CHƯƠNG III - QUAN HỆ GIỮA TỶ SUẤT LỢI NHUẬN VÀ TỶ SUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ - Pdf 16

Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
chơng III
quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận
và tỷ suất giá trị thặng d
Nh đã nói ở cuối chơng trên, ở đây, cũng nh nói chung
trong toàn bộ phần thứ nhất, chúng ta giả định rằng đối với
một t bản nhất định, tổng số lợi nhuận là bằng tổng số giá trị
thặng d nhờ có t bản ấy mà đã đợc sản xuất ra trong một thời
kỳ lu thông nhất định. Vậy bây giờ, chúng ta hãy tạm thời
không nói đến sự việc này là: một mặt, giá trị thặng d đó phân
ra thành các hình thái phái sinh: lợi tức của t bản, địa tô,
thuế, v.v., và mặt khác thì trong đa số trờng hợp, giá trị thặng
d đó tuyệt nhiên không nhất trí với lợi nhuận dới hình thái mà
lợi nhuận này thu đợc do tác dụng của tỷ suất lợi nhuận trung
bình chung, điều chúng ta sẽ bàn ở phần hai.
Nếu về mặt số lợng, lợi nhuận và giá trị thặng d là bằng
nhau, thì lợng của lợi nhuận và lợng của tỷ suất lợi nhuận đều
do những tỷ số giữa những số lợng giản đơn quyết định, -
những số lợng này là những số lợng đã biết hoặc là những số l-
ợng mà ngời ta có thể xác định đợc trong từng trờng hợp. Nh
vậy, sự nghiên cứu của chúng ta ngay từ đầu sẽ diễn ra trong
lĩnh vực thuần túy toán học.
Chúng ta sẽ giữ những quy ớc đã dùng trong các quyển I và II.
Toàn bộ t bản C chia ra thành t bản bất biến c và t bản khả
biến c và sản sinh ra một giá trị thặng d là m. Tỷ số giữa giá
trị thặng d ấy với t bản khả biến ứng trớc, tức là thì chúng
ta gọi là tỷ suất giá trị thặng d dùng ký hiệu m' để chỉ. Vậy
chúng ta có = m', do đó m = m'v. Nừu đem so giá trị thặng
d đó không phải với t bản khả biến nữa mà với toàn bộ t bản,
thì nó gọi là lợi nhuận (p) và tỷ số giữa giá trị thặng d m với
toàn bộ t bản C, tức gọi là tỷ suất lợi nhuận p'. Nh vậy chúng

chuyển của t bản khả biến trong một năm (xem "T bản"
quyển II, ch. XVI, 1), - Ph.Ă.}.
Thứ ba là, cần chú ý đến năng suất lao động, ảnh hởng của
nó đối với tỷ suất giá trị thặng d đã đợc nghiên cứu tỉ mỉ
trong "T bản" quyển I, phần IV. Nhng năng suất lao động còn
có thể ảnh hởng trực tiếp đến tỷ suất lợi nhuận, ít nhất là của
một t bản cá biệt, nếu t bản cá biệt đó hoạt động với một năng
suất cao hơn năng suất xã hội trung bình và cung cấp sản
phẩm với một giá trị ít hơn giá trị xã hội trung bình của cùng
một hàng hóa, do đó thực hiện đợc một lợi nhuận siêu ngạch,
nh đã phân tích ở quyển I, chơng X, tr. 280 - 284
22
. Nhng ở
đây chúng ta cha xét đến trờng hợp đó, vì trong phần này,
chúng ta vẫn còn xuất phát từ giả thiết cho rằng hàng hóa đ-
ợc sản xuất trong những điều kiện xã hội bình thờng và bán
theo đúng giá trị của chúng. Vậy trong mỗi trờng hợp riêng
biệt, chúng ta sẽ xuất phát từ giả thiết cho rằng năng suất
lao động không thay đổi. Thật vậy, cấu thành giá trị của một
Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
t bản đầu t vào trong một ngành công nghiệp, nghĩa là một tỷ
lệ nhất định giữa t bản bất biến và t bản khả biến, bao giờ
cũng biểu hiện một trình độ nhất định của năng suất lao
động. Do đó, nếu tỷ lệ đó có một sự biến đổi, gây nên không
phải do sự thay đổi giản đơn về giá trị của những bộ phận cấu
thành vật chất của t bản bất biến hoặc do sự biến đổi của tiền
công, thì năng suất lao động cũng tất nhiên phải thay đổi. Và,
bởi vậy, chúng ta thờng có thể nhận thấy rằng những sự thay
đổi diễn ra với các nhân tố c, v và m đồng thời cũng nói lên
những sự thay đổi của năng suất lao động.

