tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ - bài 8 - Pdf 16



Tài liệu giảng dạy về Sở hữu trí tuệ -
Bài 8
CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY

Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London
Provided and translated by
the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II)
quy
ền sở hữu trí tuệ như là một điều kiện để trở thành thành viên của WTO.
Vì vậy, luật quốc tế có vai trò hiến định quan trọng cả ở khía cạnh quy định các thủ
tục và thể thức cho việc đàm phán về các tiêu chuẩn và chuẩn mực của quyền sở hữu trí
tuệ mang tính quốc gia và việc hài hoà hoá các tiêu chuẩn pháp luật quốc gia và khu vực
về sở hữu trí tuệ. Việ
c thừa nhận và áp dụng các chuẩn mực chung về sở hữu trí tuệ sẽ
được tạo điều kiện thuận lợi hơn khi các nước có thể tin tưởng rằng các nước đối tác cũng
có các chuẩn mực pháp lý tương tự.
1.2 Nguồn pháp lý của luật sở hữu trí tuệ quốc tế
Nguồn pháp lý của luật quốc tế áp dụng cho các chế định sở hữu trí tuệ qu
ốc tế
cũng như tất cả các lĩnh vực luật quốc tế khác được quy định một cách rõ ràng tại Điều 38
Quy chế Toà án quốc tế. Điều này quy định rằng trong quá trình giải quyết các tranh chấp,
Toà án phải áp dụng:
a. các điều ước quốc tế, bất kết là chung hay riêng, thiết lập các quy tắc được
thừa nhận một cách rõ ràng bởi các nước thành viên;
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
3
b. tập quán quốc tế, với danh nghĩa là thực tiễn chung được chấp nhận như là
pháp luật;
c. các nguyên tắc chung của pháp luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;
d. tuỳ thuộc vào các quy định của Điều 59 (trong đó cho phép toà án triệu tập
nhân chứng và chuyên gia), các phán quyết của toà án và các bài giảng của
các chuyên gia nghiên cứu có uy tín nhất của các nước, với danh nghĩa là
công cụ bổ sung để xác đị
nh các quy tắc pháp luật.
Là một phần Quy chế của Toà án thường trực quốc tế của Liên hiệp các quốc gia
(Permanent Court of International Justice of the League of Nations), điều khoản này đã
được đưa vào Quy chế của Toà án quốc tế năm 1945. Điều khoản này liệt kê một danh

4
Không giống như những lĩnh vực luật khác, luật sở hữu trí tuệ buộc phải phát triển
khá nhanh do sự thay đổi của công nghệ. Do đó, sự tiến triển theo từng bước của luật sở
hữu trí tuệ quốc tế thông qua việc áp dụng các nguyên tắc tập quán không xảy ra trong
lĩnh vực này. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp sự thay đổi về luật pháp là quá chậm,
không theo kịp sự phát triển c
ủa công nghệ thì việc thiết lập các tiêu chuẩn riêng trở nên
ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Điều này là đặc biệt đúng trong trường hợp ảnh hưởng
của internet đến luật sở hữu trí tuệ, khi mà quy định về đăng ký tên miền được dựa trên cơ
sở tự điều chỉnh.
Một vấn đề chưa được nghiên cứu là phạm vi áp dụng các tập quán pháp đối với
việc b
ảo hộ tài sản thực và các động sản hữu hình cho tài sản vô hình. Ngoài ra, cần phải
nghiên cứu việc áp dụng các nguyên tắc của tập quán pháp quốc tế như nguyên tắc thực
hiện nghiêm chỉnh và tận tâm các cam kết quốc tế (nguyên tắc pacta sunt servanda
1
) và
sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các quốc gia.
1.2.3 Tiền lệ pháp
Tiền lệ pháp đã được chứng minh không phải là một nguồn quan trọng của luật sở
hữu trí tuệ quốc tế. Chưa từng có vụ việc nào về sở hữu trí tuệ được đưa ra trước Toà án
quốc tế hoặc là cơ quan tiền thân của Toà án này (the Permanent Court of International
Justice). Tình trạng này đã bắt đầu thay đổi vớ
i việc xét xử các hành vi vi phạm Hiệp định
TRIPS bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, trên cơ sở các đề xuất của một ban
bồi thẩm (panel) hoặc Cơ quan giải quyết khiếu nại (Appellate Body). Mặc dù các lập
luận của ban bồi thẩm hoặc cơ quan giải quyết khiếu nại không có giá trị ràng buộc nhưng
các ban bồi thẩm và cơ quan giải quyết khiếu nại về sau v
ẫn buộc phải xem xét những lập
luận đó. Đã từng có ý kiến cho rằng cần thúc đẩy các quy tắc pháp lý trong hệ thống kinh

