Giới thiệu về các giá trị của khu phố cổ Hà Nội - Pdf 16

Giới thiệu về các giá trị của khu phố cổ Hà Nội
(17-12-2004) (theo Hanoi Portal)

Khu “36 phố phường” Hà Nội nằm ở phía đông bắc
thành cổ trong gần 10 thế kỷ đã chứng kiến biết bao sự
kiện lịch sử hào hùng của dân tộc trong sự nghiệp
chống ngoại xâm giữ nền độc lập cho nước nhà. Khu
Phố Cổ này, cùng với sông Hồng, là khu bảo vệ vòng
ngoài cho thành cổ trong thời chiến, là khu vực buôn
bán sầm uất nuôi sống thành cổ trong thời bình, là
gương mặt của đất nước trong quân hệ đối ngoại.
Giá trị văn hoá
Khu 36 phố phường xưa nổi tiếng là đất “ngàn năm văn vật”; “Thứ nhất kinh kỳ, thứ
nhì phố Hiến”, với nhiều hoạt động sôi nổi cả ngày lẫn đêm; “dập dìu tài tử giai
nhân, ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Nơi đây, không chỉ đã từng là một
trung tâm kinh tế mà còn là một trung tâm văn hoá đa dạng; văn hoá ẩm thực phong
phú với nhiều tiệm cao lâu nổi tiếng của người Hoa, tiệm ăn của người Việt Sau
này là các hoạt động biểu diễn của các đoàn Quảng Lạc, Chuông Vàng, Kim
Chung, Kim Phụng, hoạt động sôi nổi của các rạp chiếu phimv.v.
Do vậy nhìn nhận khu 36 phố phường không nên chỉ đơn thuần là khía cạnh văn
hoá vật thể (đánh giá đơn thuần về công trình kiến trúc), mà còn là khía cạnh văn
hoá phi vật thể, đó chính là cái hồn của phố cổ.
Nếu vật thể là những cái nhìn thấy được như: đình, đền, chùa, miếu thì phi vật thể
là những cái không có hình hài vật chất: ca dao, truyện cổ, tín ngưỡng, tâm linh,
cách sống, phong cách làm ăn, buôn bán Song thực tế không có sự khác biệt rành
rọt như vậy. Ca dao tục ngữ là truyền miệng, là vô hình nhưng sách sưu tầm và in
ra các ca dao tục ngữ lại là vật hữu hình. Hay tín ngưỡng, lễ nghi, thờ phụng, cúng
bái, là vô thể, song chúng diễn ra ở nhà thờ, đình, đền, miếu một cách hữu hình.
Như vậy văn hoá phi vật thể phải dựa vào vật thể để lưu hành và lưu truyền cho các
thế hệ.
Phong cách buôn bán cổ thể hiện đầy đủ tính chất chợ, tức là thị, của đô thị một

phát huy lối sống, nhưng phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương mình.
Văn hoá ẩm thực của người Hà Nội
Hà nội là đất kinh đô ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ kết tinh, tinh tuý của mọi miền.
Ngoài văn hoá Vật thể, di sản văn hoá phi vật thể Hà Nội có trữ lượng khá lớn. Nó
đã phản ánh một cách phong phú, đa dạng và chân thực truyền thống sinh hoạt văn
hoá của người Hà Nội. Một số loại hình của bộ phận di sản này trong những năm
qua đã được sư tầm, nghiên cứu đã khẳng định văn hoá phi vật thể Hà Nội là tổng
hoà các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hoà, tiếp biến, cởi mở, linh hoạt, để tạo nên
bản sắc Thăng Long - Hà Nội một vùng đất “hội thuỷ, hội nhân, và hội tụ văn hoá vô
cùng phong phú và đa dạng”
Trong kho tàng văn hoá phi vật thể Hà Nội các giá trị về văn hoá ẩm thực chiếm một
vị trí đáng kể.Chính những giá trị này đã góp phần sâu sắc để định hình nên bản
sắc văn hoá Hà Nội, phong vị Hà Nội như đã được nhắc đến khá nhiều.
Những món ăn đặc sản như chả cá Lã Vọng, Xôi lúa Tương Mai, cốm Vòng, bánh
cuốn Thanh Trì, rượu Mơ Những quán ăn với cách bài trí thanh lịch, những tiếng
rao đêm đầy ấn tượng của Hà Nội xưa, những thói quen trong cách ăn uống tất cả
đã góp phần làm cho Hà Nội trở thành khó quên đối với những ai đã từng một lần
đặt chân tới Hà Nội, nhà văn Thạch lam đã từng viết: “muốn biết rõ một thành phố
không cần phải biết những lâu đài mỹ thuật, những bảo tàng, những tờ báo, hay
những nhà văn, nhưng cần phải biết những chốn mà dan thành phố ấy ăn chơi. ăn
và chơi đó là hai điểm hành động mà trong ấy người ta tỏ rõ cái tâm tính cái linh
hồn mình một cách chân thực nhất”.
Riêng nói về món quà ngon của Hà Nội thì ông đã ca ngợi hết lời: “Người Hà Nội ăn
thì ngày nào cũng ăn nhưng thường không để ý. Nếu chúng ta về ở các tỉnh nhỏ ít
lâu, hay ngay ở Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết quà ở Hà Nội là ngon
chừng nào”
Tìm hiểu về những món ăn, nhất là các món ăn “cổ truyền” của Hà Nội không chỉ là
để nhận biết, thưởng thức cái thú vị đến lạ lùng, cái ngon lành bổ béo của những
thức ăn “cổ truyền” của nguời Hà Nội. Mà còn là những chuyện thuộc các lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh, cung cấp và tiêu thụ,kỹ thuật và thị trường của các món ăn

