NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC DIỆT
CỎ (2,4D) VÀ TÁC DỤNG HẠ HUYẾT ÁP CỦA DỊCH CHIẾT LÁ CHÈ
ĐẮNG TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
Nhóm sinh viên: Nông Phúc Thắng (báo cáo viên),
Nông Thị Tự, Bùi Hải Nam,
Nguyễn Quốc Thịnh
Người hướng dẫn: TS. Nông Thanh Sơn,
TS. Phan Văn Các,
Ths. Đỗ Minh Thanh
Đặt vấn đề
Hiện nay các thuốc diệt cỏ, trừ sâu đang được sử dụng một cách rộng rãi trong dân
chúng. Số người tiếp xúc với thuốc diệt cỏ trừ sâu ngày càng cao gây cho nhiều người
bị suy giảm sức khoẻ, nhiễm độc cấp tính hoặc mạn tính thậm chí có nhiều vụ nhiễm
độc chết người. Vì vậy việc phòng chống nhiễm độc đối với những người tiếp xúc
đang là vấn đề cần quan tâm. Mặt khác tỷ lệ bệnh cao huyết áp ngày nay cũng đang là
vấn đề sức khoẻ cộng đồng cần chú trọng. Do đó việc nghiên cứu để tìm kiếm các loại
thảo dược có tác dụng phòng chống độc, hạ huyết áp cần được chú ý nghiên cứu.
Chè đắng tiếng Tày gọi là ché khôm, tên la tinh là Ilex Kaushue S.y.hu (Nguyễn Tiến
Bân) là cây có nhiều ở hai huyện Thạch An và Hạ Lang tỉnh Cao Bằng. Trong dân
gian người ta dùng lá cây chè đắng uống thay chè có tác dụng thanh nhiệt, giải độc,
điều hoà huyết áp. Lá chè đắng còn được dùng chữa bệnh lỵ, sốt nóng, đau đầu, đau
răng, đau mắt, ăn không ngon. Uống chè đắng thường xuyên có tác dụng làm trí óc
minh mẫn, lợi tiểu, giúp tiêu hoá tốt và kéo dài tuổi thọ. Theo tài liệu của Trung Quốc
đây là loài chè thuốc nổi tiếng ở Quảng Tây được dùng để làm quà biếu các quan
chức cao cấp thời phong kiến.
Với những công dụng của cây chè đắng như vậy liệu chè đắng ở vùng Cao Bằng được
nhân dân trồng phát triển có tác dụng phòng chống độc, hạ huyết áp hay không, chúng
tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:
1. Đánh giá độc tính (LD50) của dịch chiết lá chè đắng (Ilexkaushue S.Y.HU).
2. Thử nghiệm tác dụng của dịch chiết lá chè đắng đối với nhiễm độc 2,4D trên
động vật thực nghiệm.
4.3. Cholesterol chuẩn.
5. Cỡ mẫu
- Chuột nhắt trắng: 80 con được chia làm 8 nhóm mỗi nhóm 10 con để nghiên cứu độc
tính. 45 con chia làm 5 nhóm để thử nghiệm cholesterol theo phương pháp RAOSD.
- Thỏ 28 con chia làm 5 nhóm.
- Chó 10 con được phân chia làm 4 nhóm theo liều tăng dần.
Các động vật trên được chọn vào các nhóm thử nghiệm theo phương pháp ngẫu nhiên
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm có đối chứng song song
6.2. Kỹ thuật tiến hành:
Động vật nuôi 5 ngày trước khi tiến hành thử nghiệm, phân nhóm ngẫu nhiên, các
nhóm dùng thuốc vào thời điểm sáng 9h-10h, chiều 15h - 16h. Lấy máu xét nghiệm
trước và sau thực nghiệm.
6.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
Theo dõi cân nặng bằng cân Robervan cân hàng ngày
Theo dõi số lượng sống chết hàng ngày
Theo dõi lông, ăn uống, các hoạt động
Lấy máu xét nghiệm:
Tỷ lệ huyết sắc tố
Số lượng hồng cầu
Công thức bạch cầu
Xét nghiệm chức năng gan (SGOT, SGPT).