một cách khác: v hạ xuống 12, còn m thì bằng số còn lại là 28.
Vậy chúng ta có:
80c + 12v + 28m; m' = 233%, p' = = 30
10
/
23
%.
Nh vậy, chúng ta thấy rằng kéo dài ngày lao động (hay
tăng cờng độ lao động) cũng nh giảm bớt tiền công, đều làm
tăng khối lợng giá trị thặng d và do đó, làm tăng tỷ suất giá
trị thặng d; ngợc lại, nếu mọi nhân tố khác không thay đổi,
việc tăng tiền công sẽ làm giảm tỷ suất giá trị thặng d xuống.
Vậy nếu v tăng lên do tiền công tăng lên, thì điều đó chỉ có
nghĩa là số lợng lao động ấy đợc trả đắt hơn, chứ không phải
là số lợng lao động lớn hơn lên; m' và p' không tăng lên mà
giảm suống.
ở đây, ngời ta đã thấy đợc rằng những sự biến đổi của
ngày lao động, của cờng độ lao động và của tiền công không
thể gây ra sự thay đổi đồng thời của v và của m và của tỷ lệ
giữa c và m, tức là của p', tỷ lệ giữa m với tổng t bản c + v; và
cũng rõ ràng rằng mọi sự biến đổi của tỷ lệ giữa m và v cũng
đều có nghĩa là đã có một sự thay đổi ít nhất là của một trong
ba điều kiện lao động đã nói ở trên.
Chính ở đây biểu hiện rõ mối quan hệ hữu cơ đặc biệt của
t bản khả biến với sự vận động của tổng t bản và với việc tăng
thêm giá trị của tổng t bản, cũng nh biểu hiện rõ sự khác
nhau giữa t bản khả biến và t bản bất biến. Về phơng diện
sáng tạo ra giá trị, t bản bất biến sở dĩ trọng yếu chỉ là vì cái
giá trị mà nó có; và đối với việc sáng tạo ra giá trị, một t bản
bất biến 1500 p.xt. đại biểu cho 1 500 tấn sắt theo giá 1 p.xt.

suất lợi nhuận: p' = m' trên kia vào các trờng hợp khác nhau
có thể có đợc. Chúng ta sẽ lần lợt thay đổi trị số của từng
thừa số một trong các thừa số của m' và xác định ảnh hởng
của những sự thay đổi đó đối với tỷ suất lợi nhuận. Nh vậy
chúng ta sẽ có đợc nhiều loạt trờng hợp khác nhau mà chúng
ta có thể coi là những biến đổi liên tiếp của những điều kiện
hoạt động của cùng một t bản, hoặc là những t bản khác
nhau, tồn tại cạnh nhau, đợc dùng để so sánh, ví dụ nh t bản
trong các ngành công nghiệp khác nhau hay các nớc khác
nhau. Do đó, nếu trong những ví dụ của chúng tôi về những
trạng thái liên tiếp nhau của cùng một t bản, có một số ví dụ
có vẻ nh là gợng ép hoặc không thể có trong thực tiễn đợc, thì
lời bác bẻ đó sẽ không có hiệu lực khi chúng ta so sánh những
t bản độc lập.
Vậy chúng ta hãy phân tích số m' ra thành hai thừa số
của nó là m' và ; trớc hết, hãy giả dụ m' không thay đổi và
hãy nghiên cứu ảnh hởng của những sự thay đổi có thể có của
; sau đó, chúng ta sẽ giả dụ phân số là không thay đổi và sẽ
cho m' tất cả những sự thay đổi có thể có; cuối cùng chúng ta
sẽ giả dụ rằng tất cả các thừa số đều thay đổi, và nh vậy là
chúng ta nêu ra đợc hết tất cả mọi trờng hợp mà từ đó có thể
rút ra đợc những quy luật của tỷ suất lợi nhuận.
I. m' đứng nguyên, thay đổi
Về trờng hợp này, trờng hợp bao gồm nhiều trờng hợp cá
biệt, chúng ta có thể xác lập đợc một công thức chung. Nếu
chúng ta có hai t bản C và C
1
, với những yếu tố khả biến là v
và v
1