yếu ớt và chậm chạp của các đô thị cổ Việt Nam cũng như các đô thị cuả Phương
Đông. Vì thế không có văn hoá đô thị rạch ròi mạnh mẽ và tất yếu lễ hội cổ truyền
Hà Nội phải mang đậm tính chất nông thôn nông nghiệp, bên cạnh chất nông thôn
nông nghiệp, lễ hội cổ truyền Hà Nội còn đậm đà màu sắc lịch sử, bởi không đâu
khác Hà Nội là trung tâm, là nơi tập trung các nhân vật lịch sử và những sự kiện lịch
sử, những dấu ấn lịch sử của môi trường văn hoá đô thành.
Tuy Hà Nội xưa kém phát triển theo kiểu một đô thị trung cổ phương Đông nhưng
kgông ở đâu có điều kiện phát triển văn hoá qua lễ hội bằng Hà Nội. Bởi vì lễ hội
phải được xây dựng trên một tổ chức cao, có được phương tiện, điều kiện vật chất
và có xã hội phát triển. Với những điều kiện như thế, Hà Nội xưa đã đáp ứng tót
hơn tất cả mọi nơi. Vì Hà Nội là Kinh Đô của cả nước; Hà Nội có vua, có triều đình,
có văn hoá bác học, coi trọng văn hoá lễ hội. Đặc biệt Hà Nội có các phố phường
thủ công, thương nghiệp dịch vụ tạo được những điều kiện vật chất cao cho lễ hội.
Có lẽ bởi vậy điều ta rất dễ thấy ở nhiều lễ hội cổ truyền Hà Nội là quy mô lớn và đồ
sộ, Song lại rất thanh lịch.
Lễ hội dân gian xưa của Hà Nội chiếm vị trí rất lớn và có tác động tích cực, sâu sắc
đến đời sồng tinh thần, đời sống văn hoá của người Hà Nội. Thông qua lễ hội và
trong lễ hội mọi hành động đều chứa đựng ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt. Nó là thời
điểm gắn bó các thành viên của cộng đồng lại với nhau. Nó là thời điểm mà đời
sống văn hoá của mọi người được tổ chức chặt chẽ và có quy mô, do đó được
nâng lên một trình độ ao hơn so với những ngày thường, và đó còn là thời điểm hội
tụ các khả năng sàng tạo hội tụ các thể loại văn nghệ, đưa lại niểm phấn khởi hào
hứng cho mọi người.
Qua điều tra về các lễ hội Hà Nội, riêng ở nội thành thì lễ hội ở “Thăng Long tứ trấn”
là đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên và Quán (hay Đền) Trấn Vũ đều diễn
ra hàng năm với nghi thức ngày một trang trọng.
Trong khu Phố Cổ còn có một số đình đền như đình Đồng Lạc số 38 Hàng Đào,
đình Đại Lợi số 50 Gia Ngư, đình Trang Lâu số 77 Nguyễn Hữu Huân, đình Đông
Hà số 46 Hàng Gai các truyền thuyết đó đã hàng bao đời in sâu vào trí óc, tình
cảm của nhân dân và do đó đã có một sức sống mạnh mẽ. Vừa có thể coi như một

