PHÚ THỌ
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI:
1. Vị trí địa lý:
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, có vị trí trung tâm vùng, là cửa
ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, trên trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh
(Trung Quốc), là cầu nối vùng Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Phú Thọ tiếp giáp với thành phố Hà Nội theo hướng Tây Nam và tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng
Đông Nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km, cách cửa khẩu Lào Cai và cửa khẩu Thanh
Thuỷ - Hà Giang hơn 200km, cách cảng Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km, là nơi
hợp lưu của 3 con sông lớn: Sông Hồng, sông Đà và sông Lô.
2. Diện tích, đất đai: Diện tích đất tự nhiên 3.532 km
2
, trong đó diện tích đất nông
nghiệp là 97.610 ha, đất rừng là 195.000 ha với 64.064 ha rừng tự nhiên, đất mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản là 10.000 ha, các loại đất khác là 19.299 ha.
3. Địa hình, khí hậu:
- Địa hình: Chia thành 2 tiểu vùng chủ yếu:
+ Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của tỉnh, chủ yếu thuộc các huyện Thanh
Sơn, Yên Lập, phía Tây huyện Cẩm Khê, giao lưu với các nơi khác. Ở đây còn nhiều tiềm
năng phát triển nhất là về lâm nghiệp, khai thác khoáng sản.
+ Tiểu vùng đồi gò thấp, xen kẽ đồng ruộng, dải đồng bằng ven các triền sông Hồng.
sông Lô và Sông Đà Đây là vùng thuận lợi cho việc trồng các loại cây nguyên liệu giấy, cây
công nghiệp dài ngày như chè, cây ăn quả, phát triển lương thực, chăn nuôi, nuôi trông thuỷ
sản, Phát triển công nghiệp
- Khí hậu: Tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng
năm khoảng 23
0
C, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.700 mm. Độ ẩm trung bình
năm khoảng 86%. Khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển cây trồng, vật nuôi nhất
là cây dài ngày và gia súc.
4 . Dân số, lao động:
các cảng hàng không, cảng biển để xuất khẩu.
III. THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Thành tựu phát triển kinh tế xã hội:
Trong 5 năm (2001-2005), tỉnh Phú Thọ đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 9,79%
/năm; tăng trưởng GDP bình quân 3 năm (2006-2008) đạt 10,9%, dự kiến năm 2009 đạt 7,5-
8,5% ; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2008 đạt 12 triệu đồng.
Cơ cấu kinh tế năm 2008 Công nghiệp - xây dựng: 38,7%, Nông- Lâm nghiệp: 26%,
Dịch vụ: 35,3%; Dự kiến năm 2009 tương ứng 40-41%, 24-25%, 35-36%.
Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp giai đoạn 2001- 2005 tăng 8,1%/năm, năm 2008 tăng
3,9%, dự kiến năm 2009 tăng 4,4 - 4,5% ; năm 2010 tăng khoảng 5%.
Sản lượng lương thực năm 2008 đạt 421,4 ngàn tấn, lương thực bình quân đầu người
313 kg, tăng 9,6% so với năm 2007, dự kiến năm 2009 đạt 432 triệu tấn bình quân đầu người
321 kg.
Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2001-2005 tăng 14,3%/năm, năm 2008 tăng 16`
%, dự kiến năm 2009 tăng 8 – 8,5% ; năm 2010 tăng khoảng 16,7 – 17,5 %.
Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 12,1%/năm, năm 2008
tăng 15,1%, dự kiến năm 2009 tăng 14,5 đến 15% ; năm 2010 tăng khoảng 15,5 – 16,5 %.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 267,1 triệu USD, tăng 21% so với năm
2007, dự kiến năm 2009 đạt 260 triệu USD ; năm 2010 đạt khoảng 300 – 320 triệu USD.
Huy động vốn đầu tư phát triển năm 2008 đạt 5.700 tỷ đồng, tăng 12% so với năm
2007, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,2%, dự kiến năm 2009 đạt 6000 - 7000
tỷ đồng.
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008 trên địa bàn đạt 1.165,8 tỷ đồng, tăng 10,6%
so năm 2007, dự kiến năm 2009 đạt trên 1.250-1.300 tỷ đồng , tăng 11,1% so với năm 2008 ;
năm 2010 đạt khoảng 1400 – 1500 tỷ đồng.
Năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,6% xuống còn bình quân toàn tỉnh 17,4%. Tổ chức
đào tạo nghề trên 20,8 ngàn người. Giải quyết việc làm cho 18 ngàn người, trong đó tạo được
10,8 ngàn chỗ làm mới; xuất khẩu lao động trên 3 ngàn người.
Kết cấu hạ tầng được đầu tư và phát triển, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm
đó vốn ODA 1.733,917 tỷ đồng, vốn đối ứng 461,137 tỷ đồng. Bình quân hàng năm giải
ngân đầu tư từ 300-350 tỷ đồng; Dự kiến năm 2010 thu hút khoảng 120- 150 triệu USD. Các
dự án ODA được thu hút tập chung ở các lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, điện,
cấp nước, thuỷ lợi, y tế giáo dục và xoá đói giảm nghèo. Đối tác tài trợ ODA tập chung ở các
nguồn vốn JICA Nhật Bản, ngân hàng Châu Á (ADB), ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng
Hàn Quốc, NaUy.VV
Các dự án đầu tư tỉnh ngoài: Đã có 29 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đầu
tư tổng vốn đầu tư đăng ký 8.628 tỷ đồng. Ngoài ra, đã có nhiều dự án quy mô vốn lớn thuộc
các lĩnh vực đầu tư hạ tầng KCN, CCN, khu đô thị, khu du lịch đô thị cao cấp, sinh thái,
nước khoáng và chế biến sâu quặng, công nghiệp, cơ khí, điện tử.vv… đã có nhiều nhà đầu
tư đến trao đổi hoặc ký biên bản ghi nhớ, thoả thuận đầu tư. Trong tương lai sẽ có nhiều dự
án đầu tư tỉnh ngoài đầu tư vào tỉnh, hầu hết các dự án đều có quy mô vốn đầu tư lớn ở mức
hàng ngàn tỷ đồng.
IV. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐẾN 2020:
1. Các chỉ tiêu về kinh tế:
- Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm: 11,5%-12%/năm.
- GDP bình quân đầu người đến năm 2020: Trên 3.000USD/người.
- Đến năm 2010, Phú Thọ thoát khỏi tỉnh nghèo.
- Đến năm 2020 Phú Thọ cơ bản đạt được các tiêu chí của một tỉnh công nghiệp.
- Cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Giai đoạn
2006 -2010, cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp xây dựng tăng lên đạt khoảng 45 - 46%, dịch vụ 35 -
36%, nông lâm nghiệp 19 - 20 %; giai đoạn 2011 - 2020 cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp xây
dưng 49 - 51%, dịch vụ 40 - 41%, nông lâm nghiệp 9 - 10%.
- Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 300 - 320 triệu USD và tối thiểu đạt 500 - 520 triệu
USD vào năm 2020.
- Huy động vốn đầu tư toàn xã hội cả thời kỳ 2006 - 2020 đạt 124 - 125 nghìn tỷ đồng, bình
quân 12 ngàn tỷ đồng/năm.
- Thu ngân sách trên địa bàn đến năm 2010 chiếm 11,5-12% và năm 2020 đạt khoảng
17-18% GDP.
2. Các chỉ tiêu về xã hội:
- Chè chế biến: 35 ngàn tấn
- Phân bón, hoá chất :2.500 ngàn tấn.
/>