một công thức thứ hai nữa bằng cách biến chúng thành
những tỷ lệ:
p' : p'
1
= m' : m' = : .
Vì một phân số không thay đổi trị số khi ngời ta nhân hoặc
chia tử số và mẫu số với cùng một số, nên chúng tôi có thể
đổi và thành phần trăm, nghĩa là giả dụ C và C
1
= 100.
Nh vậy chúng ta có = và = , và trong tỷ lệ trên đây, chúng ta
có thể gạt bỏ các mẫu số; chúng ta có:
p' : p'
1
= v : v
1
; hay là:
Nếu lấy bất cứ hai t bản nào đó hoạt động với cùng một tỷ
suất giá trị thặng d, thì tỷ lệ giữa các tỷ suất lợi nhuận cũng
giống nh tỷ lệ giữa những bộ phận khả biến của các t bản đó,
những bộ phận khả biến này tính theo tỷ lệ phần trăm với
những tổng t bản tơng ứng.
Hai công thức ấy bao gồm tất cả những trờng hợp thay đổi
của .
Trớc khi nghiên cứu riêng từng trờng hợp đó, chúng ta còn
nhận xét thêm một điểm nữa. Vì C là tổng số của c và v, t bản
bất biến cộng với t bản khả biến, và vì tỷ suất giá trị thặng d
cũng nh tỷ suất lợi nhuận thờng đợc biểu hiện bằng phần
trăm, nên nói chung là tiện lợi nếu giả dụ rằng tổng số c + v
cũng bằng 100, nghĩa là biểu hiện c và v bằng phần trăm.

quy lại một điểm là những sự biến đổi đó đã xảy ra nh thế
nào: 80c + 20v đổi thành 90c + 10v là do t bản bất biến đã
tăng lên, còn t bản khả biến vẫn y nguyên, do đó 12 000c + 3
000 v đã biến thành 27 000c + 3 000 v (tính theo phần trăm
là 90c + 10v); hay chúng đã khoác hình thức ấy là do t bản
khả biến giảm xuống trong khi t bản bất biến vẫn y nguyên,
nghĩa là bằng cách chuyển thành 12 000c + 1 333
1
/
3
v (tính
theo phần trăm vẫn là 90c + 10v); hay cuối cùng, là do sự biến
đổi của cả hai số hạng, ví dụ: 1 3 500c + 1 500v (tính theo
phần trăm vẫn là 90c + 10v). Chúng ta sẽ lần lợt nghiên cứu
chính những trờng hợp đó, và bởi vậy chúng ta sẽ không sử
dụng những tiện lợi của phơng pháp quy thành phần trăm,
hoặc chỉ dùng phơng pháp đó vào hàng thứ yếu.
1. m' và C đứng nguyên, v thay đổi
Khi v thay đổi về lợng, C chỉ có thể vẫn đứng nguyên trong
trờng hợp bộ phận cấu thành kia của C, tức t bản bất biến c,
thay đổi theo cùng một số nh v, nhng theo chiều ngợc lại. Nếu
lúc đầu C = 80c + 20v = 100, và nếu sau đó, v sụt xuống 10,
thì C chỉ có thể vẫn y nguyên bằng 100, nếu c tăng lên thành
90; tức là 90c + 10v = 100. Nói chung, nếu biến v thành v

d,
thành v tăng thêm hoặc giảm bớt với một số bằng d, thì muốn
thỏa mãn các điều kiện của trờng hợp đang nghiên cứu, c
phải biến thành c