tự, yêu cầu được quy định tại Điều 41.3 rằng các quyết định “về vụ việc phải được làm
thành văn bản và có căn cứ” và rằng các quyết định này “phải được chuyển ít nhất là cho
các bên tham gia vụ kiện một cách không chậm trễ” là các nguyên tắc v
ề thủ tục mà
người ta cho rằng đã được chấp nhận chung. Thủ tục đúng đắn được quy định trong yêu
cầu của Hiệp định TRIPS tại Điều 41.3 rằng “các quyết định phán xử vụ việc chỉ được
dựa vào chứng cứ mà các bên đều đã được tạo cơ hội trình bày ý kiến về chứng cứ đó”.
Điều 42 Hiệp định TRIPS yêu cầu r
ằng các thủ tục phải đúng đắn và công bằng
trong đó bị đơn phải có quyền được “thông báo bằng văn bản một cách kịp thời và chi
tiết, trong đó nêu cả căn cứ của các yêu cầu đó”. Điều này yêu cầu rằng các bên “phải có
quyền biện minh cho yêu cầu của mình và có quyền đưa ra mọi chứng cứ thích hợp” cũng
gần như đã trở thành một nguyên tắ
c pháp luật chung, tương tự như yêu cầu các thủ tục
không được đòi hỏi “quá mức việc đương sự buộc phải có mặt tại toà”.
Về cơ bản, các nguyên tắc chung về sự trung thực và công bằng gần như tạo thành
một phần của luật sở hữu trí tuệ quốc tế về nội dung. Học thuyết về tính cân xứng với ý
nghĩa rằng luật pháp không
được đặt ra các nghĩa vụ vượt quá những gì được coi là cần
thiết để giải quyết các tình huống từ đó tạo thành một nguyên tắc pháp luật chung chi phối
hoạt động của Toà án châu Âu.
1.3 Các tổ chức quốc tế
Việc quản lý các khía cạnh của định chế sở hữu trí tuệ quốc tế được thực hiện bởi
một số tổ chức quốc tế và t
ổ chức liên chính phủ được thành lập theo các điều ước quốc
tế. Các tổ chức chính về sở hữu trí tuệ ở cấp quốc tế và liên chính phủ là Tổ chức Sở hữu
trí tuệ thế giới (WIPO) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Một số khía cạnh đặc biệt của luật sở hữu trí tuệ quốc tế được giao cho một số t

chức quốc tế chịu trách nhiệm: bản quyền và văn hoá dân gian: Tổ chức Văn hoá, Khoa

trình phát triển Liên hợp quốc đã cho rằng các khía cạnh của Hiệp định TRIPS có thể
không phù hợp với Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và Công ước
quốc tế về quyền dân sự và chính trị
3
.
Ngày 17 tháng 8 năm 2000, Tiểu ban bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Liên
hợp quốc, trên cơ sở nhận thức rằng:
…có sự xung đột thực tế và tiềm tàng giữa việc thi hành Hiệp định TRIPS và việc
thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá liên quan đến, ngoài những vấn
đề khác, những trở ngại cho hoạt động chuyển giao công nghệ cho các nước đang
phát triển, hệ qu
ả của việc có được quyền hưởng thực phẩm, quyền đối với giống
cây trồng mới và việc cấp độc quyền cho các cơ thể sinh vật bị biến đổi gen, “sinh
tặc” (bio-piracy) và sự suy giảm việc kiểm soát của cộng đồng (đặc biệt là các
cộng đồng bản địa) đối với các nguồn tài nguyên di truyền và tài nguyên thiên
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
7
nhiên và các giá trị văn hoá của họ, và những hạn chế tiếp cận các loại dược phẩm
được bảo hộ độc quyền và quyền được chăm sóc sức khoẻ,
đã thông qua một nghị quyết kêu gọi giải quyết vấn đề ảnh hưởng của Hiệp định TRIPS
đến vấn đề quyền con người và quyền của các cộng đồng, trong đó có nông dân và những
nhóm người bản
địa trên toàn thế giới. Nghị quyết này lưu ý rằng “những xung đột rõ
ràng” giữa các quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định TRIPS và luật nhân
quyền quốc tế, đặc biệt là “việc thi hành Hiệp định TRIPS không phản ánh một cách đầy
đủ bản chất cơ bản và tính không thể phân chia của tất cả các quyền con người, bao gồm
quyền của tất cả mọi người được h
ưởng lợi từ sự tiến bộ khoa học và việc ứng dụng các
tiến bộ này, quyền được bảo vệ sức khoẻ, quyền đối với thực phẩm và quyền tự quyết
(Điều 2). Nghị quyết này lưu ý rằng “tất cả các Chính phủ phải ưu tiên thực hiện các