lượng vô hình nhưng đầy tin tưởng.
Ngoài ra khu phố cổ còn là nơi phát nguồn của sông Tô Lịch, nơi mà sau này thành
phường khương Giang Khẩu nổi tiếng. Có thể tin chắc rằng chỗ ngã ba sông Cái và
sông Tô là một địa điểm dân cư khá lâu đời.
Của sông Tô lần đầu tiên được ghi trong sử như một vị trí chống ngoại sâm hiểm
yếu vào năm 545 khi Lý Bí dựng thành luỹ tại đây để chống quân xâm lược Trần
Bá Tiên. Bọn đô hộ sau đó đã nhận thấy vị trí chiến lược xung yếu của khu vực này
nên đến năm 607, chúng đã dời đô sở đô hộ từ Long Biên (Bắc Ninh) sang nơi đây,
mà chúng đặt tên là Tống Bình. để đề phòng những cuộc tấn công của người bản
địa, chúng bắt dân chúng xây dựng những thành kiên cố, bắt đầu từ Khâu Hoà năm
621 sau đến Trương Bá Nghi và cuối cùng là Cao Biền (Thế kỷ thứ 9). Thời gian
này đã hình thành một tín ngưỡng thờ thần Long Đỗ, tương truyền đã hiện ra trên
không, khi Cao Biền, viên đô hộ đã đắp thành Đại La - Một buổi trưa ra chơi Cửa
Đông ngoài thành, y đã sợ hãi, vội tìm đồng và sắt làm bùa yểm chôn xuống đất
với hy vọng chế ngự được thần. Cao Biền phải than: “Đất nơi đây thật anh linh, ta
phải mau về phương Bắc”. Và y đã dựng đền, đắp tượng thờ.
Trong khu Phố Cổ còn có một truyền thuyết khá nổi tiếng kể rằng Lý Công Uẩn khi
chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra đây nhiều lần xây đắp thành không xong, đã cầu đảo
và thấy hiện ra một con ngựa trắng đi vòng quanh khu vực định làm thành rồi vào
trong đền biến mất. Lý Công Uẩn đã dựa theo dấu vết chân ngựa để xây thành và
công trình đã thành công nhanh chóng. Đó là thần Long Đỗ đã hiện lên giúp vua
Lý, được vua đặt tên là Bạch Mã.
Hiện nay thần Long Đỗ tức Bạch Mã được thờ tại đền Bạch Mã ở Hàng Buồm. Tín
ngưỡng Long Đỗ - Bạch Mã đã cùng tín ngưỡng các thiên thần, thiên thần thời
Hùng Vương, nói lên tâm hồn người Thăng Long - Hà Nội yêu nước, yêu đồng bào
thắm thiết. Một khía cạnh văn hiến trong khu Phố cổ Hà nội của Thăng Long là tâm
linh hướng tổ, tức lòng ngưỡng mộ tổ tiên; hướng vào cội nguồn, không “xanh như
lá bạc như vôi”. Dù ở bốn phương, tứ trấn qui tụ về đây dân chúng vẫn luôn nhớ về
làng quê gốc cũ. Sự hiện diện của khá nhiều đình đền gọi là “vọng từ, vọng đình” đã
chứng minh điều đó: Nhị Khê vọng từ phố Hàng Hành, Trâu Khê vọng đình phố