I. 15 000C = 12 000c + 3 000v (+ 3 000m), còn hiện nay là:
II. 15 000C = 13 000c + 2 000v (+ 2 000m), thì trong cả hai
trờng hợp C = 15 000 và m' = 100%, và tỷ suất lợi nhuận của I,
tức 20%, so với tỷ suất lợi nhuận của II, tức 13
1
/
3
%, cũng nh
t bản khả biến của I, 3 000, so với t bản khả biến của II, 2
000. Thật vậy, 20% : 13
1
/
3
% = 3 000 : 2 000.
T bản khả biến có thể tăng lên hay giảm xuống. Trớc hết,
chúng ta hãy lấy một ví dụ trong đó t bản khả biến tăng lên.
Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
Ví dụ một t bản lúc đầu đợc cấu thành và vận động nh sau:
I. 100c + 20v + 10m; C = 120, m' = 50%, p' = 8
1
/
2
%.
Giả dụ bây giờ t bản khả biến tăng lên thành 30; theo giả
thiết của chúng ta, để cho toàn bộ t bản vẫn y nguyên là 120
nh trớc thì t bản bất biến phải giảm từ 100 xuống 90. Với một
tỷ suất giá trị thặng d nh cũ là 50%, thì giá trị thặng d đợc
sản xuất ra phải lên tới 15. Vậy chúng ta có:
II. 90c + 30v + 15m; C = 120, m' = 50%, p' = 12
1

những t liệu sản xuất ít hơn hoặc ít giá trị hơn là trong trờng
hợp kia.
Nhng nếu chúng ta gạt giả thiết cho rằng tiền công vẫn y
nguyên nh cũ, và nếu chúng ta giải thích rằng sở dĩ t bản khả
biến tăng lên từ 20 thành 30 là vì tiền công đã tăng gấp rỡi,
thì đấy lại là một trờng hợp hoàn toàn khác. Một số lợng công
nhân nh cũ - giả thử là 20 - vẫn tiếp tục lao động với một số t
liệu sản xuất nh trớc kia hoặc ít hơn một chút không đáng kể.
Nếu ngày lao động vẫn không thay đổi, mời giờ chẳng hạn, thì
tổng sản phẩm - giá trị cũng không thay đổi: giờ đây cũng nh
trớc kia, nó vẫn là 30. Nhng 30 đó sẽ đợc dùng tất cả để bù lại
số t bản khả biến đã ứng trớc là 30; nh vậy giá trị thặng d sẽ
không có nữa. Nhng chúng ta đã giả thiết là tỷ suất giá trị
thặng d vẫn y nguyên không thay đổi, tức là vẫn = 50%, nh
trong trờng hợp I. Muốn thế, chỉ có cách là kéo dài thêm ngày
lao động lên gấp rỡi, tăng ngày lao động lên thành 15 giờ. Lúc
đó, 20 công nhân trong 15 giờ sẽ sản xuất đợc một tổng giá trị
là 45, và tất thảy các điều kiện của giả thiết đều sẽ đợc tôn
trọng:
II. 90c + 30v + 15m; C = 120, m' = 50%, p' = 12
1
/
2
%.
Trong trờng hợp này, 20 công nhân ấy không đòi t liệu lao
động, công cụ, máy móc, v.v., nhiều hơn trong trờng hợp I. Chỉ
có nguyên liệu hay vật liệu phụ là phải tăng lên gấp rỡi. Tr-
ờng hợp giá cả những thứ đó hạ xuống, thì việc chuyển từ tr-
ờng hợp I sang trờng hợp II, theo nh giả thiết của chúng ta,
đứng về mặt kinh tế mà nói, là rất có thể đợc, ngay cả đối với

