BÀI 1: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Từ rất xa xưa trong lịch sử, con người đã từng biết đến các hoạt động quản trị
và vai trò của nó trong tổ chức và quản lý xã hội. Điều đó thể hiện ở cách thức phối
hợp trong công việc chung của cộng đồng. Ngày nay, với sự chuyên môn hóa trong
sản xuất xã hội ngày càng sâu sắc và sự phát triển rực rỡ của khoa học- kỹ thuật thì
hoạt động quản trị càng khẳng định được ý nghĩa lớn lao của nó với cuộc sống của
con người.
Mặc dù quản trị đã tồn tại từ rất lâu nhưng khoa học quản trị thì còn rất mới
mẻ.Điều đó đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng khoa học quản trị
để phục vụ cho cuộc sống của mình.
I. Mô tả môn học, nội dung môn học
Mô tả môn học
Quản trị công tác xã hội nhấn mạnh việc thực hành quản trị công tác xã hội
trong các cơ sở an sinh xã hội đặc biệt là các trung tâm bảo trợ xã hội và trung tâm
công tác xã hội.
Chú trọng công tác hoạch định, tổ chức, kiểm soát và nhân sự cũng như các chức
năng quản trị khác để đáp ứng nhu cầu thân chủ đặc thù.
Xem xét các hoạt động của các cơ sở an sinh xã hội và các biện pháp cải tiến
việc quản lý
Nội dung bài 1
Giới thiệu các lý thuyết và khái niệm về quản trị công tác xã hội được rút ra
từ các lý thuyết tổ chức, công tác xã hội và các khoa học hành vi khác với những
khía cạnh riêng biệt của nó
Bàn luận về thuật ngữ Quản trị xã hội và Quản trị an sinh xã hội hiện đang
đươc một số tác giả sử dụng chung
1
II. Lý thuyết tổng quát về Quản trị công tác xã hội
1. Các lý thuyết Quản trị CTXH
1.1. Các định nghĩa
Định nghĩa Quản trị:
Trong khoa học quản trị, khi nghiên cứu trên các phương diện của quản trị, các
thực hiện bằng các chương trình và dịch vụ cho từng nhóm thân chủ cụ thể. Nó cũng
được xem như là quản trị cơ sở xã hội.
Định nghĩa Quản trị công tác xã hội:
Quản trị công tác xã hội là một phương pháp của công tác xã hội có liên
quan tới việc cung ứng và phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con người
đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân.Người ta cho rằng khi
chuyển đổi các chính sách xã hội thành các chương trình và dịch vụ, nhà quản trị
công tác xã hội áp dụng một sự tổng hợp các phương pháp công tác xã hội vào tiến
trình quản trị.Theo Walter Friedlander, quản trị công tác xã hội là một phương
pháp của công tác xã hội dựa vào các nguyên tắc và kỹ thuật của khoa học quản trị
nói chung nhưng đề cập đến những công việc đặc thù của công tác xã hội là nhận
diện và giải quyết các vấn đề của con người và thỏa mãn các nhu cầu con người.
Skidmore tóm tắt quản trị công tác xã hội là “hành động của đội ngũ nhân sự sử
dụng các tiến trình xã hội để chuyển đổi các chính sách xã hội của cơ sở bằng việc
cung ứng các dịch vụ xã hội”.
3
1.2. Các lý thuyết Quản trị công tác xã hội
Quản trị khoa học do Frederick Taylor đề ra vào những năm đầu 1900. Taylor
giả định rằng người công nhân được thúc đẩy chủ yếu bằng sự đảm bảo về tài chính
và bầu không khí làm việc ổn định đảm bảo được trả lương đầy đủ và đều đặn.Họ
làm việc hợp lý. Họ ưa thích công việc giản đơn và cần hướng dẫn và giám sát.