của các điều khoản của điều ước trong ngữ cảnh của chúng và phù hợp với các mục tiêu
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
8
của điều ước”. Từ “ngữ cảnh” nhằm mục đích giải thích một điều ước, được định nghĩa
tại Điều 31(2) bổ sung cho văn bản, bao gồm cả lời nói đầu và các phụ lục, bao gồm:
(a) thoả thuận bất kỳ liên quan đến điều ước được lập giữa tất cả các bên liên quan đến
việc ký kết đ
iều ước;
(b) văn kiện bất kỳ được một bên hoặc các bên làm ra liên quan đến việc ký kết điều
ước và được chấp nhận bởi các bên khác như là một văn kiện liên quan đến điều
ước.
Đồng thời phải xem xét, phù hợp với Điều 31(3), cùng với ngữ cảnh,
(a) thoả thuận tiếp theo bất kỳ giữa các bên về việc giải thích đi
ều ước hoặc việc áp
dụng các điều khoản của điều ước;
(b) thực tiễn bất kỳ nảy sinh về sau trong việc áp dụng điều ước tạo thành thoả thuận
của các bên về việc giải thích điều ước;
(c) quy tắc phù hợp bất kỳ của luật quốc tế áp dụng cho các quan hệ giữa các bên;
Điều 31(4) cho phép các bên tham gia mộ
t điều ước đưa ra nghĩa cụ thể cho một thuật
ngữ hay điều khoản.
Theo Điều 32, có thể cần đến các công cụ bổ sung cho việc giải thích, bao gồm quá
trình chuẩn bị điều ước và bối cảnh ký kết điều ước, để khẳng định nghĩa nảy sinh trong
quá trình áp dụng Điều 31 hoặc để xác định nghĩa khi việc giải thích theo
Điều này lại tạo
ra lưỡng nghĩa hoặc sự không rõ nghĩa hoặc dẫn tới kết quả vô lý hoặc rõ ràng là bất hợp
lý.
Những nguyên tắc giải thích điều ước này trong bối cảnh sở hữu trí tuệ đã được sử
dụng trong một số quyết định của Ban bồi thẩm và Cơ quan giải quyết khiếu nại liên quan
đến các tranh chấp nảy sinh từ Hiệ

được giải thích phù hợ
p với (i) nghĩa thông thường của các thuật ngữ này; (ii) ngữ cảnh;
và (iii) mục tiêu và mục đích của quy định này, theo các quy tắc được quy định tại Điều
31(1) của Công ước Viên”.
7

Ban bồi thẩm cho rằng nghĩa thông thường của Điều 70.8(a) là dự tính thiết lập
một cơ chế cho phép nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế có liên quan và xác
định việc nộp đơn và ngày ưu tiên “để có thể bảo đảm tính mới của sáng chế có liên quan
và ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền cho sáng chế đó nhằm mục đích xác
định khả
năng cấp bằng độc quyền sáng chế cho sáng chế đó tại thời điểm có quy định về
việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho sản phẩm đối với các sáng chế này.”
8
Ban bồi thẩm
cho rằng kết luận này đã được khẳng định bởi lịch sử đàm phán Hiệp định TRIPS, “theo
đó việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho dược phẩm và các sản phẩm hoá chất nông
nghiệp là một vấn đề then chốt”.
9
Ngoài ra, Ban bồi thẩm lưu ý rằng các nước cũng phải
dành độc quyền tiếp thị cho các sản phẩm nêu trên, nếu các sản phẩm này được phép tiếp
thị trong giai đoạn chuyển tiếp.
Cuối cùng, áp dụng luật học GATT liên quan đến các dự định pháp lý
10
, Ban bồi
thẩm thấy rằng “tính có thể dự đoán trong chế định sở hữu trí tuệ thực sự là cần thiết đối
với công dân của các Thành viên WTO khi họ đưa ra các quyết định về thương mại và
đầu tư trong quá trình kinh doanh của mình”.
11