kia:
100c + 20v + 10m; m' = 50%, p' = 8
1
/
3
%.
Cố nhiên không cần nói thêm rằng trong thực tiễn, không có
tình trạng rút bớt thời gian lao động nh thế, khi mà tiền công
giảm xuống. Vả lại điều đó không quan hệ gì. Tỷ suất lợi nhuận
là một hàm số của nhiều biến số và, nếu chúng ta muốn biết
ảnh hởng của những biến số đó đối với tỷ suất lợi nhuận, thì
chúng ta phải tuần tự nghiên cứu ảnh hởng riêng của từng số
một, chẳng kể về mặt kinh tế, một ảnh hởng tách riêng ra nh
thế có thể có đợc hay không đối với cùng một t bản.
2. m đứng nguyên, v biến đổi, C thay đổi do
sự biến đổi của v
Trờng hợp này chỉ khác trờng hợp trên về mức độ. Đáng lẽ c
giảm xuống hoặc tăng lên đúng theo chừng mực mà v tăng lên
hoặc giảm xuống, thì lần này, c lại vẫn y nguyên không thay
đổi. Nhng trong những điều kiện hiện nay của đại công nghiệp
và của nông nghiệp, thì t bản khả biến chỉ là một phần tơng
đối nhỏ bé của toàn bộ t bản và do đó, sự giảm bớt hay sự tăng
lên của toàn bộ t bản cũng đều tơng đối nhỏ, nếu sự giảm bớt
hay sự tăng lên đó là do những thay đổi của t bản khả biến
quyết định. Nếu chúng ta lại một lần nữa xuất phát từ một t
bản:
I. 100c + 20v + 10m; C = 120, m' = 50%, p' = 8
1
/
3

và, nếu bỏ những thừa số chung ở hai vế, ta có tỷ lệ sau đây:
p'
1
: p' = C : C
1
;
với cùng một tỷ suất giá trị thặng d ngang nhau và cùng một
bộ phận khả biến ngang nhau của t bản, thì tỷ suất lợi nhuận
tỷ lệ nghịch với tổng t bản.
Nếu chúng ta có ba t bản, hay ba cấu tạo khác nhau của
cùng một t bản, ví dụ nh:
I. 80c + 20v + 20m; C = 100, m' = 100%, p' = 20%;
II. 100c + 20v + 20m; C = 120, m' = 100%, p' = 16
2
/
3
%;
III. 60c + 20v + 20m; C = 80, m' = 100%, p' = 25%.
thì chúng ta có những tỷ lệ sau đây:
20% : 16
2
/
3
% = 120 : 100 và 20% : 25% = 80 : 100.
Công thức chung trên đây về những sự biến đổi của khi m'
đứng nguyên không thay đổi, là:
p'
1
= m' ;
bây giờ nó biến thành:

lợi nhuận, và mặt khác, giải phóng đợc một số t bản, cho nên
nó quan trọng đối với nhà t bản. Sau này
1*
chúng ta sẽ nghiên
cứu tỉ mỉ hơn về điểm đó, cũng nh về ảnh hởng những sự thay
đổi giá cả của các yếu tố của t bản bất biến, nhất là nguyên
liệu.
ở đây, một lần nữa chúng ta nhận thấy rằng, sự thay đổi
của t bản bất biến ảnh hởng giống nh nhau đến tỷ suất lợi
nhuận, dù sự thay đổi đó là do sự tăng lên hay sự giảm xuống
của những bộ phận cấu thành vật chất của c gây nên, hoặc do
một sự thay đổi giản đơn của giá trị của chúng gây nên.
4. m' đứng nguyên v, c và C đều thay đổi
Trong trờng hợp này, công thức chung xác lập ở trên kia về
tỷ suất lợi nhuận, thay đổi, vẫn có giá trị:
p'
1
= m' .
Do đó, ta có thể rút ra kết luận rằng, với cùng một tỷ suất giá
trị thặng d thì:
a) Tỷ suất lợi nhuận giảm đi khi E lớn hơn e, nghĩa là khi
1
* Xem tập này, ch. V và ch. VI.
t bản bất biến tăng lên đến mức là tổng t bản tăng lên theo
một tỷ lệ mạnh hơn t bản khả biến. Nếu một t bản gồm 80c
+ 20v + 20m chuyển hóa thành 170c + 30v + 30m, thì m' vẫn
là = 100%, nhng sụt từ xuống thành , mặc dầu cả v lẫn c đều
đã tăng lên và do đó, tỷ suất lợi nhuận chuyển từ 20% xuống
15%.
b) Tỷ suất lợi nhuận vẫn y nguyên không thay đổi khi e = E,