Quản trị viên đưa ra áp dụng những cách thức tốt hơn để tăng năng suất lao động
của công nhân sử dụng “một phương thức tốt nhất” để làm việc. Nó nhấn mạnh việc
phân công lao động, sử dụng đồng hồ bấm giờ và nghiên cứu các động tác. Người
công nhân được xem là “con người kinh tế” hay người ta đối xử như là cái máy, bị
thúc đẩy bởi tiền thưởng, tiền hoa hồng và trả lương theo sản phẩm.
Quản trị hành chính được biết đến nhiều qua các công trình của Henry Fayol
và Mary Parker Follett. Fayol tán thành 14 nguyên tắc quản trị căn bản được Follett
phát triển sâu hơn gồm nhu cầu về sự nhạy cảm của quản trị viên đối với cá nhân
con người. Henry Gantt đưa ra một biểu đồ thời gian (biểu đồ Gantt) giúp cho công
Ông ta kết luận rằng không có một phương thức lãnh đạo nào lý tưởng hay một cách
quản lý tốt nhất. Thay vào đó ông cho rằng phong cách lãnh đạo tốt là cách đáp ứng
những nhu cầu của một tình huống cụ thể nào đó.Những tình huống khác nhau cần
những quyết định khác nhau và cách quản lý khác nhau.Tuy nhiên, nhà quản trị sẽ
đưa ra quyết định đúng đắn nếu họ đánh giá đúng nhu cầu của tình huống và có
được kỹ năng ra quyết định.
Quản trị chất lượng toàn thể là một cách tiếp cận khác nhằm thay đổi các mối
quan hệ và tiến trình nơi làm việc để nâng cao thực hành công việc do W. E.
Deming đề xướng. Trong đó, những cách thức thực hành công việc chủ yếu như đặt
trọng tâm vào khách hàng, sự cam kết của toàn tổ chức trong việc cải tiến liên tục và
làm việc theo nhóm được xem như dẫn đến cả chất lượng (ít phải làm lại, khách
hàng hài lòng hơn hay những đòi hỏi hợp pháp của khách hàng) lẫn những thành
5
quả liên quan đến công việc như sự thỏa mãn (của công nhân), truyền thông (tích
cực hơn) và nhận thức (tích cực hơn) về môi trường làm việc. Ông ta ước tính rằng
“công nhân chỉ chịu trách nhiệm 15% những vấn đề còn người quản lý chịu trách
nhiệm 85%.”Vì vậy cần đến sự cam kết của toàn thể tổ chức từ người điều hành cho
đến nhân viên cấp thấp nhất.Quản trị chất lượng toàn thể (TQM) nhấn mạnh cải tiến
liên tục và loại bỏ các khiếm khuyết trong bộ máy tổ chức và các hoạt động của nó.
2. Phân biệt Quản trị, Quản trị xã hội, Quản trị CTXH, Quản trị trong các
lĩnh vực, Quản trị an sinh xã hội; phân biệt quản trị với quản lý
2.1. Phân biệt quản trị với quản lý
Khái niệm về Quản lý:
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời
không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được
giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự
khởi đầu để họ triển khai công việc. Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì
có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý.
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất
của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý học.
và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây
dụng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát
triển". Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó
không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển.
Từ đó có thể thấy, cơ sở chính trong giải quyết độ khó của vấn đề là "quan
điểm về hệ thống", cơ sở chính trong giải quyết độ khó về thời gian là "quan điểm
về sự chuyển động”. Như vậy, đặc điểm lớn nhất trong lý luận của Peter F. Dalark là
cách nhìn hệ thống mở và chuyển động". Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tư
tưởng triết học về quản lý của ông.
Tư tưởng triết học về quản lý của Peter F. Dalark:
7
Quản lý doanh nghiệp phải theo nguyên tắc: "lấy hiệu quả kinh tế thực tế làm
nguyên tắc hoạt động, đây là một cách nhìn tổng thể lấy thành tích làm cốt lõi".
Nguyên tắc quản lý dành cho giám đốc cần có động lực mạnh mẽ quản lý mục
tiêu và kiểm soát bản thân để họ trở thành một người giám đốc giỏi.