Đo trên máy Cobas Micro của hãng Eurotinue của Pháp.
Gây hạ huyết áp thực nghiệm, theo dõi huyết áp từ trước, sau dùng thuốc 15', 20', 30',
60', 90', 120' theo dõi các diễn biến của huyết áp bằng máy ghi tự động.
- Xét nghiệm cholesterol máu sau 30 ngày cho uống cholesterol và dịch chiết đo trên
máy sinh hoá tự động Expluss của hãng Ciron.
7. Xử lý số liệu
Tính tỷ lệ %: x 100
Trong đó: a là tần xuất xuất hiện sự kiện nghiên cứu
6 1,9 ? 0,19 2,11 ?
0,24
+ 10 > 0,05
3 Nhóm tiêm 2,4D 10 1,86 ? 0,1 1,70 ?
0,14
- 9 > 0,05
4 Nhóm uống chè + tiêm 2,4D 6 1,93 ?
0,16
1,79 ?
0,11
- 6 > 0,05
Nhận xét:
- Cân nặng ở nhóm sử dụng 2,4D có giảm 9%.
- Nhóm sử dụng chè + 2,4D giảm 6%.
3.2.2. Biến đổi huyết học ở các nhóm thử nghiệm
Bảng 2. Sự biến đổi hemoglobin (g/l) của thỏ thực nghiệm.
STT
Nhóm Số
thỏ
TN
Trước Sau % thay
đổi
p
1 Nhóm chứng sinh học 6 10,7 ?
1,69
10,5 ? 0,4 0 > 0,05
2 Nhóm uống dịch chiết chè
đắng
6 10,8 ?
đắng
6 35,9 ? 11,1 36,1 ? 8,4 0 >
0,05
3 Nhóm tiêm 2,4D 10 31,0 ? 5,30 36,6 ? 5,11 + 18 <
0,05
4 Nhóm uống chè + tiêm 2,4D 6 35,2 ? 4,5 32,1 ? 7,5 - 9 >
0,05
p p>0,05 p>0,05
Nhận xét:
- Chè đắng không làm thay đổi tỉ lệ bạch cầu đa nhân.
- 2,4D làm tăng 18% bạch cầu đa nhân có ý nghĩa.
- Chè đắng + 2,4D làm giảm 9% bạch cầu đa nhân nghĩa là hạn chế được 20% sự tác
động của 2,4D đối với bạch cầu đa nhân.
Bảng 4. Sự biến đổi bạch cầu lympho (%) của thỏ
STT
Nhóm Số
thỏ
TN
Trước Sau % thay
đổi
p
1 Nhóm chứng sinh học 6 52,2 ? 8,5 56,2 ? 3,6 + 7 >
0,05
2 Nhóm uống dịch chiết chè
đắng
6 54,8 ?
10,1
50,8 ? 9,7 - 8 >
0,05
1 Nhóm chứng sinh học 6 35 ? 9,89 32,5 ? 20,5 - 10 >
0,05
2 Nhóm uống dịch chiết chè
đắng
6 33,5 ? 12,5
29,33 ?
16,5
- 13 >
0,05
3 Nhóm tiêm 2,4D 10 46 ? 13 15,5 ? 6,36 - 67 <
0,05
4 Nhóm uống chè + tiêm 2,4D 6 45,8 ? 11 31,7 ? 4,9 - 31 <
0,05
p p>0,05 p
3, 4
< 0,01
Nhận xét:
- ở nhóm chứng và sử dụng chè làm giảm men gan chưa có ý nghĩa (p > 0,05).
- Nhóm 2,4D làm giảm men gan rõ rệt.
- Khi dùng chè phối hợp làm hạn chế được khoảng 36% sự tác động của 2,4D đối với
SGOT.
Bảng 6. Sự biến đổi men SGPT (UI/l/37
0
C).
STT
Nhóm Số
thỏ
TN
khi sử
dụng
thuốc
15' 30' 60' 90' 120'
0,5g/kg 2
70 ?