thặng d không thay đổi, mà đã lên đến 23
1
/
13
%.
Chúng ta cũng có thể lại quy thành một trờng hợp giản
Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
đơn hơn, ngay cả khi lợng v và C thay đổi ngợc chiều nhau.
Nếu chúng ta vẫn xuất phát từ ví dụ 80c + 20v + 20m và cố
chuyển sang hình thức 110c + 10v + 10m chẳng hạn; nếu có
chuyển hóa thành 40c + 10v + 10m, tỷ suất lợi nhuận sẽ
giống hệt nh tỷ suất ban đầu, tức là 20%. Thêm 70c vào hình
thức trung gian ấy, tỷ suất lợi nhuận sẽ tụt xuống thành
8
1
/
3
%. Vậy một lần nữa, chúng ta đã lại quy trờng hợp này
thành trờng hợp trong đó chỉ có một nhân tố là biến đổi, ở đây
chính là c.
Nh vậy, sự thay đổi đồng thời của v, c và C không đem lại
một quan điểm mới nào khác, và phân tích đến cùng thì bao
giờ nó cũng dẫn đến trờng hợp trong đó chỉ có một nhân tố là
biến đổi thôi.
Ngay cả trờng hợp duy nhất còn lại trên thực tế cũng đã đ-
ợc nghiên cứu cặn kẽ, tức là trờng hợp trong đó v và C vẫn giữ
nguyên con số nh cũ, nhng lại có sự thay đổi về giá trị của các
yếu tố vật chất của chúng, trờng hợp trong đó v biểu hiện một
sự thay đổi trong số lợng lao động đợc vận dụng và c biểu
hiện một sự thay đổi trong số lợng t liệu sản xuất đợc đa vào

dùng để trả công đợc cho 30 công nhân, thì m' chỉ có thể đứng
nguyên không thay đổi với điều kiện là phải rút ngắn ngày
lao động từ 10 giờ xuống 6
2
/
3
giờ; 10 x 20 = 6
2
/
3
x 30 = 200 giờ
lao động.
Trong chừng mực nào, mà trên cơ sở những giả thiết trái
ngợc nhau ấy, giá trị của c, biểu hiện bằng tiền, có thể vẫn y
nguyên nh cũ, nhng lại đại biểu cho một số lợng t liệu sản xuất
đã thay đổi thích hợp với sự thay đổi của các điều kiện, - điều
đó về căn bản đã đợc nghiên cứu ở trên. Trờng hợp này, dới
hình thái thuần túy của nó, chỉ có thể diễn ra nh là một trờng
hợp hoàn toàn ngoại lệ mà thôi.
Còn sự thay đổi giá trị của những yếu tố của c, - sự thay
đổi làm cho khối lợng của riêng từng yếu tố đó tăng lên hay
giảm xuống, nhng không làm thay đổi tổng số giá trị của
chúng, tức là c, - nếu nó không làm cho lợng của v thay đổi,
thì không ảnh hởng đến tỷ suất lợi nhuận, lẫn tỷ suất giá trị
thặng d.
Nh vậy, chúng ta đã nghiên cứu hết tất cả những trờng
hợp thay đổi có thể có đợc của v, c và C trong phơng trình của
chúng ta. Chúng ta đã thấy rằng với một tỷ suất giá trị
thặng d không thay đổi, tỷ suất lợi nhuận có thể giảm xuống,
giữ y nguyên hay tăng lên, vì chỉ cần một sự thay đổi nhỏ

chỉ những trị số đã thay đổi của p',
m', v và C, thì từ đó chúng ta sẽ có đợc một công thức chung
của các tỷ suất lợi nhuận cho những tỷ suất giá trị thặng d
khác nhau, dù vẫn đứng nguyên hay thay đổi. Nh vậy chúng
Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
ta có:
p' : p
1
= m' : m'
1
,
do đó:
p'
1
= x x x p'.
1. m' thay đổi, đứng nguyên
Trong trờng hợp này, chúng ta có các phơng trình:
p' = m' ; p'
1
= m'
1
,
trong những phơng trình đó, có cùng một lợng. Do đó, ta có tỷ
lệ:
p' : p'
1
= m' : m'
1
.
Các tỷ suất lợi nhuận của hai t bản có cấu tạo nh nhau tỷ lệ

khác nhau.
Thứ nhất, nếu tiền công khác nhau, do đó, nếu 20v trong
mỗi trờng hợp biểu hiện một số lợng công nhân khác nhau.
Giả dụ ở I có 15 công nhân, làm việc 10 giờ, với tiền công là
1
1
/
3
p.xt., và sản xuất đợc một giá trị là 30p.xt., trong đó
20p.xt. bù lại tiền công và 10p.xt. còn lại là giá trị thặng d.
Nếu tiền công sụt xuống còn 1p.xt., ngời ta có thể mớn 20
công nhân làm việc trong 10 giờ, và nh vậy họ sẽ sản xuất đợc
một giá trị là 40p.xt., trong đó 20p.xt. cho tiền công và 20p.xt.
giá trị thặng d. Nếu tiền công lại sụt xuống còn
2
/
3
p.xt., thì có
thể thuê 30 công nhân làm việc 10 giờ; và họ sẽ sản xuất đợc
một giá trị là 60p.xt., sau khi đã trừ đi 20p.xt. tiền công, thì
còn lại 40p.xt. là giá trị thặng d.
Trờng hợp này, - trờng hợp mà cấu tạo t bản tính theo
phần trăm không thay đổi, ngày lao động và cờng độ lao động
đều không thay đổi, và sự thay đổi của tỷ suất giá trị thặng
d là do sự thay đổi của tiền công gây nên, - là trờng hợp độc
nhất chứng minh đợc cho luận điểm của Ri-các-đô:
"Lợi nhuận sẽ cao hay thấp đúng theo tiền công thấp hay cao". ("Principles
of Political Economy etc.", ch. I, sec. III, p. 18. "Works of D. Ricardo", ed. by
Mac Culloch, 1852).
Hoặc là, thứ hai, nếu cờng độ lao động khác nhau. Khi đó, 20 công nhân

.
Các tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ với nhau nh các khối lợng giá
trị thặng d tơng ứng.
Tỷ suất giá trị thặng d thay đổi khi t bản khả biến không
thay đổi có nghĩa là lợng và sự phân phối giá trị mới sản xuất
ra thay đổi. v và m' thay đổi cùng một lúc bao giờ cũng có
nghĩa là sự phân phối giá trị mới sản xuất ra đã thay đổi
khác đi, nhng không phải bao giờ cũng có nghĩa là lợng của
giá trị mới sản xuất ra thay đổi. Có thể có ba trờng hợp:
a) v và m' biến đổi ngợc chiều nhau, nhng theo một lợng
giống nhau, ví dụ:
80c + 20v + 10m; m' = 50%, p' = 10%.
90c + 10v + 20m; m' = 200%, p' = 20%.
Trong cả hai trờng hợp, giá trị mới sản xuất ra đều giống
nhau, do đó lợng lao động cung cấp đợc cũng giống nhau; 20v
+ 10m = 10v + 20m = 30. Chỉ có sự khác nhau là trong trờng
hợp thứ nhất, ngời ta trả tiền công là 20 và còn lại 10 là giá
trị thặng d, còn trong trờng hợp thứ hai, tiền công chỉ là 10,
do đó giá trị thặng d tăng lên thành 20. Đó là trờng hợp duy
nhất trong đó v và m' thay đổi cùng một lúc, nhng số công
nhân, cờng độ lao động và độ dài của ngày lao động vẫn
không thay đổi.
b) m' và v vẫn thay đổi ngợc chiều nhau nh trớc, nhng
không phải theo một lợng giống nhau nữa. Hoặc v, hoặc m'
thay đổi theo một lợng lớn hơn.
I. 80c + 20v + 20m; m' = 100%, p' = 20%
II. 72c + 28v + 20m; m' = 71
3
/
7