định WTO”.
16

Hội đồng giải quyết khiếu nại đã xem xét vấn đề thế nào là cơ chế được dự định tại
Điều 70.8(a) dành cho việc nộp đơn vào hộp thư. Áp dụng các quy tắc giải thích từ Công
ước Viên, Hội đồng tìm cách giải đáp câu hỏi này bằng cách xem xét cách hành văn của
quy định này và “phù hợp với mục tiêu và mục đích của Hiệp định TRIPS”.
17
Vì mục tiêu
của Hiệp định TRIPS bao gồm “sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu
quả và toàn diện quyền sở hữu trí tuệ”, Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đồng ý với Ban
bồi thẩm rằng cơ chế được thiết lập theo Điều 70.8(a) phải tạo ra một cơ sở pháp lý vững
chắc để b
ảo đảm tính mới và quyền ưu tiên.
18
Hội đồng đã kết luận rằng vì các hướng dẫn
hành chính là cơ sở của hệ thống hộp thư của Ấn Độ bị phủ nhận bởi các quy định mang
tính bắt buộc của Luật sáng chế Ấn Độ, Ấn Độ đã không tuân thủ Điều 70.8(a). Tương tự,
vì Ấn Độ không ban hành quy định về độc quyền tiếp thị theo như yêu cầu tạ
i Điều 70.9,
Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đồng ý rằng Ấn Độ cũng vi phạm quy định này.
(b) Tranh chấp về thời hạn bảo hộ sáng chế giữa Hoa Kỳ và Canada (2000)
Vấn đề tranh chấp trong vụ việc này là Điều 45 Luật sáng chế Canada quy định
thời hạn bảo hộ sáng chế là 17 năm đối với những bằng độc quyền sáng ch
ế cấp trước
ngày 1.10.1989. Hoa Kỳ phản đối quy định này vì cho rằng điều đó trái với quy định về
thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm theo như yêu cầu của Điều 33 Hiệp định TRIPS. Ban
bồi thẩm giải quyết vụ việc này đã đồng ý với phản đối của Hoa Kỳ.
19
Canada đã phản

ngày áp dụng Hiệp định TRIPS thì Điều 70.1 sẽ cản trở việc áp dụng gần như toàn bộ
Hiệp định TRIPS đối với những hành vi như vậy.
21

Điều 28 Công ước Viên quy định rằng
Trừ khi có ý định khác được thể hiện trong điều ước hoặc được thiết lập theo cách
khác, các quy định của điều ước không có giá trị ràng buộc một bên liên quan đến hành vi
hoặc sự kiện bất kỳ đã xảy ra hoặc tình huống bất kỳ không còn tồn tại trước ngày điều
ước có hiệu lực đối với nước đ
ó.
Hội đồng giải quyết khiếu nại quan niệm rằng nếu không có ý định trái ngược thì
Điều 28 được áp dụng cho “tình huống” bất kỳ không còn tồn tại theo một điều ước
mới.
22
Để giải thích điều này, cần đến sự hỗ trợ từ phần dẫn giải về Điều 28, là một phần
của quá trình soạn thảo Công ước Viên.
23

(c) Tranh chấp giữa EC và Hoa Kỳ về Điều 110(5) Luật bản quyền Hoa Kỳ
Tranh chấp này liên quan đến Điều 110(5) Luật Bản quyền Hoa Kỳ năm 1976,
được sửa đổi theo Luật về sự công bằng trong việc li-xăng tác phẩm âm nhạc năm 1998
thay thế những hạn chế đối với độc quyền được quy định cho chủ sở hữu bản quyền liên
quan đến một s
ố hình thức trình diễn và biểu diễn công khai. Điều 110(5) (A) loại trừ ra
khỏi khái niệm xâm phạm bản quyền hành vi truyền phát sóng mang một chương trình
biểu diễn hoặc trình diễn một tác phẩm của một cơ sở thu sóng công khai trên một loại
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
12
thiết bị thu riêng lẻ thường được sử dụng ở các nơi công cộng, trừ trường hợp đã thanh
toán trực tiếp để xem hoặc nghe sóng đó, hoặc sóng đó được truyền tiếp cho công chúng.

quyền”. Hoa Kỳ nại rằng “học thuyết về những ngoại lệ nhỏ” đã tạo thành một thực tiễn
tiếp theo sau cho các Thành viên Liên hiệp Berne theo ngh
ĩa của Điều 31(3)(b) Công ước
Viên.
Hội đồng giải quyết tranh chấp đã giải thích rằng khi áp dụng các nguyên tắc giải
thích chung và nguyên tắc giải thích bổ sung trong Công ước Viên để giải thích một cách
thiện chí các điều khoản theo phạm vi liên quan của các điều khoản này, cần phải đưa ra
nghĩa thông thường cho các điều khoản của một điều ước “trong ngữ cảnh của các
điều
khoản này và phù hợp với mục tiêu và mục đích của điều ước đó”.
25

