72 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d Chơng II. - tỷ suất lợi nhuận 73
chơng II
tỷ suất lợi nhuận
Công thức chung của t bản là T - H - T' nghĩa là ngời ta
ném vào trong lu thông một lợng giá trị để rút từ trong lu
thông ra một lợng giá trị lớn hơn. Quá trình sản sinh ra lợng
giá trị lớn hơn ấy, chính là sản xuất t bản chủ nghĩa; quá
trình thực hiện lợng giá trị lớn hơn ấy, chính là lu thông của
t bản. Nhà t bản sản xuất hàng hóa không phải vì bản thân
hàng hóa, cũng không phải vì giá trị sử dụng của hàng hóa
hay vì sự tiêu dùng cá nhân của hắn. Sản phẩm mà nhà t bản
thật sự quan tâm đến không phải là bản thân cái sản phẩm
cụ thể, mà là phần giá trị dôi ra của sản phẩm so với giá trị
của t bản đ tiêu dùng để sản xuất ra nó. Nhà tã bản ứng trớc
toàn bộ t bản mà không chú ý đến tác dụng khác nhau của
các bộ phận cấu thành của t bản đó trong việc sản xuất ra giá
trị thặng d. Hắn ứng ra tất cả mọi bộ phận cấu thành ấy một
cách giống nhau nhằm mục đích không những là để tái sản
xuất số t bản đ ứng ra, mà là để sản xuất một giáã trị dôi ra so
với t bản ấy. Giá trị của t bản khả biến mà hắn ứng ra, hắn
chỉ có thể chuyển hóa thành một giá trị lớn hơn bằng cách
đem trao đổi lấy lao động sống, bằng cách bóc lột lao động
sống. Nhng hắn chỉ có thể bóc lột đợc lao động bằng cách đồng
thời cũng ứng luôn ra những điều kiện để thực hiện lao động
ấy: t liệu lao động và đối tợng lao động, máy móc và nguyên
liệu, nghĩa là bằng cách chuyển hóa một tổng số giá trị, mà
hắn có đợc thành những điều kiện sản xuất; cũng nh, nói
chung, sở dĩ hắn là nhà t bản, sở dĩ hắn có thể bắt tay vào
quá trình bóc lột lao động, chỉ vì với t cách là ngời
sở hữu những điều kiện lao động, hắn đối lập với công nhân là
ngời chỉ có sức lao động của mình mà thôi. ở trên, trong quyển
nh cũ, thì phải thu lại đợc những chi phí ấy.
Giá trị chứa đựng trong hàng hóa bằng thời gian lao động
72 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d Chơng II. - tỷ suất lợi nhuận 73
cần thiết để chế tạo ra hàng hóa đó, và tổng số thời gian lao
động này bao gồm lao động đợc trả công và lao động không đợc
trả công. Ngợc lại, đối với nhà t bản thì chi phí sản xuất hàng
hóa chỉ bao gồm bộ phận lao động đ vật hóa trong hàng hóaã
mà hắn đ trả công. Lao động thặng dã chứa đựng trong hàng
hóa không tổn phí gì cho nhà t bản cả, mặc dầu nó cũng làm
cho ngời công nhân phải tốn kém lao động nh phần lao động đ-
ợc trả công, và mặc dầu giống nh phần lao động đợc trả công
này, lao động thặng d cũng sáng tạo ra giá trị và nhập vào
hàng hóa với t cách là một yếu tố sáng tạo ra giá trị. Lợi
nhuận mà nhà t bản thu đợc là do chỗ hắn bán một cái mà hắn
đ không phải trả tiền. Giá trị thặng dã , resp
1*
lợi nhuận, chính
là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí sản
xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lợng lao động
chứa đựng trong hàng hóa so với số lợng lao động đợc trả công
chứa đựng trong hàng hóa. Nh vậy, dù cho nó bắt nguồn từ
đâu chăng nữa, giá trị thặng d cũng vẫn là một phần dôi ra so
với tổng t bản đ ứng trã ớc. Vậy tỷ số giữa phần dôi ra ấy với
tổng t bản biểu thị bằng phân số trong đó C chỉ tổng t bản.
Nh vậy chúng ta có tỷ suất lợi nhuận + khác với tỷ suất giá
trị thặng d .
Tỷ số giữa giá trị thặng d và t bản khả biến gọi là tỷ suất
giá trị thặng d; tỷ số giữa giá trị thặng d và tổng t bản gọi là
tỷ suất lợi nhuận. Đó là hai cách đo lờng khác nhau đối với
cùng một lợng, chúng biểu thị hai tỷ lệ hay hai tỷ số khác
hàng hóa cao hơn hay thấp hơn giá trị của nó, thì nh thế là
chỉ xảy ra một sự phân phối khác về giá trị thặng d thôi, mà
sự phân phối khác này, - tức là sự thay đổi cái tỷ số theo đó
những ngời khác nhau phân chia giá trị thặng d, - không hề
làm thay đổi lợng cũng nh bản chất của giá trị thặng d ấy.