7,07
68 ? 0
-2,8%
65 ?
7,67
-7,1%
65 ?
7,67
-7,1%
65 ?
7,67
-7,1%
65 ?
7,67
-7,1%
0,75g/kg 2
66 ?
5,85
62,5 ?
10,58
-5,3%
62,5 ?
10,58
-5,3%
Dịch
chiết
lá chè
đắng
1,25g/kg 3
68,33
?
11,93
64 ?
13,85
-6,33%
64 ?
13,22
-
12,19%
56 ?
13,85
-
18,04%
53 ?
13,22
-
22,43%
50,33 ?
10,8
-
26,34%
- ở các cháu đều thấy có sự hạ huyết áp, nhất là nhóm dùng liều 1 - 1,25g, huyết áp
giảm dần và ổn định kéo dài.
69,11 ?
31,41
64,57 ?
22,89
% tăng Cho 210,56% 161,84% 126,8 % 103,8% 100%
% Cho bị ức
chế
-48,62% -83,76% -106,76%
Mức ý nghĩa p< 0,05 p< 0,01 p < 0,01
- Dịch chiết là chè đắng có tác dụng hạ Cholesterol rõ rệt. Sự ức chế khá cao ở nhóm
sử dụng 2 g/kg.
Bàn luận
1. Vấn đề phòng chống tác hại đối với các thành phần huyết học khi bị nhiễm độc
2,4D.
Qua thử nghiệm thấy tác dụng của dịch chiết chè đắng làm cho thỏ thực nghiệm giảm
bớt khoảng 20% so với nhóm chỉ dùng 2,4D về các dấu hiệu lông xù, rụng, kém ăn,
hoạt động chậm chạp v.v Các dấu hiệu này chúng tôi theo dõi hàng ngày và đánh
giá theo cách chấm điểm từ 1điểm - 5điểm. Kết quả đã chứng tỏ chè đắng có tác dụng
hạn chế sự độc hại của 2,4D. Cơ chế của vấn đề này chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu.
Tuy nhiên do 2,4D là chất độc toàn thân, nên có thể dịch chiết chè đắng có tác dụng
giống như chất khử gốc tự do bởi các Plavonoit là thành phần thường có trong hầu hết
các cây thực vật.
Kết quả cho thấy chè đắng không có khả năng phục hồi về hồng cầu, lượng Hb dưới
tác động của 2,4D. Điều đó chứng tỏ chè không có hoạt chất bổ máu hoặc tác dụng
đối kháng 2,4D. Về tác động tới bạch cầu thì số liệu của chúng tôi cho thấy dịch chiết
chè đắng làm giảm tác hại của 2,4D xuống 27%. Đặc biệt vấn đề suy giảm bạch cầu
lympho ở nhóm gây độc 2,4D giảm mạnh (47%) so với ban đầu có ý nghĩa, nhưng khi
được sử dụng chè đắng cùng 2,4D thì tình trạng giảm bạch cầu lympho được cải thiện
khoảng 36%, nghĩa là giảm bớt sự tác động của 2,4D đối với bạch cầu đa nhân và
4. Về tác dụng hạ Cholesterol:
* So với lô V (lô uống Cholesterol đơn thuần) thì nồng độ Cholesterol máu tăng ở lô I
là 110,5 %, lô II tăng 61,85%, lô III tăng 26,8%, lô IV tăng 3,8%. Với liều 1g/kg ức
chế sự tăng Cholesterol máu ở chuột uống Cholesterol hàng ngày tới gần 83,7%, với
liều 2g/kg khả năng ức chế sự tăng cholesterol còn cao hơn nữa, tới 106,7%, trong khi
ở lô uống thuốc đối chứng (uống acid Nicotinic) chỉ ức chế được 48,66%. Kết quả
này cho thấy dịch chiết lá chè đắng có tác dụng ức chế mạnh sự tăng Cholesterol máu,
mức độ hạ Cholesterol phụ thuộc vào liều lượng thuốc.
* So với tác dụng hạ Cholesterol máu chuột của hai loài Curcuma ở miền Bắc Việt
Nam [4].