Điều 3.2 Công ước Viên quy định rằng,
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
13
Ngữ cảnh để giải thích một điều ước phải bao gồm, ngoài văn bản điều ước trong
đó có phần mở đầu và các phụ lục: (a) thoả thuận bất kỳ liên quan đến điều ước đó được
lập giữa tất cả các bên liên quan đến việc ký kết điều ước đó
Hội nghị sửa đổi Công ước Berne tại Brussels năm 1948
đã bác bỏ việc đưa vào
Công ước Berne học thuyết về các ngoại lệ thứ yếu vì điều đó khuyến khích việc mở
rộng các ngoại lệ. Như một sự thoả hiệp, Hội nghị Brussels đã nhất trí rằng cần đưa vào
Báo cáo chung tuyên bố về khả năng quy định các ngoại lệ thứ yếu trong luật quốc gia.
Hội đồng đã lưu ý rằ
ng Tổng thư ký đã được “uỷ thác đưa ra một chỉ dẫn rõ ràng về khả
năng dành cho pháp luật quốc gia được quy định những trường hợp thường được gọi là
những bảo lưu thứ yếu và cho rằng sự lựa chọn lời văn này đã phản ánh một sự thoả thuận
theo nghĩa của Điều 31(2)(a) Công ước Viên.
26
Ngoài ra, thực tiễn của các quốc gia như

(d) Tranh chấp giữa EC và Hoa Kỳ về điều 211 Đạo luật Omnibus
Appropriations năm 1998 (2002)
Tranh chấp này liên quan đến một khiếu nại của EC rằng điều 211 Đạo luật
Omnibus Appropriations năm 1998 của Hoa Kỳ trái với một s
ố quy định của Hiệp định
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
14
TRIPS, cùng với các điều tương ứng của Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp.
Điều 211(a)(1) Đạo luật này của Hoa Kỳ nhằm cấm các giao dịch “liên quan đến nhãn
hiệu, tên thương mại hoặc tên kinh doanh” trùng hoặc hầu như tương tự với một nhãn
hiệu, tên thương mại hoặc tên kinh doanh được sử dụng gắn liền với một doanh nghiệp
hoặc tài sản đ
ã bị Chính phủ Cuba tịch thu, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủ sở hữu
ban đầu, hoặc người kế thừa nhãn hiệu, tên thương mại hoặc tên kinh doanh đó.” Điều
211(a)(2) quy định rằng toà án bất kỳ của Hoa Kỳ cũng không được phép “công nhận, thi
hành hoặc phê chuẩn theo cách khác yêu cầu đòi quyền bất kỳ” của một “công dân được
chỉ định” trên cơ sở quyền theo lu
ật chung (luật án lệ) hoặc theo Điều 515305 Phần 31,
Bộ Quy chế Hoa Kỳ, theo đó Quy chế về Kiểm soát các tài sản của Cuba đã được ban
hành.
EC đã lập luận rằng điều 211(a) (1) trái với Điều 2.1 Hiệp định TRIPS cùng với
Điều 6quinquies Công ước Pari và Điều 15.1 Hiệp định TRIPS. Lập luận này đã bị Hội
đồng giải quyết tranh chấp của WTO bác bỏ. Tuy nhiên, H
ội đồng giải quyết tranh chấp
đã chấp nhận lập luận của EC rằng điều 211(a)(2) không phù hợp với Điều 16.1 và Điều
42 Hiệp định TRIPS, nhưng không trái với Điều 2.1 Hiệp định TRIPS cùng với các Điều
6bis và Điều 8 Công ước Pari và không trái với Điều 4 Hiệp định TRIPS. Hội đồng cũng
phán quyết rằng các tên thương mại không phải là một lo
ại quyền sở hữu trí tuệ được bao
hàm trong Hiệp định TRIPS. Cả hai bên đều đã khiếu nại các phán quyết này.

nghĩa mang tính loại trừ và điều đó được khẳng định bởi cụm t
ừ “tất cả các phạm trù”,
trong đó từ “tất cả” chỉ ra rằng đây là một danh mục không đầy đủ”.
32
Về việc không
xuất hiện đối tượng tên thương mại trong các mục từ 1 đến 7 Phần II Hiệp định TRIPS,
Hội đồng đã xác nhận vấn đề này.
Hội đồng giải quyết khiếu nại không nhất trí với Hội đồng giải quyết tranh chấp về
vấn đề này. Hội đồng lưu ý rằng Điều 8 Công ước Pari chỉ liên quan đến tên thương mại
đã
được nhập vào Hiệp định TRIPS theo quy định tại Điều 2.1. Hội đồng giải quyết khiếu
nại đã dẫn chiếu đến tuyên bố trước đó của mình trong vụ US-Gasoline, rằng
Một trong số những hệ quả của “quy tắc giải thích chung” trong Công ước Viên là
việc giải thích phải đưa ra nghĩa và hiệu lực cho tất cả các điều khoản của một
đi
ều ước. Người giải thích không được tự do đưa ra một cách giải thích có thể dẫn
đến kết cục là làm cho cả các điều khoản hoặc các đoạn văn của một điều ước trở
nên thừa hoặc vô nghĩa.
33

