác của CSTT như chính sách tái cấp vốn, dự trữ bắc buộc. Do vậy, trong các
thời điểm cụ thể, thị trường mở được điều hành linh hoạt, góp phần tạo sự phối hợp chặc
chẽ với các công cụ CSTT khác nhằm đạt mục tiêu CSTT.
25

Trích đoạn Thực trạng thị trường vốn Việt Nam: Hình thành và phát triển các nhà tạo lập thị trường Một số giải pháp tái cấu trúc và phát triển thị trường vốn: Thị trường chứng khoán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status