+ Đối với Curcuma harmandii (liều 20g/kg/ngày) ức chế được sự tăng Cholesterol
máu ở chuột ăn Cholesterol hàng ngày là 42,4%.
+ Đối với Curcuma tricosantha (liều 20g/kg/ngày) ức chế được sự tăng Cholesterol
máu chuột ăn Cholesterol hàng ngày là 73,84%.
Như vậy kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy dịch chiết lá chè đắng có tác
dụng làm giảm Cholesterol máu rõ rệt so với thuốc đối chứng (axit Nicotinic), và cả
hai loài Curcuma ở miền Bắc Việt Nam.
Kết luận và đề nghị
Kết luận
Qua kết quả và bàn luận trên chúng tôi có một số kết luận sau:
1. Dịch chiết chè đắng không độc đối với chuột thực nghiệm, qua đường uống không
tính được liều LD
50
.
2. Dịch chiết chè đắng có khả năng giảm được 20 - 40% sự tác động của 2,4D tới
dòng bạch cầu, nhất là bạch cầu đa nhân và bạch cầu lympho.
3. Dịch chiết chè đắng có khả năng giảm bớt 36% sự tác hại của 2,4D tới men SGOT.
4. Dịch chiết chè đắng có tác dụng làm hạ huyết áp từ từ và tương đối ổn định sau khi
dùng thuốc từ 15 phút đến 120 phút. Liều càng tăng càng có tác dụng hạ huyết áp
mạnh.
Phân loại thuốc trừ cỏ dại. Trung tâm kiểm định thuốc bảo vệ thực vật phía Bắc. Tr:
45 - 64.
9. Trần Đức Phấn, Trịnh Văn Bảo, Vũ Văn Đính.
Những biến đổi nhiễm sắc thể ở người ngộ độc cấp há chất trừ sâu photpho hữu cơ.
Tạp chí di truyền và ứng dụng, 1996. Tr: 2, 39 - 44.
10. Đào Ngọc Phong, Nguyễn Duy Thiết, Trần Như Nguyên.
Độc chất học nghề nghiệp và nhiễm độc nghề nghiệp. Giáo trình đào tạo lại. Hà Nội,
1994. Tr: 112 - 136.
11. Purchas IFH, et al.
2,4 - Dichlorophenoxyaxetie acid (2,4D). Atla 1987. Vol. 14. No3 - p. 213-214.
12. Nguyễn Văn Uyển.
Phân bón lá và các chất kích thích sinh trưởng. NXB Nông nghiệp - Thành phố hồ chí
Minh, 1995. Tr: 55 - 61.
13. Nông Thanh Sơn, Nguyễn Ngọc Anh, Nông Thị Tự, Viên Thị Dung.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hoá chất diệt cỏ 2,4D trên động vật thực nghiệm . Thông
báo khoa học Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội, 1999. Tr: 77-83.
14. Hoàng Thị Sèn, Nguyễn Thị Thanh Hương.
Kết quả bước đầu di thực cây chè đắng từ Cao Bằng về Thái Nguyên. Tạp chí Khoa
học và công nghệ - Đại học Thái Nguyên. Số 1/2001. Tr: 30-33.
15. Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thanh.
Chất điều hoà sinh trưởng đối với cây trồng. NXB Nông nghiệp, 1993. Tr: 5 - 82.
16. Võ Đình Vinh.
Vlianhie 2,4 dichlorophenoxyurxuxnoi kixlotu (2,4D) na renxkie gametui
embrionalnoe razvichie u krux prizatravke xamok do beremennox Avtorepherat
Dixertaxina xoixka ahieutrenoi Xchepenhe kandidata medixinxkixnauk. Leningrad,
1991. 18.
17. Lê Lương Đống, Vũ Nam, Trần Thuý, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Việt.
Bước đầu đánh giá tác dụng hạ HA của lá kiến cỏ trên lâm sàng.
(Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học tập 3 - Hà Nội 1995 Tr16-21).
chè đắng, cơ chế như tác dụng hạ huyết áp, tác dụng chống gốc tự do trong cơ
thể.vv