Hội đồng giải quyết khiếu nại cho rằng giải thích của Hội đồng giải quyết tranh chấp có
thể có nghĩa rằng việc đưa Điều 8 Công ước Pari vào Hiệp định TRIPS là vô nghĩa. Hội
đồng giải quyết khiếu nại cũng đã bác bỏ giải thích của Hội đồng giải quyết tranh chấp về
lịch sử đàm phán Hiệp định TRIPS. Cụ thể
, Hội đồng đã phản bác những tài liệu mà Hội
đồng giải quyết tranh chấp đã dựa vào để giải thích là không có sự đề cập đến tên thương
mại.
34

Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đưa ra một trong số những kết luận là điều 211

Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 7.29.
10
Ví dụ, Báo cáo của Hội đồng giải quyết khiếu nại của WTO về vụ “Thuế của Hoa
Kỳ áp dụng cho dầu lửa và một số chất được nhập khẩu” ngày 17 tháng 6 năm
1987, BISD/34S/1, đoạn 5.2.2.
11
Báo cáo của Hội đồng giải quyết tranh chấp của WTOWT/DS50/R, 5/9/1997, đoạn
7.30.
12
Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 742.
13
Báo cáo của Hội đồng giải quyết khiếu nại của WTO về ‘Việc bảo hộ patent của
Ấn Độ đối với dược phẩm và sản phẩm hoá nông”, 1997, đoạn 34-42.
14
Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 45.
15
Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 46.
16
Trong cùng tài liệu nêu trên
17
Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 55.
18
Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 57.
19
Báo cáo của Hội đồng giải quyết tranh chấp, WT/DS170/R, 5/5/2000, đoạn 7.1.
20
Báo cáo của Cơ quan giải quyết khiếu nại, WT/DS170/170/AB/R, 17/9/2000, đoạn
53.
21
Trong cùng tài liệu nêu trên, đoạn 59-60.

ngày 2/01/2002, đoạn 105.
32
Báo cáo của Ban bồi thẩm WT/DS/176/R, 6/8/2001, đoạn 8.26.
33
Báo cáo của Hội đồng giải quyết khiếu nại, United States-Standards for
Reformulated and Conventional Gasoline, WT/DS2/AB/R, thông qua ngày
01/11/1996, đoạn 106.
34
Báo cáo của Hội đồng giải quyết khiếu nại trong tài liệu nêu trên, đoạn 339.

2. Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883
Lịch sử
Trong suốt cuối thế kỷ 19, trước khi có sự ra đời của các công ước quốc tế trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp, việc bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp tại các quốc gia
khác nhau trên thế giới là khó kh
ăn vì luật pháp tại các nước này rất đa dạng. Hơn nữa,
đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế phải được nộp đồng thời tại tất cả các quốc gia
nhằm tránh hệ quả là việc công bố tại một quốc gia sẽ làm mất tính mới của sáng chế đó
tại các quốc gia khác. Những vấn đề thực tiễn này đã thúc đẩy mong muốn khắ
c phục
được các trở ngại đó.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
18

Trong nửa cuối thế kỷ 19, sự phát triển của công nghệ theo xu hướng quốc tế hoá
và sự tăng trưởng của thương mại quốc tế khiến cho việc hài hoà hoá pháp luật về sở hữu
công nghiệp về cả lĩnh vực nhãn hiệu và sáng chế trở nên cấp thiết.
Khi Chính phủ hai nước Áo-Hungary mời các quốc gia khác tham dự một triển lãm
quốc tế về sáng chế được tổ ch
ức tại Viên năm 1873 thì một thực tế đã cản trở sự tham dự

vòng một ph
ần tư đầu thế kỷ 20 và đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ II, số lượng
thành viên của Công ước Pari đã tăng lên đáng kể.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
19