khác nhau của tâm hồn người Thăng Long xưa để lựa chọn, thừa kế, xây dựng một
khu Phố Cổ trong lòng thành phố Hà Nội.
Các dòng họ Hà Nội
“Uống nước nhớ nguồn” từ lâu đã là một đạo lý Việt Nam, từ vô thức, tiềm thức đến
ý thức. Vì thế nguyên lý cùng dòng nguồn khi tiểm ẩn, lúc bộc phát đang và sẽ còn
đóng vai trò làm mền dẻo đi các nguyên lý xã hội khác như nguyên lý láng riềng,
nguyên lý giai cấp phải chăng vì thế CHủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời hay nói đến : “
Đại gia đình các dân tộc Việt Nam”, “bốn phương vô sản đều là anh em”
Con người ta luôn có nhu cầu muốn biết về cội nguồn của mình. Đó là gốc rễ tình
cảm - tính người về sự trở lại cội nguồn. Đồng thời nó còn có nguyên nhân xã hội -
tâm linh sâu rộng hơn.
Nói đến những dòng họ ở Hà Nội thì rất nhiều, qua kết quả đièu tra hiện có tới hơn
200 họ khác nhau ở Hà Nội và những vùng phụ cận. Trong đó nổi lên rất nhiều
dòng họ tiêu biểu ví như: Họ Nguyễn - Kim Lũ, Họ Vũ - Đan Loan với nghề nhuộm
nổi tiếng cùng sáu họ khác ở Xứ Đông sáng lập khu ngõ Phất Lộc và rất thạo kinh
doanh. Ai cũng biết ngõ Phất Lộc là nơi gợi hứng bất tuyệt góp phần hình thành một
phong cách nghệ thuật “Phố Phái” (Bùi Xuân Phái).
Tục lệ hương ước Hà Nội
Thăng Long Hà Nội tuy là Kinh Đô, là đô thị lớn nhất của cả nước nhưng vẫn là “Kẻ
Chợ” của “Kẻ Quê”, ở đó có các thôn làng phố phường đan xen và cùng nhau tồn
tại qua trường kỳ lịch sử. Trong xã hội Việt Nam xưa các tổ chức đó thường đặt ra
những điều ước để ràng buộc chế ngữ lẫn nhau, đièu hoà giả quyết các tranh chấp
va chạm. Những điều ước ấy được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như Hương
ước, hương khoán, quy ước, lệ định, tục lệ nhưng tất cả được xây dựng tại địa
phương, với yêu cầu cụ thể của từng địa phương. Cho đến đầu thế kỷ XX do yêu
cầu của chính quền đương thời, các thôn làng phường phố của Hà Nội cũng như cả
nước cũng phải tự kê khai hưiơng ước của địa phương mình theo khuôn mẫu qui
định. Hiện nay theo số liệu điều tra, Hà Nội còn lưu giữ được hàng trăm bản hương
ước bằng chữ Hán và chữ Nôm.Dân gian ta đã có câu “Phép vua thua lệ làng” điều
đó nói lên sức mạnh và tác dụng gắn kết của hương ước đối với từng cộng đồng

đô thị vốn được tạo thành bởi phương thức tổ chức, đặc thù về hoạt động kinh tế xã
hội và văn hoá của cộng đồng dân cư. Hai yếu tố này luôn đi cùng nhau và kết hợp
hữu cơ với nhau để tạo nên giá trị thống nhất của kiến trúc đô thị. Giá trị hình thái
và ý nghĩa tượng trưng của kiến trúc đô thị vừa tác động, vừa bị chi phối bởi trạng
thái tâm lý của con người khi sử dụng và nhân thức về không gian kiến trúc đô thị.
Rõ ràng, yếu tố tượng trưng hay cao hơn là yếu tố biểu tượng của kiến trúc liên hệ
chủ yếu đến di sản văn hoá và kiến trúc, tạo nên ấn tượng sâu sắc trong cảm nhận
các giá trị của kiến trúc.
Do đó có thể nói, đặc trưng văn hoá đô thị Hà Nội dễ dàng được cảm nhận trong
cấu trúc chức năng và không gian 36 phố phường, trước hết thông qua các công
trình kiến trúc có giá trị lịch sử cùng những huyền thoại lối sống và nhiều biểu thị
văn hoá vốn trải thời gian đã được định hình.
Đặc điểm dân gian thể hiện rất rõ trong cách tổ chức khu phố trên cơ sở đơn vị
phường nghề với phương thức sản xuất, tổ chức xã hội và các thiết chế văn hoá,
tín ngưỡng và đương nhiên là cả cách thức xây dựng có nguồn gốc từ nông thôn.
Phố xuất hiện sau phường do nhu cầu trao đổi thương nghiệp tăng dần. Phố là bộ
phận của phường, thuộc về phường và là bộ mặt của phường. Đồng thời phố là
thành phần liên kết các phường khác nhau trong mối quan hệ hỗ tương và tạo nên
một mạng lưới. Đó là cấu trúc đô thị.
Sự hình thành tuyến phố quyết định sự hình thành ô phố. Sở dĩ mạng lưới đường
phố và ô phố trong khu 36 phố phường có kích thức nhỏ và không đồng đều về
hình dạng bởi vì quá trình hình thành và phát triển phường, phố là quá trình mang
tính tự phát, phát triển theo nhu cầu, dường như không dự kiến trước và hoàn toàn
bị chi phối bởi điều kiện địa hình tự nhiên. Các tuyến phố hình thành từ chính
những con đường nhỏ vốn kiêm chức năng thuỷ lợi thường có hình dáng tự nhiên,
quanh co.
Việc hình thành các đơn vị phường đã tác động tới kiến trúc của khu Phố Cổ.
Chúng ta có thể thấy điều này qua sự phát triển của các nhà hình ống đó là nhà dài
có mặt tiền hẹp gọi là nhà ở hàng phố, phòng quay ra phố dùng làm cửa hàng và
làm hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status