Quản lý công việc thì nhấn mạnh: công việc cần có sức sản xuất và phải thông
qua những công cụ phân tích, tổng hợp, kiểm soát và thí nghiệm.
Quản lý nhân công coi trọng nguồn nhân lực, làm cho họ có cơ hội, chủ động
phát huy ưu điểm của mình, thoả mãn nhu cầu về chức năng và địa vị xã hội của họ
trong công việc, đưa đến cho họ cơ hội, quyền lợi như nhau để mỗi người thể hiện
giá trị, hoài bão của mình.
Tóm lại, quản lý là quan niệm chứ không phải kỹ thuật, là tự do chứ không
phải bị khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ
không phải tiềm năng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ
không phải thăng hến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại; là đơn giản chứ không
phải phức tạp.
Quản trị và Quản lý
Rino J. Patti sử dụng hai thuật ngữ quản trị và quản lý như nhau.Ông ta lưu ý
rằng quản lý được nhân viên xã hội sử dụng ngày càng nhiều để mô tả công việc mà
họ làm.Đã có nhiều cố gắng phân biệt hai thuật ngữ nhưng những khác biệt này
trong một tổ chức để đạt đợc mục
tiêu chung.
Tạo lập và duy trì một môi trờng
nội bộ thuận lợi
Giữ vững đợc định hớng mục tiêu
ca t chc
Phõn b v s dng ngun lc
2.2. Phõn bit Qun tr xó hi, Qun tr CTXH, Qun tr an sinh xó hi;
c im chung:
9
- Là một phương pháp, một tiến trình liên tục
- Do một hoặc nhiều người cùng phối hợp thực hiện
- Chức năng là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
- Mục đích nhằm quản lý và phát triển tổ chức, thực hiện các mục tiêu đã đặt
ra.
Đặc điểm riêng:
Quản trị xã hội Quản trị trong CTXH Quản trị ASXH
Khái
niệm
Quản trị xã hội chú
trọng vào các chính
sách, hoạch định và
quản trị hàng hóa và
dịch vụ có liên quan tới
các thiết chế chính trị,
kinh tế - xã hội và liên
quan tới các quyết định
phân bổ tài nguyên quốc
gia đối với những nhu
cầu an sinh xã hội.
Con người
Các cơ sở xã hội
Chính sách xã hội
Con người
Cơ sở an sinh xã hội
Chính sách an sinh xã
hội
Quy mô/
Lĩnh vực
Lĩnh vực sức khỏe, giáo
dục và những lĩnh vực
Trong lĩnh vực công
tác xã hội
Trong các lĩnh vực về
an sinh xã hội
10
phát triển xã hội khác.
Vai trò Chữa trị, phục hồi,
ngăn ngừa và cung cấp
dịch vụ
Chuyển đổi các chính
sách xã hội thành dịch
vụ xã hội trợ giúp
Dùng kinh nghiệm thực
tiễn hoạt động để điều
chỉnh chính sách.
Cơ sở
pháp lý
Các chính sách kinh tế,
xã hội, hành chính…
nhằm thay đổi và phát triển các mục đích và chức năng của cơ sở.
3. Trọng tâm chủ yếu là tiến trình giúp đỡ cá nhân, nhóm và
cộng đồng.
4. Quản trị công tác xã hội là làm việc với con người dựa vào
kiến thức và hiểu biết hành vi con người, các mối quan hệ nhân sự và các
tổ chức phục vụ con người.
5. Các phương pháp công tác xã hội không chỉ được sử dụng
để cung cấp dịch vụ mà còn trong tiến trình quản trị và các mối quan hệ
với nhân viên.
Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm sẽ tập trung vào việc phân tích các
nguyên tắc của Quản trị Công tác xã hội.
Trên cơ sở các nguyên tắc chung về quản trị, lĩnh vực quản trị Công tác xã hội
đòi hỏi được thực hiện những nguyên tắc riêng để đảm bảo Quản trị Công tác xã hội
có hiệu quả.