Công ước Pari đã được sửa đổi nhiều lần từ sau khi được ký kết vào năm 1883.
Mỗi một hội nghị sửa đổi, bắt đầu từ Hội nghị Brussel năm 1990, đều kết thúc bằng việc
thông qua một Văn kiện sửa đổi của Công ước Pari.Trừ những văn kiện tại hội nghị sửa
đổi Brussel (năm 1897 và 1900) và Washington D.C. (năm 1911) không còn hiệu lực, tất
c
ả những văn kiện trước đó vẫn có ý nghĩa, mặc dù phần lớn các quốc gia hiện nay đều là
thành viên của văn kiện mới nhất, Văn kiện Stockholm năm 1967.
Các quy định cơ bản
Các quy định của Công ước Pari có thể được chia thành bốn phạm trù chính:
- phạm trù thứ nhất bao gồm những nguyên tắc của luật nội dung về bảo đảm
quyền cơ bản – chế
độ đối xử quốc gia – tại mỗi quốc gia thành viên;
- phạm trù thứ hai thiết lập một quyền cơ bản khác, đó là quyền hưởng ưu tiên;
- phạm trù thứ ba xác định một số nguyên tắc chung trong lĩnh vực luật nội dung,
bao gồm các nguyên tắc xác lập quyền và nghĩa vụ của các thể nhân và pháp nhân, hoặc
những nguyên tắc yêu cầu hoặc cho phép các quốc gia thành viên được xây dựng luật
pháp theo những nguyên tắc
đó;
- phạm trù thứ tư giải quyết về khuôn khổ hành chính được tạo lập để thực thi
Công ước và những điều khoản cuối cùng của Công ước.
Đối xử quốc gia
Đối xử quốc gia có nghĩa là, liên quan đến việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, mỗi
quốc gia thành viên Công ước Pari phải dành sự bảo hộ cho công dân của các quốc gia
thành viên khác như sự bảo hộ đượ

Quyền ưu tiên có nghĩa là trên cơ sở một đơn hợp lệ
yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp do một người nộp tại một trong số các quốc gia thành viên, chính người này
(hoặc người được kế thừa quyền này), trong một thời hạn nhất định (6 hoặc 12 tháng) có
thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại tất cả các quốc gia thành viên khác. Những đơn nộp sau sẽ
được coi như được nộp cùng ngày với đơn nộp sớ
m nhất. Vì vậy, những đơn nộp sau
được hưởng quyền ưu tiên đối với tất cả các đơn liên quan tới cùng một sáng chế được
nộp sau ngày đơn đầu tiên được nộp. Các đơn này cũng sẽ được hưởng chế độ ưu tiên đối
với tất cả những hành động được tiến hành sau ngày đó mà thường có khả năng làm mất
quyền của người nộp đơ
n hoặc làm mất khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế cho
sáng chế của người nộp đơn. Những quy định liên quan tới quyền ưu tiên được đề cập tại
Điều 4 của Công ước.
Quyền ưu tiên tạo ra nhiều thuận lợi về mặt thực tế đối với người nộp đơn muốn có
được sự bảo hộ tại nhi
ều quốc gia. Người nộp đơn không buộc phải nộp tất cả các đơn tại
nước mình và nước ngoài vào cùng một thời điểm bởi người nộp đơn có 6 hoặc 12 tháng
tuỳ theo sự lựa chọn của mình để quyết định yêu cầu bảo hộ tại quốc gia nào. Người nộp
đơn có thể sử dụng thời hạn này để tổ chức thực hiện các bướ
c nhằm tìm kiếm sự bảo hộ
ở các nước khác nhau trong từng trường hợp cụ thể.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
21

Người được hưởng quyền ưu tiên là người bất kỳ có quyền được hưởng lợi từ
nguyên tắc đối xử quốc gia, nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc một
quyền sở hữu công nghiệp khác một cách hợp lệ tại một trong số các quốc gia thành viên.
Quyền ưu tiên chỉ có thể dựa trên đơn đầu tiên đối với cùng một quyền sở hữu
công nghiệp mà đã được nộp tại một quốc gia thành viên. Vì vậy, không thể căn cứ vào

cơ sở của việc yêu cầu hưởng quyền ưu tiên đó không còn tồn tại.
Hiệu lực của quyền ưu tiên được quy định tại Điều 4B. Có thể tóm tắt quy định này
như sau, như một hệ quả của yêu cầu hưởng quy
ền ưu tiên, đơn nộp sau phải được coi
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
22

