Chương 2: Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật
1. Lịch sử phép biện chứng
Tư tưởng biện chứng đã hình thành ngay từ khi triết học ra đời. Trong quá
trình phát triển, phép biện chứng có ba hình thức cơ bản là phép biện chứng chất
phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.
1.1. Phép biện chứng chất phác
Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển,
nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan,
cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới. Phép biện chứng chất phác thể
hiện rõ rệt trong “thuyết Âm - Dương”, “thuyết Ngũ - hành” của triết học Trung
hoa cổ đại, trong các hệ thống triết học của các nhà triết học Hy lạp cổ đại và triết
học Ấn độ cổ đại. Giá trị của phép biện chứng chất phác thể hiện ở ý nghĩa vô thần,
chống lại những quan điểm tôn giáo. Song phép biện chứng này thiếu những căn
cứ khoa học nên đã bị phép siêu hình xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XV thay thế.
1.2. Phép biện chứng duy tâm khách quan
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỉ
XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Thời kì này, khoa học đã đạt được những thành tựu
xuất sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Những thành tựu khoa học đó là cơ sở để
đi tới những khái quát mới về nội dung phép biện chứng.
Đại diện tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm là Hêghen. Ông là người đầu
tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm với một hệ thống khái niệm,
phạm trù và quy luật cơ bản. Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen
thể hiện ở chỗ : Ông coi “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, và trong quá trình vận
động phát triển, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội; cuối cùng
lại trở về với chính mình trong tinh thần tuyệt đối. Sai lầm của phép biện chứng
duy tâm khách quan của Hêghen là ở chỗ ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản
1
sinh ra biện chứng của sự vật. Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan, thiếu
triệt để, thiếu khoa học.
1.3. Phép biện chứng duy vật
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà khoa học trước đó, dựa trên
một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối quan hệ với nhau và mối liên
hệ rất đa dạng phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng
chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng hạn giới vô cơ và giới hữu cơ không có mối liên hệ gì
với nhau, tồn tại độc lập không thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những
con người riêng lẻ tạo thành xã hội đứng yên không vận động
Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện
tượng và các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua
lại, chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng hạn, bão từ diễn ra trên mặt trời sẽ tác động đến từ
trường của trái đất và do đó tác động đến mọi sự vật, trong đó có con người; sự gia
tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế, xã hội, giáo dục y tế.v.v; môi
trường ảnh hưởng to lớn đến con người không chỉ trong một nước mà trên toàn thế
giới và ngược lại, hoạt động của con người cũng tác động, ảnh hưởng làm biến đổi
môi trường.
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng cái
quyết định mối quan hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng là một
lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay do ý thức cảm giác của con người. Đứng
trên quan điểm duy tâm chủ quan, Bécơli cho rằng cảm giác là nền tảng của mối
liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Hêghen xuất phát từ lập trường duy tâm khách
quan lại vạch ra rằng “ý niệm tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật
hiện tượng.
3
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất
vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vât và hiện tượng. Các sự
vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao
nhiêu, song chúng dều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất,
thống nhất- thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại
biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo
những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó triết học duy vật biện chứng khẳng
định rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định sự tác động qua
lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự
nghèo, môi trường sinh thái, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chiến tranh và hoà
bình.v.v.
Thứ hai , mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt tuỳ theo điều
kiện nhất định. Song dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối
liên hệ phổ biến nhất, chung nhất những hình thức liên hệ riêng rẽ, cụ thể, được các
nhà khoa học cụ thể nghiên cứu. Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu những
mối quan hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới. Bởi thế, Ph.Ănghen viết:
“Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”.
Thứ ba, nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới còn
nhìn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó. Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân
chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp: mối liên hệ bên trong và mối liên
hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu; mối liên hệ bản chất và
mối liên hệ không bản chất; mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên; mối
liên hệ chung bao quát toàn thế giới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực
hoặc một số lĩnh vực của thế giới; mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp;
mối liên hệ giữa các sự vật và mối liên hệ giữa các mặt hay giữa các giai đoạn phát
5
triển của một sự vật để tạo thành lịch sử phát triển của sự vật.v.v. Chính tính đa
dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân sự vật và hiện
tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ.Vì vậy, trong một sự vật có thể bao
gồm rất nhiều loại mối liên hệ chứ không phải chỉ có một cặp mối liên hệ xác định.
Chẳng hạn, mỗi cá nhân trong một tập thể nhất định vừa có mối liên hệ bên trong,
vừa có mối liên hệ bên ngoài, vừa có mối liên hệ bản chất, vừa có mối liên hệ
không bản chất, vừa có mối liên hệ trực tiếp vừa có mối liên hệ gián tiếp
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận động
và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định,
sự chuyển hoá lẫn nhau của các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối
liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Mối liên hệ này không
giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật. Nó thường phải thông
qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đến sự tồn tại, sự vận động và phát
quan điểm siêu hình coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì trong quá
trình tồn tại của chúng. Sự vật ra đời với những chất như thế nào thì toàn bộ quá
trình tồn tại của nó vẫn được giữ nguyên, hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất
thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra trong một vòng khép kín. Họ cũng coi sự phát
triển chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại mà sự vật đang có chứ không có
sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo quan điêm siêu
hình còn xem sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục không có những bước
quanh co, thăng trầm, phức tạp.
Quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp
đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái
mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển
7
diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm
chí có thể có những bước lùi tạm thời.
Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần
dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc.
Điều đó có nghĩa là quá trình phát triển dường như sự vật ấy quay trở về điểm khởi
đầu song trên cơ sở mới cao hơn .
Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về
nguồn gốc của sự phát triển, khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản
thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định. Nói cách khác, đó là
quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó cũng là quá
trình tự thân của mọi sự vật. Trái lại, những người theo quan điểm duy tâm hay
quan điểm tôn giáo lại thường tìm nguồn gốc của sự phát triển ở thần linh, Thượng
đế, các lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức của con người .
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện
thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển là một phạm trù triết
học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
Theo quan điểm này, sự phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói
sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng,
ý chí, ý thức con người. Dù con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát
triển theo khuynh hướng chung nhất của thế giới vật chất.
Sự phát triển mang tính phổ biến vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã
hội và tư duy, ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan. Ngay cả các
khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và
phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của tư duy cũng luôn phát triển. Chỉ trên
9
cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các
phạm trù mới có thể phản ánh đúng hiện thực luôn vận động và phát triển.
Ngoài tính khách quan và tính phổ biến, sự phát triển còn có tính đa dạng phong
phú. Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện
tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn
tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau. Đồng thời trong quá trình phát
triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các hiện tượng khác, của rất nhiều
yếu tố khác. Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật,
đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng của phát triển của sự vật, thậm chí làm cho
sự vật thụt lùi. Chẳng hạn, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn
trí tuệ so với trẻ em ở thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả,
những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Hay trong thời đại hiện nay, thời
gian công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của các quốc gia chậm phát triển và
kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã thực hiện chúng do được
thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước. Song vấn đề còn ở
chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại phụ thuộc
rất nhiều vào các nhà lãnh đạo và nhân đân của các nước chậm phát triển và kém
phát triển.
Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật hiện tượng có thể có những
giai đoạn vận động đi lên như thế này hoặc như thế khác nhưng xem xét toàn bộ
quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh hướng chung.
4. Nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ
chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải
chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời chúng ta
11
phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động
nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất
nước ta; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc
tế hoá mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hoá kinh tế đưa lại.
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong
nhận thức và hoạt động của bản thân chúng ta phải có quan điểm phát triển. Điều
đó có nghĩa là khi xem xét bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong
sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng.
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự
vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải
thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi.
Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến
đổi chính của sự vật.
Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình
phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra phương
pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh
hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có hại
đối với đời sống của con người. Sinh viên là những người đang trong quá trình
phát triển về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách cho nên
thời kì này phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, làm nền tảng cho sự
phát triển tiếp tục trong tương lai.
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta. Nếu chúng ta tuyệt
đối hoá nhận thức, nhất là nhận thức khoa học về sự vật hay hiện tượng nào đó thì
các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn sẽ không thể phát triển và thực
tiễn sẽ dậm chân tại chỗ. Chính vì thế, chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ
quan, thông qua các giác quan của con người. Giai đoạn này, nhận thức được thực
hiện qua ba hình thức cơ bản là: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
- Cảm giác là hình thức đầu tiên, đơn giản nhất của nhận thức cảm tính, là sự
phản ánh những mặt, những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng một cách
trực tiếp. Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nó là cơ sở hình
thành nên tri giác.
- Tri giác là sự phản ánh tương đối toàn vẹn của con người về những biểu hiện
của sự vật khách quan, cụ thể, cảm tính, được hình thành trên cơ sở liên kết, tổng
hợp những cảm giác về sự vật. So với cảm giác, tri giác là hình thức nhận thức cao
hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật, nhưng đó vẫn chỉ là sự phản ánh đối
với những biểu hiện bề ngoài của sự vật khách quan, chưa phản ánh được cái bản
chất, quy luật khách quan.
- Biểu tượng là sự tái hiện hình ảnh về sự vật khách quan vốn đã được phản
ánh bởi cảm giác và tri giác; nó là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất
của giai đoạn nhận thức cảm tính, đồng thời nó cũng chính là bước quá độ từ giai
đoạn nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính.
b. Tư duy trừu tượng (Nhận thức lý tính): là giai đoạn cao của quá trình nhân
thức, là sự phản ánh gián tiếp các sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan.
Nhận thức lý tính được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là: khái niệm,
phán đoán và suy lý (suy luận).
- Khái niệm là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, phản ánh những đặc
tính bản chất của sự vật, là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc
điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp các sự vật, là cơ sở hình thành nên những
phán đoán.
14
- Phán đoán là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, được hình thành thông
qua việc liên kết các khái niệm với nhau theo phương thức khẳng định hay phủ
định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng nhận thức.
Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được chia làm ba loại là
phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù và phán đoán phổ biến. Phán đoán phổ biến
thức nhất thiết phái trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn, làm thước
đo tính chân thực của những tri thức đã đạt được trong quá trình nhận thức. Mặt
khác, mọi nhận thức, suy đến cùng đều là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và trở lại
phục vụ.
- Quy luật chung, có tính chu kỳ (lặp đi lặp lại) của quá trình vận động, phát
triển của nhận thức là từ thực tiễn đến nhận thức - từ nhận thức trở về với thực tiễn
- từ thực tiễn tiếp tục quá trình phát triển nhận thức v.v Thực tiễn vừa là điểm
xuất phát, vừa là điểm kết thúc một chu trình nhận thức. Qua trình này lặp đi lặp
lại, không có điểm dừng cuối cùng, trình độ của nhận thức và thực tiễn ở chu kỳ
sau thường cao hơn chu kỳ trước, nhờ đó mà quá trình nhận thức đạt dần tới những
tri thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc hơn về thực tại khách quan. Đây cũng chính là
quan điểm về tính tương đối của nhận thức con trong quá trình phản ánh thực tế
khách quan.
Sự vận động của quy luật chung trong quá trình vận động phát triển nhận thức
chính là quá trình con người, loài người ngày càng tiến dần tới chân lý.
16