Các nguyên tắc:
Thứ nhất, nguyên tắc chấp nhận:
12
Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi nhà quản trị công tác xã hội và nhân
viên được khuyến khích và có trách nhiệm chấp nhận lẫn nhau, đối xử một cách phù
hợp. Điều đó có nghĩa là, xét ở một khía cạnh nào đó, đòi hỏi sự bình đẳng giữa nhà
quản trị và các nhân viên trong cơ sở. Nhà quản trị và nhân viên trong cơ sở được
thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau, trong đó, nhà quản trị công tác xã hội cần phải lắng
nghe nhân viên của mình và chấp nhận những gì thuộc về các nhân họ, tôn trọng
nhân viên của mình như một thực thể riêng biệt với quá khữ, năng lực, văn hóa và
cá tính riêng. Bên cạnh đó, các nhân viên cũng cần chấp nhận những cá tính, cố
gắng hiểu những cảm xúc và cách suy nghĩ của nhà quản trị.
Chính vì vậy, mọi cá nhân phải được nhìn nhận như một thực thể riêng biệt có
các quyền hạn và trách nhiệm nhất định tương ứng với vị trí mà họ đảm nhận. Tuy
nhiên, chúng ta cũng koong nên đồng nghĩa chấp nhận với việc đồng tình với tất cả
những sai lầm, những điều không tốt mà không có sự đánh giá, kiểm chứng và góp ý
giá trị của ngành. Xét cho cùng, mọi hoạt động quản trị trong cơ sở đều hướng tới
thực hiện tốt các chức năng chuyên môn. Do đó, nguyên tắc đạo đức mang tính nền
tảng của ngành công tác xã hội phải được giữ vững, tránh sự sai lệch trong nhận
thức và hành động, dẫn tới hậu quả làm mất đi những giá trị nhân văn của ngành.
Thứ năm, nguyên tắc về việc đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và thân chủ:
Nhu cầu của cộng đồng và cá nhân trong cộng đồng ấy luôn là nền tảng cơ
bản cho sự tồn tại của các cơ sở xã hội và sự cung ứng các chương trình. Công tác
xã hội tồn tại là để giải quyết các vấn đề xã hội. Do đó, mọi hoạt động quản trị đều
phải lấy điểm xuất phát từ mục tiêu tồn tại của chính cơ sở để thực hiện. Các nhà
quản trị công tác xã hội cũng cần phải có nhận thức sâu sắc về vai trò, chức năng và
những nhiệm vụ của cơ sở trước khi họ được giao giữ vị trí quản trị.
Thứ sáu, nguyên tắc về mục đích của cơ sở
Mục đích của cơ sở phải được hình thành, ghi nhận, được các nhân viên thấu
hiểu và sử dụng một cách rõ ràng. Đây là cơ sở của phương p háp quản trị mục tiêu.
Nhà quản trị ở các cơ sở xã hội phải giúp nhân viên của mình nhận thức đúng trọng
14
trách, vai trò của mình cũng như cơ sở. Từ đó, xây dựng thái độ, động cơ đúng đắn
trong thực hành nghề nghiệp, tránh vi phạm đạo đức nghề.
Thứ bảy, nguyên tắc về trách nhiệm nghề nghiệp
Nhà quản trị công tác xã hội chịu trách nhiệm về việc cung cấp các dịch vụ
chuyên môn phù hợp với nhu cầu của các nhóm đối tượng phục vụ. Trách nhiệm của
nhà quản trị công tác xã hội là cao nhất. Hơn ai hết, nhà quản trị trong các cơ sở xã
hội phải chịu trách nhiệm trong công việc với chính bản thân mình và xã hội cũng
như đồng nghiệp. Do đó, nhà quản trị cần phải sẵn sàng đương đầu với các khó
khăn, thách thức với cơ sở mà mình đảm trách, thậm chí, cả những sai lầm mà nhân
viên của mình mắc phải.