Trong quá trình lu thông thật sự, không phải chỉ diễn ra
những sự chuyển hóa mà chúng ta đ nghiên cứu ở quyển II;ã
những sự chuyển hóa ấy ăn khớp với sự cạnh tranh thực tế,
với việc mua và bán các hàng hóa cao hơn hay thấp hơn giá
trị của chúng, thành thử đối với nhà t bản cá biệt, giá trị
thặng d mà bản thân hắn thực hiện đợc vừa do những sự lừa
bịp lẫn nhau, lại vừa do sự bóc lột trực tiếp lao động quyết
định.
72 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d Chơng II. - tỷ suất lợi nhuận 73
Trong quá trình lu thông, bên cạnh thời gian lao động còn
có thời gian lu thông, nó giới hạn khối lợng giá trị thặng d có
thể thực hiện đợc trong một khoảng thời gian nhất định.
Những nhân tố khác phát sinh từ lu thông, cũng có ảnh hởng
quyết định tới quá trình sản xuất trực tiếp. Cả hai quá trình
- quá trình sản xuất trực tiếp và quá trình lu thông - luôn
luôn chuyển hóa lẫn nhau, xâm nhập lẫn nhau, do đó cũng
không ngừng xóa mờ những sự khác biệt đặc thù giữa chúng
với nhau. Nh chúng tôi đ từng vạch ra, sự sản xuất ã ra giá trị
thặng d, cũng nh sự sản xuất ra giá trị nói chung, đều có
những tính quy định mới trong quá trình lu thông; t bản đi
qua cái vòng chuyển hóa của nó; cuối cùng, có thể nói là nó
chuyển từ đời sống hữu cơ nội tại của nó sang những điều
kiện tồn tại bên ngoài; bây giờ không phải là t bản và lao
động đối lập với nhau nữa, mà một mặt là t bản đối lập với t
bản, và mặt khác, là những cá nhân đối lập với nhau, chỉ đơn
nhiên mà ngay cả những nhà kinh tế học đơng thời nh Ram-
xây, Man-tút, Xê-ni-o, Tô-ren-xơ, v.v. đ đã a ra những hiện t-
ợng ấy của lu thông để chứng minh rằng t bản, - với sự tồn
tại thuần túy vật chất của nó, độc lập với những quan hệ xã
hội của nó đối với lao động, tức những quan hệ x hội đ ã ã làm
cho t bản trở thành t bản, - là một nguồn độc lập sinh ra giá
trị thặng d, tồn tại song song với lao động và độc lập với lao
động. Thứ hai, ở mục các chi phí, trong đó tiền công đ ợc xếp
cùng với giá cả nguyên liệu, tiền khấu hao máy móc, v.v., thì
hình nh sự bóp nặn lao động không công chỉ là một sự tiết
kiệm thực hiện đợc khi trả tiền cho một trong những khoản
cấu thành chi phí sản xuất ấy, chỉ là việc trả một số tiền ít
hơn cho một số lợng lao động nhất định: sự tiết kiệm ấy giống
nh sự tiết kiệm thực hiện đợc khi mua nguyên liệu rẻ tiền hay
giảm bớt sự hao mòn của máy móc. Nh vậy là sự bóp nặn lao
động thặng d đ mất tính chất đặc thù của nó; quan hệ đặcã
thù của nó với giá trị thặng d bị xóa mờ đi và việc biểu hiện
giá trị sức lao động dới hình thái tiền công đ làm cho việcã
bóp nặn ấy đợc thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều, nh chúng
ta đ vạch rõ trong "Tã bản", quyển I, phần thứ sáu
19
.
Vì tất cả các yếu tố của t bản đều cùng có vẻ là nguồn sinh
ra giá trị d (lợi nhuận), nên quan hệ t bản chủ nghĩa đ ã bị thần
72 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d Chơng II. - tỷ suất lợi nhuận 73
bí hóa.
Nhng cái cách đem giá trị thặng d chuyển hóa thành lợi
nhuận thông qua tỷ suất lợi nhuận, chỉ là sự phát triển của
việc đảo ngợc chủ đề và khách thể đ diễn ra ngay từ trongã
quá trình sản xuất. Ngay ở đấy chúng ta đ thấy tất cả mọiã
một số lợng lao động nhất định thực hiện thành hàng hóa, và do
đó muốn sáng tạo ra giá trị, thì cần phải có một số lợng vật liệu
lao động và t liệu lao động nhất định. Tùy theo tính chất đặc
thù của lao động bỏ thêm vào, mà hình thành một tỷ lệ kỹ thuật
nhất định giữa khối lợng lao động và khối lợng t liệu sản xuất
mà lao động sống ấy phải cộng thêm vào. Nh vậy, một tỷ lệ nhất
định lao động và khối lợng giữa khối lợng t liệu sản xuất mà lao
động sống ấy phải cộng thêm vào. Nh vậy, một tỷ lệ nhất định
cũng đợc hình thành giữa khối lợng giá trị thặng d hay lao động
thặng d và khối lợng t liệu sản xuất. Chẳng hạn, nếu lao động
cần thiết để sản xuất ra tiền công là sáu giờ mỗi ngày, thì công
nhân phải làm việc mời hai giờ, để làm ra sáu giờ lao động thặng
d và sản xuất ra một giá trị thặng d là 100%. Trong mời hai giờ
ấy, anh ta tiêu hao t liệu sản xuất nhiều gấp đôi so với sáu giờ.