80c + 20v + 20m; m' = 100%, p' = 20%
80c + 20v + 10m; m' = 50%, p' = 10%
100% : 50% = 20% : 10%.
2) p' tăng hay giảm theo một tỷ lệ lớn hơn so với m', nếu
thay đổi cùng chiều với m', nghĩa là tăng lên hay giảm xuống
khi m'tăng lên hay giảm xuống.
80c + 20v + 10m; m' = 50%, p' = 10%
70c + 30v + 20m; m' = 66
2
/
3
%, p' = 20%
50% : 66
2
/
3
% < 10% : 20%.
3) p' tăng lên hay giảm xuống theo một tỷ lệ nhỏ hơn so với
Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
m', nếu thay đổi ngợc chiều với m', nhng theo một tỷ lệ nhỏ
hơn so với m':
80c + 20v + 10m; m' = 50%, p' = 10%
90c + 10v + 15m; m' = 150%, p' = 15%
50% : 150% > 10% : 15%.
4) p' tăng lên, mặc dù m' hạ xuống, hoặc p' hạ xuống mặc dù
m' tăng lên, nếu thay đổi ngợc chiều với m'và theo một tỷ lệ lớn
hơn so với m':
80c + 20v + 20m; m' = 100%, p' = 20%
90c + 10v + 15m; m' = 150%, p' = 15%,
m' đã chuyển từ 100% lên 150%, p' đã sụt từ 20% lên 15%.

tiền công, lại có một sự thay đổi trong năng suất lao động, đòi
hỏi phải có một sự thay đổi nh thế trong cấu thành của t bản;
hoặc nữa là, nếu giá trị bằng tiền của t bản bất biến tăng từ
80 lên thành 104; tóm lại, nếu có một sự trùng hợp ngẫu
nhiên của nhiều điều kiện khác mà họa hoằn lắm ta mới
thấy. Trong thực tế, một sự thay đổi của m' mà lại không
đồng thời làm cho v và do đó, làm cho thay đổi, chỉ có thể có
đợc trong những điều kiện hoàn toàn xác định, cụ thể là trong
những ngành công nghiệp mà ở đó ngời ta chỉ dùng t bản cố
định và lao động, còn đối tợng lao động là do thiên nhiên cung
cấp.
Nhng, nếu so sánh các tỷ suất lợi nhuận của hai nớc, thì
không nh thế. ở đây, cũng một tỷ suất lợi nhuận nh nhau
thực tế phần lớn lại biểu hiện những tỷ suất giá trị thặng d
khác nhau.
Từ tất cả năm trờng hợp đã nghiên cứu trên đây, ta có thể
rút ra kết luận này: một tỷ suất lợi nhuận tăng lên có thể đi
đôi với một tỷ suất giá trị thặng d giảm xuống hoặc tăng lên;
một tỷ suất lợi nhuận giảm xuống có thể đi đôi với một tỷ
suất giá trị thặng d tăng lên hoặc giảm xuống; một tỷ suất lợi
nhuận không thay đổi có thể đi đôi với một tỷ suất giá trị
thặng d tăng lên hoặc giảm xuống. Chúng ta đã thấy ở trờng
hợp I rằng, một tỷ suất lợi nhuận tăng lên, giảm xuống hay
đứng nguyên ở mức cũ, cũng có thể đi đôi với một tỷ suất giá
trị thặng d không thay đổi.
Vậy, tỷ suất lợi nhuận do hai nhân tố chủ yếu quyết định:
tỷ suất giá trị thặng d và cấu tạo giá trị của t bản. Có thể tóm
tắt nh sau ảnh hởng của hai nhân tố đó, hơn nữa ta có thể
Chơng III. - quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận 114 115 phần thứ nhất. - sự chuyển hóa giá trị thặng d
biểu hiện cấu tạo của t bản dới hình thức phần trăm, vì ở đây,

.
10) Ngoài ra, trong bản thảo còn có những con tính rất tỉ mỉ về hiệu số
giữa tỷ suất giá trị thặng d và tỷ suất lợi nhuận (m' - p'); hiệu số này có
những đặc điểm nhiều hình nhiều vẻ rất đáng chú ý, và sự vận động của
hiệu số đó chỉ rõ những trờng hợp trong đó hai tỷ suất tách xa nhau hoặc
xích lại gần nhau. Những sự vận động đó có thể miêu tả bằng những đ ờng
biểu diễn. Tôi không đa những tài liệu đó vào đây, vì những tài liệu đó
không quan trọng lắm đối với mục đích trực tiếp của quyển sách này. ở
đây chỉ cần lu ý những độc giả nào muốn nghiên cứu vấn đề đó sâu hơn. -
Ph.Ă.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status