Thứ tám, nguyên tắc ủy quyền
Việc ủy quyền trong quản trị là cần thiết. Điều đó giúp cho nhà quản trị tránh
việc ôm đồm nhiều trách nhiệm và công việc. Nhưng việc ủy quyền phải rõ ràng và
bằng văn bản. Người ủy quyền phải thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền và
5. Làm việc với ban lãnh đạo cơ sở, nhân viên chuyên nghiệp
và không chuyên nghiệp, ban điều hành, các ủy ban chuyên môn và những
người tình nguyện.
6. Cung cấp và bảo trì máy móc, thiết bị và hàng hóa vật
dụng.
7. Triển khai kế hoạch, thiết lập và duy trì các mối quan hệ
hiệu quả với cộng đồng và các chương trình tăng cường sự hiểu biết với
cộng đồng.
8. Giữ gìn đầy đủ và chính xác các tư liệu hoạt động của cơ
sở và lập báo cáo đều đặn.
9. Lượng giá liên tục chương trình hoạt động vànhân sự, kế hoạch và tổ chức
nghiên cứu khảo sát.
2.3.4. Chức năng của quản trị công tác xã hội
1. Là phương tiện giải quyết các nhu cầu xã hội được nhận diện thông qua
các dịch vụ xã hội công hoặc tư.
2. Đó là hành động xã hội để cải tiến hoặc đưa ra các dịch vụ mới đáp ứng
nhu cầu của các nhóm thân chủ cụ thể hay của một cộng đồng.
3. Đó là việc ra quyết định ở mọi cấp quản trị.
16
2.3.5. Tiến trình của Quản trị Công tác xã hội
Trecker xác định những yếu tố chung quan trọng của tiến trình quản trị công
tác xã hội.
1. Quản trị là một tiến trình liên tục, năng động
Quản trị công tác xã hội là một tiến trình liên tục, năng động. Khi nói quản trị
CTXH là một tiến trình điều đó có nghĩa là nó cũng bao gồm các bước, các giai
đoạn có mối liên hệ với nhau một cách chặt chẽ. Tiến trình đó bao gồm các bước
liên tục có nghĩa là không lúc nào khi thực hiện các hoạt động chuyên môn trong
CTXH và không ở đâu trong tất cả các cơ sở xã hội không cần có hoạt động quản
trị. Thực tiễn trong quản trị nói chung và quản trị CTXH nói riêng là rất đa dạng và
phức tạp, luôn vận động và biến đổi không ngừng. Đặc biệt, đối với các cơ sở xã hội
5. Hàm ý trong định nghĩa là những yếu tốt hoạch định, tổ chức và lãnh đạo.
Hoạch định: là việc xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lược tổng
thể để đạt được mục tiêu và thiết lập hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt
động. Công việc hoạch định liên quan nhiều đến dự báo, tiên liệu cho tương lai,
những mục tiêu cần đạt được và những phương thức để đạt được mục tiêu đó. Nếu
công tác lập kế hoạch không tốt thì rất dễ dẫn đến thất bại trong quản trị.
Tổ chức: là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân sự
cho một tổ chức. Công việc này bao gồm việc xác định các công việc phải làm, xây
dựng các bộ phận, phân công nhiệm vụ và phối hợp các hoạt động giữa các bộ phận,
thiết lập quyền lực. Hoạt động tổ chức tốt sẽ tạo nên môi trường nội bộ thuận lợi,
thúc đẩy hoạt động đạt mục tiêu. Ngược lại, tổ chức kém thì mục tiêu sẽ không thể
đạt được dù hoạch định có tốt.
Lãnh đạo: là việc tìm hiểu những hành vi và động cơ của nhân viên, điều
khiển và hợp tác đồng thời giải quyết xung đột trong tổ chức.