Nhng việc đó hoàn toàn không lập nên một mối quan hệ trực tiếp
nào giữa giá trị thặng d mà anh ta thêm vào trong sáu giờ, với
giá trị của những t liệu sản xuất đ tiêu dùng trong sáu giờ ấy,ã
hay ngay cả trong mời hai giờ ấy. ở đây, giá trị ấy hoàn toàn
không quan trọng gì cả; chỉ có khối lợng cần thiết về mặt kỹ
thuật là cần chú ý thôi. Dù những nguyên liệu hay t liệu lao
động đắt hay rẻ, điều đó hoàn toàn không quan trọng, miễn là
những thứ đó có giá trị sử dụng cần thiết và có theo tỷ lệ mà
kỹ thuật đ quy định, so với lao động sống mà chúng phải thuã
hút. Nếu tôi biết rằng x pao bông đợc kéo thành sợi trong một
giờ và nếu số bông đó trị giá a si-linh, thì cố nhiên tôi cũng
biết đợc rằng trong mời hai giờ sẽ kéo đợc 12 x pao bông = 12
a si-linh, và lúc đó tôi có thể tính ra tỷ lệ giữa giá trị thặng
d với giá trị của 12 pao ấy, cũng nh với giá trị của 6. Nhng tỷ
lệ giữa lao động sống với giá trị của các t liệu sản xuất chỉ đợc
đa vào trong bài tính ấy trong chừng mực mà a si-linh dùng
còn biết tỷ số giữa số dôi ra ấy và giá trị của toàn bộ t bản, tức
là tỷ suất lợi nhuận. Việc tính toán số dôi ra ấy của giá bán
ngoài chi phí sản xuất, đem so với toàn bộ t bản đ ứng ra, làã
rất quan trọng và rất tự nhiên, vì nhờ thế ngời ta thực sự có
thể tìm ra đợc con số chỉ rõ cái tỷ lệ theo đó tổng t bản đ đã ợc
làm tăng thêm giá trị, hay cái mức độ tăng thêm giá trị của t
bản. Do đó, nếu xuất phát từ tỷ suất lợi nhuận ấy, ngời ta
tuyệt đối không thể tính đợc cái tỷ lệ đặc biệt giữa số dôi ra và
bộ phận t bản đ chi cho tiền công. Trong một chã ơng sau,
chúng ta sẽ thấy Man-tút đ làm một trò ảo thuật buồn cã ời đến
nh thế nào, khi ông ta muốn dùng con đờng ấy để tìm hiểu cái
bí mật của giá trị thặng d và quan hệ riêng của nó với bộ phận
khả biến của t bản
21
. Trái lại, bản thân tỷ suất lợi nhuận chỉ
ra rằng số dôi ra ấy vẫn nằm trong một tỷ lệ giống nhau đối
với những bộ phận bằng nhau của t bản; đứng về phơng diện
đó thì nói chung, t bản không có một sự khác nhau nội tại nào;
ngoài sự khác nhau giữa t bản cố định và t bản lu động. Và
ngay sự khác nhau ấy sở dĩ lộ rõ ra, thì cũng chỉ vì số dôi ra ấy
đợc tính bằng hai cách. Thứ nhất, đợc tính nh một lợng đơn
thuần: số dôi ra so với chi phí sản xuất. Trong cách tính thứ
nhất này, toàn bộ t bản lu động nằm trong chi phí sản xuất,
còn về t bản cố định thì chỉ có phần hao mòn là gia nhập chi
phí sản xuất mà thôi. Thứ hai, ngời ta tính tỷ lệ giữa phần giá
trị dôi ra ấy và toàn bộ giá trị của t bản ứng ra. ở đây, giá trị
của toàn bộ t bản cố định cũng nh giá trị của t bản lu động đều
đợc kể đến. Vậy là trong cả hai lần, t bản lu động đều đợc đa
vào một cách giống nhau, còn t bản cố định thì một lần đợc đa
vào giống nh t bản lu động, còn lần kia thì lại khác. Nh vậy, sự
thặng d bắt nguồn từ những đặc tính bí ẩn vốn có của bản
thân t bản.
Chúng ta càng theo dõi quá trình làm cho t bản tăng thêm
giá trị thì càng thấy quan hệ t bản chủ nghĩa bị thần bí hóa đi,
và bí mật của cơ cấu nội tại của nó càng trở nên khó hiểu.
Trong phần này, tỷ suất lợi nhuận khác với tỷ suất giá trị
thặng d về mặt biểu hiện bằng con số; trái lại, lợi nhuận và giá
trị thặng d đợc coi là những lợng giống hệt nh nhau về mặt số
lợng và chỉ khác nhau về hình thái mà thôi. Trong phần sau,
chúng ta sẽ thấy sự phân ranh giới còn đi xa hơn nữa, và lợi
nhuận biểu hiện ra thành một đại lợng khác với giá trị thặng
d, ngay cả về mặt số lợng.