như đã được nộp vào thời điểm nộp đơn của đơn đầu tiên ở một nước thành viên khác, là
cơ sở của việc yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của đơn đó. Bởi hệ quả của quyền ưu tiên, tất
cả những hoạt động diễn ra trong suốt thời gian từ ngày nộp đơn của đơn đầu tiên và đến
những đơ
n nộp sau, được gọi là giai đoạn ưu tiên, không thể làm mất quyền mà là đối
tượng của đơn nộp sau.
Về ví dụ cụ thể, điều này có nghĩa là đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế
cho cùng một sáng chế được một bên thứ ba nộp trong giai đoạn ưu tiên sẽ không tạo ra
quyền ưu tiên, mặc dù đơn đó được nộp trước cả
đơn nộp sau. Tương tự, một sự công bố
hoặc việc sử dụng công khai sáng chế mà là đối tượng của đơn nộp sau trong giai đoạn ưu
tiên sẽ không làm mất tính mới hay trình độ sáng tạo của sáng chế đó. Vì mục đích đó,
không cần quan tâm đến việc công bố do người nộp đơn hay do chính tác giả sáng chế
hay một bên thứ ba thực hiện.
Độ dài của giai đoạn ư
u tiên đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp là khác
nhau. Đối với bằng độc quyền sáng chế và mẫu hữu ích, giai đoạn ưu tiên là 12 tháng, đối
với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu thì thời hạn này là 6 tháng. Khi xác định độ dài
của giai đoạn ưu tiên, Công ước Pari đã phải tính đến những lợi ích xung đột giữa người
nộp đơn và các bên thứ ba. Giai đoạn ưu tiên hiện được quy
định trong Công ước Pari
dường như đã tạo ra sự cân bằng hợp lý giữa hai chủ thể này.
Quyền ưu tiên được Công ước thừa nhận cho phép yêu cầu hưởng quyền “ưu tiên

một bằng độc quyền sáng chế ở một nước nhất định trên cơ sở luật pháp của nước này
thường sẽ không liên quan đến hoàn cảnh pháp lý khác nhau ở các nước khác. Sẽ là
không hợp lý khi độc quyền của chủ sở hữu sáng chế ở các nước khác bị mất với lý do
người đó bị mất độc quyền đối với sáng chế ở một nước cụ thể vì không nộp lệ phí duy trì
hiệu lực ở nước đó, hoặc với lý do bằng độc quyền sáng chế bị huỷ bỏ hiệu lực ở nước đó
vì mộ
t lý do mà luật pháp của các nước khác đó không quy định.
Một điểm đặc biệt của nguyên tắc độc lập của bằng độc quyền sáng chế được quy
định tại Điều 4bis(5). Điều khoản này quy định bằng độc quyền sáng chế được cấp trên cơ
sở một đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của một hoặc nhiều đơn được nộp ở nước
ngoài phải có thời hạn hiệu lực bằng thời hạn hiệu lực như thể các bằng độc quyền sáng
chế đó được cấp mà không có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.
Nhập khẩu, không khai thác và li-xăng cưỡng bức
Các vấn đề về việc nhập khẩu các vật phẩm chứa sáng chế, việc không thực hiện
sáng chế đã được cấp bằng
độc quyền và li-xăng cưỡng bức được quy định tại Điều 5.A
của Công ước. Đối với vấn đề nhập khẩu, điều này quy định rằng việc nhập khẩu bởi chủ
bằng độc quyền vào một quốc gia nơi bằng độc quyền sáng chế được cấp, các vật phẩm
chứa sáng chế và được sản xuất tại quốc gia bất k
ỳ của Liên hiệp sẽ không dẫn đến việc
tước quyền theo bằng độc quyền sáng chế đó.
Đối với việc khai thác bằng độc quyền sáng chế và li-xăng cưỡng bức, bản chất
của các quy định tại Điều 5A là mỗi quốc gia có thể tiến hành các biện pháp pháp lý quy
định việc cấp li-xăng cưỡng bức. Những li-xăng cưỡng bức này nhằm ngăn chặn sự
lạm
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
24

dụng có thể nảy sinh từ độc quyền được cấp theo bằng độc quyền sáng chế, ví dụ việc
không khai thác sáng chế hoặc khai thác sáng chế không đầy đủ.

một thời hạn nhất định. Thời hạn 3 năm hoặc 4 năm nêu trên cũng là thời hạn tối thiểu
theo nghĩa luật quốc gia có thể quy định thời hạn dài hơn.
Li-xăng cưỡng bức do không khai thác hoặc khai thác không đầy đủ phải là một li-
x
ăng không độc quyền và chỉ có thể được chuyển giao cùng với doanh nghiệp được
hưởng lợi từ li-xăng cưỡng bức đó. Chủ sở hữu bằng độc quyền phải được giữ lại quyền
cấp các li-xăng không độc quyền khác và quyền tự mình khai thác sáng chế. Ngoài ra, vì
li-xăng cưỡng bức được cấp cho một doanh nghiệp cụ thể trên cơ sở năng lực đã bi
ết của

Trích đoạn Nguyên tắc song phương trong vấn đề sở hữu trí tuệ Giới thiệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status