III. AN SINH XÃ HỘI (ASXH)
1. Khái niệm An sinh xã hội (Social Security):
Điểm mốc đánh dấu sự hình thành an sinh xã hội là cuộc cách mạng công
nghiệp ở thế kỷ thứ XIX, cuộc cách mạng này đã khiến cuộc sống của người lao
động gắn chặt với thu nhập do bán sức lao động đem lại. Chính vì vậy những rủi ro
trong cuộc sống như ốm đau, tai nạn, thất nghiệp hoặc do tuổi già sức yếu v.v đã
trở thành mối lo ngại cho những người lao động. Trước những rủi ro, bất hạnh
thường xuyên xảy ra trong cuộc sống, một số nước đã khuyến khích các hoạt động
tương thân tương ái lẫn nhau, kêu gọi người lao động tự tiết kiệm phòng khi có biến
18
cố hoặc thực hiện trợ cấp đối với những người làm công ăn lương và thuật ngữ “an
sinh xã hội” đã ra đời.
Tuy nhiên ở mỗi nước lại sử dụng thuật ngữ này với các cách nói khác nhau
như: Bảo đảm xã hội, An toàn xã hội, Bảo trợ xã hội hoặc An sinh xã hội. Ở Việt
Nam, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã thống nhất
sử dụng thuật ngữ “An sinh xã hội”.
2. Bản chất và tính tất yếu khách quan của an sinh xã hội
Theo các khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy:
- ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình.
- Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng.
- Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước
những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập….
Như vậy, có thể nói, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập
và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua
các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội
và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Có thể thấy rõ bản chất của
ASXH từ những khía cạnh sau:
2.1. ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc
thừa nhận
Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó. Mục tiêu của
ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi
thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập
hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân
khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những
“rủi ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên
nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng
nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau.
ASXH, như đã nêu, có nội dung rất rộng lớn, nhưng tập trung vào ba vấn đề
chủ yếu:
- Thứ nhất, là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự bảo đảm, đó là sự BHXH. Có thể
nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH. Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt
động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH dựa trên sự
đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và
20
Nhà nước trong một số trường hợp. Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động
có được một khoản thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị
21
biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp mọi người
hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên.
2.3. ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân
tương ái của cộng đồng
Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để
ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người bất
hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã
hội phát triển lành mạnh.
2.3.1. ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội
Trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống
của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm
dân cư “yếu thế” trong xã hội. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân
phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai
chiều ngang và dọc. Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại
giữa những người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người
đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình. Một
bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn
bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác
định. Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ
những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối).
Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua
của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những
nhóm người “yếu thế”. Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ
thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận…)
hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng
như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…). Việc phân phối lại theo chiều
dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một “tập hợp mở” tương đối).
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc còn gặp
nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và tổ chức. Song cũng có thể có một số biện
triển. Tất nhiên, ASXH là một quá trình phát triển toàn diện, từ đơn giản đến phức
tạp và ngày càng phong phú, đa dạng.
3. Các bộ phận của ASXH
Về mặt cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm những bộ phận cơ bản là:
- Bảo hiểm xã hội: Là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. Bảo hiểm xã hội
23
thường được tài trợ từ nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động
và nhà nước. Đây là hình thức phân phối lại (mang tính xã hội) đặc trưng: đóng góp
không phụ thuộc vào rủi ro cá nhân mà phụ thuộc vào thu nhập/lương của cá nhân
đó (chia sẻ rủi ro). Bảo hiểm xã hội bao gồm:
+ Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động
và người sử dụng lao động buộc phải tham gia. Luật Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
(2006) quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm 5 chế độ: ốm đau, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất.
+ Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động
tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng (phù hợp với thu nhập
của người tham gia) để hưởng bảo hiểm xã hội. Luật Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
(2006) quy định bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm hai chế độ hưu trí và tử tuất.
+ Bảo hiểm y tế: Là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe nhằm đảm bảo chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh
cho người tham gia bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm y tế được hình thành từ đóng góp của
cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác. Người tham gia
bảo hiểm y tế được quỹ bảo hiểm y tế chi trả các chi phí: Khám bệnh, chữa bệnh,
phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con, khám bệnh để sáng lọc, chẩn đoán
sớm một số bệnh và vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên trong
trường hợp cấp cứu hoặc khi đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ
thuật.
- Trợ giúp xã hội: Là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà